Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

CAO NHƯ ĐỈNH THÁI - KIM HÀI (Chương I)

Chương 01


Trời mùa Đông rét lạnh thấu xương. Mưa phùn từng đợt châm chích thịt da, với từng cơn gió cóng người. Bé Tơ thức dậy cùng lúc với mùi thơm của xôi, của mè sực nức khứu giác.
- Thôi dậy đi con gái của mẹ, sáng rồi.
- Hôm nay chủ nhật mà mẹ. Ai nấu xôi thơm quá mẹ nhỉ ?
- Gớm, con gái tôi chỉ nghĩ đến ăn thôi. Con nhớ hôm nay là ngày gì không ? Ngày mẹ sinh con ra đấy. Người ta gọi là ngày sinh nhật. Dậy đi con, sáng nay đặc biệt mẹ nấu xôi.

Bé Tơ nhỏm người dậy thật mau. Giá rét chỉ làm bé cong người lại một tí thôi. Ngày sinh nhật của bé đây mà, có xôi. Hình như lâu lắm rồi Tơ chưa được ăn xôi. Buổi sáng nào cũng cơm nguội với nước mắm. Ước gì ngày nào cũng là sinh nhật nhỉ. Một chút nhớ thoáng qua mơ hồ. Bé buột miệng :
- Mẹ ơi, hồi lâu lắm rồi ba hứa về mua cho con đồ chơi, mua bánh, mua kẹo cho con sao bữa nay mà ba cũng chưa về hả mẹ ? Con nhớ ba quá hà !

Bà Bản im lặng, mặt dàu dàu. Bà làm sao giải thích cho con hiểu là ông Bản đã đi không về nữa. Từ khi ra đi, ông biệt tích luôn với chiếc tàu chở hàng. Bây giờ bà cũng không hiểu là ông còn sống hay ông đã chết. Lâu quá rồi. Một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, ba trăm sáu mươi lăm ngày mòn mỏi. Nhưng những lời dặn dò, những câu hứa hẹn, an ủi, khuyên can ngày nào trước lúc lên đường, bà còn nhớ rõ mồn một. Hôm ấy, một đêm trời tháng tám.


***


Tết Trung Thu đã qua. Trăng hạ tuần lu mờ. Giòng sông Ngân cũng mờ nhạt vắt ngang trời. Ông Bản hôn lên trán con rồi cầm tay bà Bản nói :
- Tôi chỉ đi một lần này thôi. Tôi hứa với bà vậy. Không phải tôi ham gì tiền bạc. Nhưng bà xem đó, gia đình mình nghèo quá. Mà con của chúng mình đã đến tuổi phải có sách có vở để học hành, phải ăn uống đầy đủ để lớn lên… Tôi cực chẳng đã… Thôi, một lần thôi…

Bà Bản khóc nức nở, linh tính bén nhạy của một người vợ đã làm bà lo sợ. Bà cảm thấy có một điều gì không ổn trong chuyến đi hôm nay. Bà siết lấy tay ông Bản như muốn giữ ông lại.
- Muối rau gì cũng được mình à. Tôi… không phải tôi không biết xót xa khi thấy con mình khổ đói… Nhưng tôi sợ…
Bà Bản lại bật khóc. Ông Bản vỗ vai bà nhè nhẹ, an ủi :
- Không hề gì đâu mình. Lần này tôi tính kỹ lắm rồi. Giao hàng xong tôi về ngay. Nhất định là thứ tư tới tôi có mặt ở nhà. Tôi sẽ bỏ nghề, sẽ không bao giờ dính líu vào những việc tương tự như vậy nữa. Chuyến này về sẽ có tiền, tôi và mình sẽ dọn nhà đi nơi khác làm ăn. Không một ai có thể biết dấu tích mình kể cả bạn bè. Mình sẽ có một đời sống mới, lương thiện và đầy đủ.

Nghe ông Bản nói, bà Bản cảm thấy yên lòng một tí trước viễn ảnh tương lai sáng sủa. Bà lau nước mắt sửa soạn hành lý cho ông. Con dao nhọn, sáng nước, bén ngót làm bà lạnh mình. Bà bỏ vội vào với một bộ áo quần và vài thứ lặt vặt khác. Ông Bản cầm lấy con dao nhưng lại để vào chỗ cũ. Ông lẩm bẩm một mình :
- Chắc chẳng cần đến dao cạo râu nữa đâu. Xong chưa mình. Khéo lại trễ giờ thì phiền.
Nước mắt vòng quanh, bà Bản căn dặn :
- Nhớ, xong rồi về nghe mình. Tôi sợ lắm… Lần này là lần cuối nghe mình. Đừng bao giờ trở lại nghề này nữa. Phải chi mình nghe tôi hồi…
Ông Bản hớt ngang :
- Thôi tôi xin mình. Tôi thề với mình lần này đi hàng chỉ vì cuộc sống lương thiện tương lai mà thôi. Tôi đi nghe mình. Nhớ săn sóc con đừng cho nó ra nắng. Tôi thấy nó hơi nóng đầu hồi chiều rồi đấy.
Bà Bản hé mở cánh cửa. Gió thốc vào lành lạnh.
- Má ơi… má… má…
Gió lạnh đánh thức con bé. Bà Bản quay vào. Ông Bản chần chừ một phút rồi cũng quay trở lại ngồi cạnh con. Bé Tơ mắt nhắm mắt mở hỏi bố :
- Ba đi đâu đó má… ? Ba…
Ông Bản hôn lên trán con âu yếm rồi trả lời trong lúc bà Bản đặt con xuống giường :
- Ba đi có công việc. Con ở nhà ngoan nhé. Ba về mua quà cho con.
Bé Tơ bằng lòng, mắt nhắm lại và chìm dần vào giấc ngủ sau khi đã nói rán thêm một câu :
- Ba nhớ nghe ba. Ba hứa mua đồ chơi cho con như đồ chơi thằng Bảo ba nghe.
- Được rồi, ba hứa.

Bé Tơ đã ngủ say. Ông Bản cúi xuống hôn con lần nữa rồi quày quả ra đi.
Bóng ông hòa lẫn với bóng đêm. Vầng trăng khuyết ẩn sau đám mây mù.
Bà Bản nhìn theo, cho đến khi không còn thấy gì nữa, ngoài bóng tối nhạt nhòa bởi sương đêm và bóng trăng già. Cây lá xào xạc đâu đó. Và xóm nghèo chìm lắng trong giấc ngủ. Lòng bà Bản vẫn không yên. Bà bó gối nhìn con lòng thầm cầu nguyện cho chồng. Ông Bản đã cố gắng từ bỏ dĩ vãng đen tối của mình. Từ khi bé Tơ ra đời, ông không còn dính dáng gì đến những việc làm bất chính của những người bạn thường xuất hiện về đêm. Ông từ bỏ những hứa hẹn giầu sang, cố gắng sống đời sống bình thường. Nhưng trời không chìu lòng người. Lửa đỏ đã thiêu đốt tất cả gia tài. Lúc tai nạn xảy ra, ông Bản đi làm vắng. Ở nhà chỉ có hai mẹ con bà Bản. Bồng con, tay xách giỏ quần áo, tất cả còn lại trong nhà cho thần hỏa chiếm trọn. Tay trắng hoàn trắng tay. Lại thêm thời buổi khó khăn, tiền nong sụt giá, ông Bản mặc dù rán sức làm ngày làm đêm vẫn không kiếm đủ tiền chi phí cho cả gia đình. Nhằm lúc bến tàu đình công, công nhân tranh chấp với chủ, gia đình ông Bản lâm cảnh kiệt quệ. Những người bạn cũ lại xuất hiện đúng lúc. Và lần này ông Bản không có can đảm từ chối. Vả lại, so với những năm trước, chuyến hàng này có vẻ nhẹ nhàng và đỡ nguy hiểm hơn. Thế là ông Bản nhận lời.

Bà Bản ngăn cản chồng nhưng lại cũng không tránh khỏi chua xót khi thấy con mình đau mà không có thuốc, đói mà chẳng có ăn. Trước nghịch cảnh bà đành để ông Bản vương mang nghiệp cũ. Bà chỉ yên lòng chút đỉnh khi biết được mục đích của ông Bản và lời hứa của chồng. Tuy nhiên, bà Bản chỉ yên lòng được đúng một tuần. Ngày thứ tư, ngày ông Bản hẹn về bà Bản bán nốt chiếc áo dài cuối cùng của mình để mua một ít thịt làm cơm rồi chờ chồng. Nhưng sáng, trưa, chiều, tối, khuya, ông Bản vẫn bặt tăm. Những miếng thịt vơi dần qua chén cơm của bé Tơ. Mâm cơm nguội lạnh. Ngày sau. Rồi ngày sau, sau nữa… Bóng hình ông Bản vẫn biệt tăm, cả những người bạn cùng nghề.

Một tháng, hai tháng… Bà Bản khóc hết nước mắt mà ông Bản vẫn chưa về. Tuy nhiên bà không dám nói cho ai biết chuyện hoặc nhờ tìm kiếm giúp. Căn nhà rách nát phải bán đi để lấy tiền độ nhật. Bà Bản dọn đi thuê nhà xóm khác cách đó thật xa. Đôi lúc bà Bản nghĩ rằng ông Bản đã bỏ mình đâu đó. Hậu quả của các chuyến ăn hàng thất bại, bà biết quá rõ. Và bây giờ những điều đó ám ảnh bà luôn ngày đêm. Dù vậy, bà vẫn cố bám lấy hy vọng là có ngày nào đó ông Bản sẽ trở về. Ông Bản sẽ trở về ! Hy vọng càng ngày càng mòn dần như sợi chỉ bị vuốt sợi nhiều lần.

Tuy nhiên, vì sinh kế, bà Bản quần quật suốt ngày đêm để kiếm tiền nuôi thân nuôi con, thì giờ ít oi còn lại không đủ để bà thương nhớ bi lụy. Thỉnh thoảng, nhìn con lòng bà chạnh nỗi niềm đau, song tiền bạc lại làm bà lo lắng, cái lo lắng đè bẹp lên cả nỗi buồn cũ.

Nhưng hôm nay lại khác, hôm nay là ngày sinh nhật của con gái đầu lòng. Lời bé Tơ ngây thơ nhắc mẹ chẳng khác nào lưỡi dao rạch toang cái bọc giấu kín nỗi lòng của bà Bản. Bao nhiêu nhớ thương, tủi hờn cuồn cuộn tuôn ra. Bà bản gục đầu vào tay. Hai giọt nước mắt tưởng không còn có thể chảy trên đôi mắt sâu tuôn rơi lã chã.

Bé Tơ hỏi mà không thấy mẹ trả lời không dám hỏi tiếp nữa. Chợt thấy mẹ khóc, bé Tơ mếu máo hỏi :
- Con có làm gì để mẹ buồn đâu mẹ ?
Bà Bản ôm choàng lấy con, nước mắt ràn rụa. Bà cố mỉm cười vỗ về con :
- Không, mẹ khóc vì vui đấy. Thế hôm nay là ngày vui nhất của con đấy. Con gái mẹ thêm một tuổi, lớn thêm một tí. Nhưng nhớ ngoan nhé. Phải rán học nữa đó.
Bé Tơ kêu lên :
- Con học giỏi rồi còn gì nữa mẹ. Cô giáo chả khen con là gì. Hồi mấy tháng trước con được phần thưởng mà chẳng thấy ba về khen con gì hết. Con nhớ hồi lâu đó, ba nói khi nào con học giỏi nè, được phần thưởng nè, ba sẽ mua cho con một món đồ chơi thật đẹp nè.
Bé dụi đầu vào ngực mẹ :
- Vậy mà ba chẳng mua gì cho con cả.
Bà Bản lúng túng. Bà không biết giải thích thế nào với con về sự vắng mặt của ông Bản. Ngay chính bà, bà vẫn hoang mang. Ông Bản đã chết, hay là đã bỏ mẹ con bà vì gia đình nghèo túng quá ?
Bà Bản lắc đầu :
- Mẹ thưởng con rồi mà.
Bé Tơ dậm chân nhè nhẹ :
- Phải có ba cơ… Mẹ, ba đi đâu mà sao lâu quá chưa thấy về mẹ ?
Bà Bản nghẹn ngào. Bà cố dằn lòng để làm yên lòng con. Bà nói dối :
- Ba bận nhiều việc lắm. Chắc khi nào rỗi, ba sẽ về mang cho con thật nhiều quà. Mà này con đói chưa, để mẹ bới xôi cho con ăn nghe. Trưa này, mẹ mua bắp về làm chả thưởng con gái mẹ ngoan nhé. Nào, xê ra để mẹ đi lấy xôi.
Nghe có xôi, có bắp, bé Tơ reo lên :
- Mẹ nhớ để bắp nướng hay rang lên cho con một gói mẹ nhé. Bây giờ mẹ lấy xôi cho con ăn đi. Con đói quá trời rồi.
Bà bản đứng lên đi về phía bếp. Hình như tà áo mắc phải cái gì, bà quay lại, bước chân mất đà suýt té nhủi. Bà gượng kịp. Một hòn bi nhỏ lăn dưới chân. Bà lẩm bẩm :
- Bi của ai thế này ? Có ngày vấp té què giò à…


***


Những đám mây trôi nhanh trước mặt. Tà áo ông Bản lồng căng gió. Mây bao trùm lấy ông Bản. Nhưng ông không có cảm giác. Từ khi lìa trần ông Bản chỉ còn con tim, linh hồn của cuộc sống. Ông mặc chiếc áo bó sát bằng thun màu xanh với những sọc đen. Chiếc áo mà ông đã mặc lúc ra đi để hoàn thành chuyến hàng được giao phó. Ông Bản cúi nhìn xuống. Qua làn mây làng mạc lờ mờ với những chấm đen xanh mơ hồ. Những chấm đen xanh càng lúc càng rõ dần. Đằng Đông mặt trời bắt đầu le lói chút ánh hồng.

Bằng linh cảm thiêng liêng và huyền bí mà chỉ những linh hồn đã thoát xác mới có được, ông Bản đã để gió đưa mình hạ xuống trước gian nhà của vợ con.

Hơn một năm trời nay, ông Bản mới thấy được chiếc bàn tạp quen thuộc. Cái bàn do chính tay ông Bản đóng sau khi thần hỏa đã tiêu tán tài sản gia đình ông. Cái bình nước sứt vòi. Cái màn cửa sổ màu cà phê bạc phếch. Chả có gì thay đổi trong nếp sống của gia đình sao ? Ông Bản tự hỏi và thấy tim mình như thắt lại.

Ô kìa, ai đã từ dưới nhà bếp đi lên, gương mặt âu sầu khắc khổ, già trước tuổi. Ông Bản muốn la lên, muốn chạy bay tới để ôm lấy vợ hiền, để giỏ những giọt nước mắt thương mong. Ông nói trong cổ họng :
- Mình ơi, tôi đã về đây, tôi đã về thăm mình và con đây.
Đôi mắt bà Bản nhìn về phía ông. Trong khoảnh khắc, ông Bản cứng người chờ đợi, ông quên mất mình là ai và tưởng rằng bà Bản sẽ la lên, sẽ kêu to và chạy về phía ông. Ông giang rộng tay chờ đợi. Kìa bà Bản bước tới, nhưng sao đôi mắt bà vẫn lạnh lùng buồn thảm. Bà bước đến khép hai cánh cửa sổ lại cho đỡ gió. Ông Bản buông thõng hai tay thất vọng. Ông đâu còn là ông Bản bằng xương bằng thịt nữa. Ông chỉ là một linh hồn.
Ông Bản bước hẳn vào nhà vừa lúc bé Tơ tỉnh dậy. Con ông đó. Lòng ông cảm động rưng rưng. Nó lớn quá. Ông cười trong nước mắt. Nó lớn quá. Ông lẩm bẩm :
- Nó lớn như thổi.
Ông Bản muốn chạy ào tới ôm con vào lòng. Tình thương con trước đây chỉ là nỗi nhớ dằng dặc, nỗi nhớ nhờ bầu khung cảnh Thiên Đình làm cho lắng dịu, bây giờ trào chảy lai láng trên từng bàn tay, ánh mắt. Ông Bản dựa người vào thành bàn để được nhìn con cho rõ. Giọng nói nũng nịu của bé Tơ, chẳng khác chi ngày ông còn sống. Ông đưa tay vuốt nhẹ lên mái tóc con đồng lúc với bàn tay bà Bản kéo con ngồi dậy. Ông lắng tai nghe mẩu đối thoại giữa con và vợ, lòng ông xôn xao. Nhưng khi nghe bé Tơ nhắc đến bố thì ông Bản không cầm lòng nổi, ông muốn nhảy xổ đến bên con, ghì chặt con vào lồng ngực. Ông Bản di dộng đến bên giường. Vật gì cồm cộm trong ngực. Ông thò tay vào trong áo. Ngôi sao trời nằm yên tỏa hơi lạnh buốt. Ông Bản lạnh người khi nhớ đến lời khuyên của Thượng Đế trước khi đưa cho ông ngôi sao xinh. Ông thụt lùi lại cách xa mẹ con bé Tơ một quãng. Ông ôm mặt chạy ra ngoài hiên để khỏi nghe những câu hỏi và trả lời của vợ và con.

Bên ngoài trời mưa đã dứt. Bầu trời trong xanh và đẹp hơn mặc dù mây vẫn còn nhiều. ánh nắng chiếu rạng rỡ trên cành cây, kẽ lá. Tiếng chim hót ríu rít chuyền cành. Cả khung cảnh trần gian như sống lại trước mắt ông Bản. Ông thẫn thờ ngồi xuống bờ đất ẩm.
- Ba đi sao lâu quá mà hổng thấy về hở má ?
Ông Bản vùi đầu trong hai tay. Ông không bao giờ còn về được nữa. Ông đã đi chuyến tàu chót của đời người. Còn chăng là linh hồn và lòng tưởng nhớ. Nhưng tất cả là hai thế giới mà chỉ trong cơn mộng mới có thể gặp được.
- Ba hứa cho con…
Phải, ông đã hứa cho bé Tơ món đồ chơi mà bé Tơ hằng ưa thích sau chuyến hàng trở về. Ông Bản đã hứa vì ông thấy công việc đi hàng lần này thật dễ dàng. Ấy thế mà ông không ngờ. Ông còn nhớ rõ lắm. Đêm ấy sau khi từ giã vợ ông băng mình trong đêm đi đến chỗ hẹn.
Trời có trăng nhưng lại nhiều mây. Những đám mây dầy màu xám đen thật thuận tiện cho công việc làm ăn của ông và đồng bọn. Ông Bản đi với cái xách quần áo và một con dao cán ngắn bén nhọn. Tụi Năm Thẹo đề nghị ông sử dụng súng lục, nhưng ông Bản từ chối. Ông muốn chứng tỏ với vợ con, với lòng mình là chuyến đi hàng hôm nay chỉ có một ý nghĩa là đem tương lai tươi sáng đến cho gia đình. Ông không dùng súng bởi ông không muốn mình phạm tội ác, ông không muốn mình mang nghiệp chướng vào thân. Không, ông muốn sống an lành, lương thiện bên vợ bên con. Bé Tơ sắp lớn, ông có bổn phận và trách nhiệm đối với đời sống tinh thần của con gái. Ông làm việc này là bất đắc dĩ.

Con đường đưa ông đến nơi hẹn khá xa và thanh vắng. Đó là một con hẻm nhỏ ở gần nghĩa địa Gò Vấp. Ông Bản vẫy một chiếc tắc-xi, nhưng anh tài xế vội về nhà không chịu đón khách. Ông Bản đành đi bộ từ từ một khoảng để chờ xe thồ. Đường đi vắng vẻ, con đường như trải dài ra với hai hàng đèn nê-ông sáng rỡ. Vài ngôi quán bán hàng muộn vẫn rỉ rả ba bốn người khách. Qua một quán nước, tiếng nhạc hắt ra buồn thảm. Ông Bản như cách xa với những nỗi vui buồn của đám đông. Ông lặng lẽ chân bước mau và điếu thuốc ngậm trên môi không châm lửa.
- Đi xe không ông ?
Ông Bản mừng rỡ gật đầu. Chiếc xe dừng lại vài giây, rồi mở máy lộc bộc chạy về phía Gò Vấp. Người chở xe nói vu vơ :
- Trời mới tháng tám mà đã gió.
Ông Bản không trả lời vì bận nghĩ ngợi. Chuyến xe thồ im lặng nhất của tên tài xế. Vì vậy khi ông Bản xuống xe ở khoảng vắng, anh ta có vẻ lạnh nhạt và không thèm hỏi han, rồ máy ngược chiều. Ngọn đèn đỏ phía sau xe phút chốc chỉ còn lại chấm hồng nhỏ dần rồi mất hút.
Ông Bản đi sâu vào hẻm độ năm mươi thước, ông huýt gió ba tiếng liên tiếp rồi dựa lưng vào bức tường vôi của nghĩa địa chờ đợi. Từ trong xa vẳng ra tiếng huýt gió trả lời. Một ánh đuốc lập lòe đi dần tới. Ông Bản thản nhiên đứng chờ. Hai bóng người đến gần. Ông Bản bật diệm quẹt đốt thuốc.
- Anh Bản, đúng hẹn quá há. Sao, có hành lý gì nặng không ? Lần này không nên mang nhiều hành lý quá.
Ông Bản cười nhẹ :
- Chết đỡ thất lạc phải không ?
- Anh này nói gở.
Ông Bản quay sang người đội mũ sụp đến ngang mặt hỏi :
- Anh Năm, mấy giờ chúng ta khởi hành ?
Chiếc đồng hồ dạ quang nhấp nháy trên cườm tay người được gọi là anh Năm.
- Một giờ khuya. Nhưng tụi mình phải có mặt ở đó lúc 12 giờ. Bây giờ khởi hành lẹ lên cho kịp.
Ông Bản không hỏi gì nữa lặng lẽ cất bước. Trăng đã lên giữa đĩnh đầu tỏa ánh sáng nhợt nhạt trên khung cảnh lặng im. Thỉnh thoảng, vài tiếng xe chạy muộn rầm rập tự ngoài đường cái vọng vào.
- Đi bộ hả anh Năm ?
Không một tiếng trả lời lại. Ông Bản cũng không hỏi tiếp nữa. Im lặng khi di chuyển đó là một thông lệ của bọn ông. Mấy năm trời bỏ nghề nên ông Bản đã quên đi thói quen quan trọng đó.

Ra đến ngoài đường cả ba người dừng lại. Năm Thẹo, biệt danh của người tên năm, rẽ qua một khóm cây. Có tiếng xe rồ máy và Năm Thẹo chễm chệ ở tay lái.

Vào trong xe, Năm Thẹo lấy thuốc mời ông Bản trước khi đạp ga cho xe chạy nhanh. Bây giờ đã có thể nói chuyện được rồi, nhưng ông Bản lại không buồn nói nữa. Một phần tâm trí ông vấn vương hình ảnh vợ và con. Ông thấy mình nặng tình cảm gia đình quá. Ngày xưa đâu có vậy. Ông đi đi về về như mọi người khác đi làm việc vậy. Cớ sao hôm nay lòng ông nôn nao quá. Ông nhớ vợ, nhớ con, nhớ từ câu nói cử chỉ. Ông chỉ muốn quay trở về. Thôi thì rau chuối có nhau. Nhưng đã lỡ rồi, ông không thể rút lui được nữa. Đâm lao thì phải theo lao. Ông Bản thở dài.
- Ngó bộ kỳ này mày bê bối dữ à Bản. Mất cả phong độ.
Ông Bản nhìn người bạn đã từng lăn lóc vào sinh ra tử. Người bạn gần thì gần mà sao ông vẫn không thể giãi bày phần nào tâm sự mình. Vẫn có một cách biệt nào đó. Ông Bản lắc đầu :
- Chỉ buồn ngủ thôi.
Năm Thẹo gõ nhè nhẹ tay lái :
- Phố xá đẹp quá, chuyến này xong tao về ăn chơi cho thỏa thích.
- Tao cũng vậy. Phải nhậu nhẹt cho đã đời.
Những vòng ánh sáng xanh đỏ liên tục chạy dài ở hai bên đường. Phố Sàigòn hơi vắng người, nhưng ở trong các tiệm ăn, tiệm nước, phòng trà vẫn còn đông nghẹt. Nhạc vọng ra văng vẳng. Xe thoát khỏi con phố Hàm Nghi, vọt qua cầu Khánh Hội. Đèn sông lập lờ theo con nước. Vài người khách nhàn du gật gù bên mấy ly bia, mấy con khô mực.

Ánh đèn pin của đội tuần cảnh sát quét lên xe hơi rồi hạ xuống. Xe vọt qua cầu men theo bờ chầm chậm.

Ông Bản ngả người ra sau nệm lim dim. Ông không rõ chuyến hàng này trị giá bao nhiêu, chỉ biết rằng lớn lắm vì người chủ mưu đã bằng lòng trả cho bọn ông một số tiền rất lớn.

Bọn ông Bản phải làm thế nào để chở món hàng đó vượt những trạm canh gác dọc theo các kho hàng lớn và tại cầu Khánh Hội đưa hàng đến Phú Xuân. Nơi đây sẽ có người chuyển hàng đi theo đường biển tại mũi Cần Giờ.

Tiếng Năm Thẹo thì thầm :
- Đây trở ra đường cái đến Phú Xuân không đáng sợ lắm. Chỉ ngại nơi trao hàng. Lực lượng đặc biệt đồn trú ở đó canh phòng luôn.
Hít một hơi thuốc dài, Năm Thẹo lại tiếp :
- Lát nữa thằng Ngạn xuống xe một mình thôi, đi bộ tới, xe tao dừng cách mày khoảng 50 mét. Khi nào có hiệu, mày quan sát coi có cớm nào không. Thấy khả nghi thì đi thẳng, còn không có gì thì trở lại xe. Nhớ không …
Ngạn lắc đầu :
- Có mỗi chuyện mà anh Năm nhắc hoài…
Gió tạt vào xe nghe lành lạnh. Hình như đã gần đến giờ hẹn. Kim dạ quang trên chiếc đồng hồ của Năm Thẹo loang loáng hào quang theo vòng đảo của tay lái. Xe chạy chậm dần. Bên trái ông Bản là một kho đường tối om. Bên phải mặt sông âm thầm chảy xuôi dòng.
Dưới bóng một cây me lớn, Năm Thẹo cho xe dừng lại.
- Xuống nhanh đi Ngạn. Tụi tao chờ.
Ngạn nhảy xuống xe gọn gàng không một tiếng động. Bóng hắn in trên nền mờ nhạt của không gian thành một khoảng đen đậm. Ông Bản đặt một tay lên ngực. Tim nhảy nhanh trong lồng ngực. Ông nhủ thầm, mình bắt đầu bỏ nghề là vừa. Không còn cái gan góc của ngày xưa nữa.

Bóng Ngạn khuất sau một bóng đổ của ngôi lầu cao, rồi lại hiện ra. Đầu hơi cúi, dáng đi vững mạnh. Chợt từ dưới sông một ánh đèn sáng chiếu lên quét nhanh mặt đường. Ông Bản thấy rõ trong một giây Ngạn quay đầu. Ánh sáng vụt tắt. Nhưng vệt sáng lại xuất hiện thêm ba lần nữa. Mơ hồ ông Bản nghe có tiếng mái chèo nhẹ bơi trên sông.
- Có ám hiệu rồi. Tốt lắm.
Ngạn đang lên bắt đầu quay trở lại. Năm thẹo cho xe tiến lên êm ái.
- Chu rồi.
Xe chạy thêm một khoảng nữa rồi dừng lại bên bờ sông.
Năm Thẹo tắt máy xe, tắt đèn ngồi im một phút nghe ngóng.
- Xuống đi Bản.
Ông Bản mở cửa xe. Khung cảnh và những câu ra lệnh cộc lốc quen thuộc làm ông thêm can đảm hơn. Ông sờ vào thắt lưng. Con dao găm bọc bao da nằm nguyên bên trong lần vải mềm. Ông nhìn lại đàng sau. Ngạn đang đứng gác. Điếu thuốc đỏ lập lòe.

Ông Bản và Năm Thẹo ngồi xuống bờ như hai kẻ nhàn du rỗi rảnh nhất. Tiếng chèo khua nước càng lúc càng rõ hơn. Một mũi thuyền đâm vào bờ. Có tiếng nói nhỏ từ dưới vọng lên :
- Hai ông có lửa cho tôi mồi một điếu.
Ông Bản dõng dạc :
- Lửa thì không có. Các ông chịu khó một tí nhá. Đàng kia vẫn còn bán đấy.
Tự trong khoang thuyền, một cái đầu nhô lên.
- Yên chứ, bắt đầu chuyển nhé. Nhanh lên.
Rồi bóng đen quay vào bên trong kêu :
- Hai, Tư, khênh lẹ lên.
Chiếc thuyền lay động mạnh. Một vật nặng được khênh lên cao. Năm Thẹo, ông Bản đỡ lấy. Người đàn ông nhảy lên bờ giúp một tay.
- Ngần ấy thôi à ?
- Cả chục triệu đó cha, liệu mà làm ăn cho khéo léo.
Năm Thẹo phủi tay, nhìn đồng hồ, rút một tờ giấy nhỏ đưa cho người đàn ông.
- May mắn.
Không buồn đáp lại, cả hai, Năm Thẹo và ông Bản lên xe. Xe quay đầu ra đón Ngạn. Kim đồng hồ chỉ đúng một giờ đêm.

Đường trực chỉ Phú Xuân, không một bóng người. Thỉnh thoảng mới có một bác cảnh sát ngáp ngắn ngáp dài. Màu áo trắng của họ nổi bật dưới ánh diện đường.

Dốc cầu Tân Thuận hiện ra ở đằng xa. Đèn trên cầu sáng rực. Năm Thẹo cho xe chạy chậm lại :
- Quân Cảnh gác ở đầu cầu.
Tiếng Ngạn kêu lên :
- Tắt đèn xe anh Năm, luật qua cầu.

Năm Thẹo tắt đèn pha, chiếc xe trồi sụt bất ngờ với những ổ gà nhỏ. Chiếc đèn pin trên tay người quân cảnh quét nhanh lên số xe. Một người khoát tay cho xe chạy. Năm Thẹo thở ra một hơi dài. Quãng đường qua cầu chiếm một thời gian dài dằng dặc. Mút cầu bên kia dốc và ngoằn ngoèo. Bóng dáng những chiếc thương thuyền lớn đen sẫm dưới sông. Ông Bản kéo cao cổ áo. Ngạn châm thuốc hút.
- Tốp lại, khám xe.
Tiếng quát của một người cảnh sát từ trong chòi gác ở cuối cầu làm Năm Thẹo giật mình. Gã thắng gấp. Bốn bánh hơi rít trên mặt nhựa.
Đèn pin bật sáng chiếu lóe vào mặt Năm Thẹo, rồi quét một vòng lên băng sau.
- Xin ông làm ơn cho xem giấy. Bây giờ là giờ giới nghiêm rồi. Xe các ông đi đâu về mạn này ?
Năm Thẹo trả lời :
- Chúng tôi được di chuyển trong giờ giới nghiêm.
- Xin ông cho xem giấy.
Năm Thẹo móc túi lấy giấy. Đôi mắt người cảnh sát nhíu lại, anh ta săm soi tờ giấy, đưa mắt nhìn ba người nghi ngờ.
Ngạn cười :
- Ông có cần khám xe không ?
Người cảnh sát ngần ngừ một giây, cuối cùng anh ta đưa tay chào theo kiểu nhà binh. Năm Thẹo cũng chào đáp lại. Xe rồ máy tiếp tục chạy.
Ra đến khoảng đồng trống, Năm Thẹo mới chửi thề một câu. Trong khi đó, ông Bản tưởng chừng như vừa mới trút được một gánh nặng ngàn cân.

Đường vắng và tối. Vài ngọn đèn nê-ông cách khoảng không đủ soi tỏ cả vùng. Hai bên đường, ruộng lúa chạy dài. Lúa đã trổ đòng đòng phảng phất mùi sữa mới. Xa tít là làng mạc ngủ yên, chỉ sót lại vài ánh đèn mờ tỏ. Đằng phía Sàigòn, đèn giăng sáng rực rỡ như mở hội.

Ông Bản hít một hơi làn không khí khoáng đãng của thôn quê. Giờ này vợ ông và bé Tơ chắc đã ngủ say. Nhớ đến vợ con, ông Bản lại cảm thấy ngùi ngùi trong dạ. Ông cố nghĩ về chuyến giao hàng sắp tới, những đồng kiếm được và tìm cách xài chúng. Với số tiền 200 ngàn trả công, ông sẽ kiếm sang một xe bánh mì để vợ ông đứng bán cho đám học trò trong xóm. Mỗi ngày ít nhất cũng kiếm được dăm ba trăm. Tương lai làm ông thấy phấn khởi hơn lên. Ông tưởng tượng đến một ngôi nhà khang trang, vợ con ông sống hạnh phúc. Bé Tơ sẽ được đi học ở một trường học nổi tiếng. Nhất định con ông sẽ học giỏi, sẽ ăn nên làm ra, sẽ thoát khỏi cảnh sống vất vả như vợ chồng ông. Và ông sẽ có thêm con cái mà không hãi sợ, khốn khổ như bây giờ.
- Lại trạm cảnh sát. Đi chậm lại đi anh Năm.
Năm Thẹo lẩm bẩm :
- Trạm này dễ thở hơn ở đằng cầu Tân Thuận. Sợ chăng là tí nữa. Mong rằng đêm nay tụi mình không có việc gì làm hết.
Hình như người cảnh sát trực đã ngủ say. Con đường đất đỏ băng ngang lộ hun hút. Năm Thẹo cho xe chạy nhanh vun vút. Đèn thành phố đã khuất xa. Ngạn che miệng ngáp dài.
- Gần đến cầu Phú Xuân rồi. Sửa soạn đi. Phải qua trạm gác này nữa. Đến đây mà kẹt là mệt lắm đó.
Ông Bản chép miệng :
- Nhớ hồi trước, mỗi chuyến ăn hàng trót lọt, mình rủ nhau xuống đây nhậu nhẹt đã đời.
Ngạn cười thành tiếng :
- Hồi đó tụi mình chửa vợ. Chớ bây giờ về nhà là bị giữ riết bởi vợ bởi con. Tiền xài không đủ, lấy gì nhậu nhẹt.
Năm Thẹo pha trò :
- Buồn vậy mà mày cười được hả. Chú Bản mấy con rồi nhỉ. Lâu quá cũng quên. Hôm tới nhà, tao cũng đểnh đoảng.
Ông Bản cười vui :
- Một đứa, con gái anh Năm, nó ngoan lắm.
- Ừa, chú rán nuôi nấng cho nó đàng hoàng.
Gió càng lộng, tiếng nói như thoát ra ngoài xe bay lên cao tít tận mấy vì sao.
Ngạn thò đầu ra ngoài chắc lưỡi :
- Mạn này tối quá. Chắc gần rồi, đã nghe mùi gió biển mặn mặn rồi.
Và cũng gần tới thật. Năm Thẹo ra lệnh tắt hết thuốc lá, im lặng.
Chỉ còn tiếng cây lá rì rào và côn trùng reo vang khắp nơi.
Năm Thẹo cho xe quẹo sang bên phải, con đường gồ ghề lồi lõm. Đằng trái là cơ quan quân sự Mỹ.

Phản xạ, ông Bản đưa tay rờ vào con dao. Ông liếc nhìn ra ngoài. Hai bên bờ trống trơn. Tiếng nước đập bờ lau lách mịt mùng. Bây giờ là giờ thủy triều đang lên. Hàng sẽ được chuyển ra ghe, ghe chở ra ngoài sông thoát khỏi đám dừa nước. Ở đó, có sẵn ca nô thông luôn ra biển. Chỉ một giờ nữa, số tiền một triệu sẽ nằm trong tay Năm Thẹo, trong đó phần ông là 200 ngàn.

Xe dừng lại, đèn xe tắt hết. Ba người mở cửa xe bước xuống, Năm Thẹo nhìn đồng hồ. Sớm hơn 15 phút. Sớm quá, 15 phút chờ đợi trong tình trạng này thật đáng lo ngại. Ai cũng hồi hộp, căng thẳng. Chỉ riêng ông Bản, ông nghĩ đến số tiền sắp lãnh, tương lai rất gần. Ông lấy làm vui sướng. Ông Bản ngước mắt nhìn trời. Mặt trăng đã xế qua vai. Ngôi sao đêm còn lang thang mờ nhạt giữa nền trời xám đục.

Có tiếng ca nô chạy. Ông Bản lắng tai nghe. Sắp xong việc rồi. Tiếng máy nổ mỗi lúc gần hơn. Ông Bản nghe cả tiếng lá cây xột xoạt. Năm Thẹo kéo hai người đứng lấp sau chiếc xe lẩm bẩm :
- Sao họ bảo dùng ghe ? Sớm hơn giờ định 5 phút.
Ánh đèn pin trên ca nô chớp chớp đúng năm lần.

Năm Thẹo thở một hơi dài khoan khoái. Ngạn rút chiếc đèn pin để sẵn từ lúc nào trong ngực áo bấm ba lần ra hiệu trả. Đèn trên ca nô trả lại hai lần.

Năm Thẹo rời chỗ ẩn, mở thùng xe sau chờ đợi. Ca nô tiến lại gần thật gần.
Bỗng Năm Thẹo la lên :
- Có kẻ phản bội. Lên xe ngay…
Nhưng không kịp nữa. Đèn pha từ ca nô rọi sáng bao quát một vùng. Có tiếng quát từ trên ca nô :
- Năm Thẹo, giơ tay lên, đừng chống cự nữa vô ích. Tụi mày bị bao vây cả rồi.
Chiếc ca nô đang rẽ đám dừa nước và cây dại để tấp bờ. Ông Bản ngồi thụp xuống sau chiếc xe hơi chờ cơ hội bò qua bờ đường bên kia.

Ánh sáng chiếu chói lòa cả mắt. Ngạn vùng đứng dậy chạy vụt ra sông. Một tràng súng nổ xé tan màn đêm. Thân hình Ngạn nẩy lên rồi đổ xuống không một tiếng kêu. Ông Bản nghe tim mình bóp lại. Năm Thẹo chửi thề liền miệng. Lính trên ca nô đã nhảy xuống nước lội lõm bõm. Đằng xa tít, có ánh đèn pha xe hơi trực chỉ. Mồ hôi trên trán Năm Thẹo nhỏ giọt. Hắn nghiến răng kê khẩu súng trên thành cửa xe, bóp cò. Ông Bản kinh hoàng la lên. Vừa vặn một tiếng rú phía trước.
- Trúng rồi. Lần này một mất một còn các con ạ.
Đèn pha trên ca nô tắt phụp. Tiếng lõm bõm lội nước cũng dứt. Tên buôn lậu có súng. Lực lượng tuần tiễu không dám liều lĩnh như trước nữa. Họ thận trọng tiến vào từng bước một.
- Năm Thẹo, bỏ súng ra hàng đi không thoát khỏi đâu. Đừng để nặng tội thêm.
Để trả lời, Năm Thẹo lại bắn thêm một tràng nữa. Đội tuần tiễu bắt đầu nổ súng. Hình như họ muốn bắt sống cả bọn nên đạn bay như mưa rào nhưng không trúng. Lợi dụng bóng tối, ông Bản bò sang bên kia bờ vừa lúc tiếng còi hụ và đèn xe hơi chạy đến.

Năm Thẹo vẫn bắn trả lại dè dặt, vừa bắn vừa thụt lùi ra phía ông Bản. Không đành bỏ chạy một mình, ông Bản nằm phục xuống bờ nước hỏi nhỏ :
- Liệu chuồn được không ?
Năm Thẹo không trả lời dúi vào tay ông một thùng đạn nhỏ.
Qua lửa đạn, ông Bản trông thấy những bóng người mập mờ tiến từng tấc đất.
- Năm Thẹo đầu hàng đi…
Ông Bản tuyệt vọng. Từ phía dưới đường cái, hai ba chiếc xe nữa chạy vào, còi hụ liên miên. Nước thấm lạnh tê chân. Trong khoảnh khắc, hình bóng vợ và con xuất hiện rõ ràng đậm nét.
- Chuồn Bản, tụi cớm đông quá. Lội ruộng ra mạn kia.
Năm Thẹo vừa nói vừa bấm cò súng. Đạn hết. Những viên đạn cuối cùng. Ông Bản vứt thùng đạn xuống chân. Năm Thẹo cũng quẳng khẩu súng đã khét lẹt. Cả hai bì bõm trên con ruộng lầy.
- Tụi nó rút về phía kia kìa. Rọi pha đi.

Hàng trăm tiếng chân rầm rập chạy. Đèn pha bật sáng. Ông Bản và Năm Thẹo đứng thẳng người mà chạy. Chạy trong tuyệt vọng. Đất như níu kéo bước chân. Trí óc cuống quít. Năm Thẹo không hổ danh là một tay anh chị già dặn. Chân chạy mà miệng vẫn chửi thề luôn mồm. Ông Bản cắm đầu tiến về phía đám ruộng tối. May ra vào xóm, rút được. Đang chạy, bỗng ông Bản khựng lại. Ngoài tiếng đạn bay vun vút, tiếng xôn xao của lính cảnh sát, ông Bản thấy như thiếu một cái gì. Ông có cảm tưởng cô đơn lạ lùng. Ông nhìn lại phía sau. Năm Thẹo đã ngã xuống từ lúc nào. Một luồng máu lạnh chạy dài trên sống lưng. Hai chân ông Bản như nhũn ra. Một đám lúa cản bước. Ông Bản vướng chân ngã sấp xuống. Lúa giạt ra quanh ông. Ông nghe lồng ngực đau nhức và cứng lại. Những tia lửa đạn vẫn ngang dọc quanh ông. Nhưng bằng một con mắt của thế nằm ngang, ông Bản thấy bầu trời đêm loãng pha màu sữa và trên đỉnh cao, ngôi sao mai hớn hở mỉm cười.


***


- Mẹ ơi, ba đi lâu quá mà sao chưa thấy về hả mẹ ?
Ông Bản ngẩng đầu lên. Mẩu đối thoại của vợ và con làm ông nao nao. Dĩ vãng đã vậy, hối tiếc cũng muộn rồi. Ông chớp nhanh mi để cho hai giọt nước mắt tan biến đi. Rồi bước lại gần cửa nhìn vào nhà. Giọt nước mắt trên má bà Bản làm ông bùi ngùi.
- Mình ơi, tôi đã về đây nè.
Tiếng kêu không thốt ra được cổ họng. Bà Bản rời bé Tơ xuống bếp, ngang qua trước mặt ông Bản. Lòng ông Bản dâng lên niềm cảm động vô cùng. Nhìn gần, ông Bản mới thấy vợ tiều tụy quá đỗi. Trời ơi, mới một năm trời, buồn khổ đã tàn phá con người đến vậy sao ? Cầm lòng không đậu, ông Bản đưa tay kéo tay bà. Bàn tay tuột qua lần áo làm bà Bản suýt té. Bà Bản đá lăn hòn bi dưới đất vào gầm giường. Bà tưởng chính viên bi đã làm bà trợt chân. Ông Bản cúi đầu thấm thía câu âm dương cách biệt.

Còn lại một mình, ông Bản ngắm nhìn con không chớp mắt. Bé Tơ đang vuốt ve lại tấm áo ép sẵn dưới gối từ đêm qua. Chiếc áo đẹp độc nhất của bé. Ông Bản thì thầm :
- Tơ, Tơ, bố đây nè con. Bố đây nè.
Bé Tơ vẫn mê mải với những hình hoa in trên áo. Vừa vuốt áo, bé vừa trò chuyện một mình.
- Áo nhé, bữa nào bố Tơ về mua cho Tơ bánh nè, kẹo nè, mứt nè. Bé sẽ bỏ vào cái túi này, cái túi này nghe. Bé bỏ đầy, cho áo ăn một phần nghe. Mà áo dễ ghét quá à. Cứ nhăn nhăn nhó nhó hoài. Bé đã bảo là mẹ không có bàn ủi, không ủi thẳng được vậy mà áo cứ vậy vậy hoài. Chóng ngoan không thôi bé giận bé vứt ra ngoài kia cho tụi thằng Tu, thằng Phú nó làm giẻ lau xe đó.

Ông Bản mỉm cười. Lòng ông vui lại. Cách trò chuyện của bé Tơ có vẻ đàn chị lắm rồi. Nếu ông không mất, có lẽ bây giờ bé Tơ đã có em rồi, bé khỏi cần phải nói chuyện với cái áo vô tri.

Bà Bản đã bước lên nhà trên. Tay bà bưng một đĩa xôi đậu xanh bốc khói. Vài tép mỡ vàng đỏ ửng trên mặt. Mùi đậu phụng rang bay rân cả khứu giác.

Bé Tơ chỗi người dậy. Tấm áo được đặt ngay ngắn trên gối như cũ. Bé cười tươi bằng mắt, bằng tay, bằng chân. Bà Bản mắng yêu con :
- Đã bảo dậy đánh răng súc miệng rồi mới ăn sáng mà chả nghe mẹ gì cả. Thôi, dậy lẹ lên cô nương.
Bé Tơ nũng nịu :
- Con lạnh quá à.
Bà Bản kêu lên :
- Trời ơi, nắng lên rồi mà còn kêu lạnh. Lười quá. Nhanh lên, có thau nước sẵn rồi kìa. Không xôi nguội mất ngon.
Bé Tơ phóc một cái xuống đất. Ông Bản bước lại gần con. Ông muốn làm cái công việc ngày xưa là cầm bót đánh răng, lau mặt cho con. Nhưng không thể được. Ông Bản lùi lại. Ông ghé ngồi xuống giường cạnh vợ. Bà Bản khóc lặng lẽ, mắt bà rươm rướm lệ. Bé Tơ đã thêm một tuổi, bao nhiêu là chi phí, phải tốn kém để bé Tơ học hành đàng hoàng. Con cái hành nên danh nên giá, đó là sở nguyện của chồng bà ngày xưa. Cũng vì sở nguyện đó mà chồng bà phải dấn thân vào đường nguy hiểm và giờ đây không biết phiêu bạt nơi nào. Nghĩ đến chồng, đến con, đến tương lai đen tối bà Bản không tránh được hai giòng lệ buồn.

Ông Bản ngồi cạnh, ruột gan ông co thắt lại, tim ông đau nhức vô cùng khi cảm thông được nỗi buồn của vợ. Ông nhìn con, nhìn vợ, rồi nhìn trời. Ngôi sao lạnh cựa quậy trong lồng ngực. Ông định để lại trên gối con rồi trở về thượng giới. Ông muốn quên hết quá khứ, muốn lãng quên trần gian, muốn tinh thần được thảnh thơi. Ông không chịu nổi sự đau đớn và mối ân hận dày vò.

Bé Tơ đã trở lại và ngồi vào bàn. Bé vừa ăn xôi vừa nói với mẹ :
- Xôi ngon quá. Giá sáng nào mẹ cũng nấu xôi cho con ăn mẹ nhỉ. Thích quá.
Bé nuốt nhanh một miếng xôi to rồi la lên :
- A, mẹ ơi, mười giờ sáng nay ở trường con cô giáo nói họp phụ huynh học sinh đó mẹ. Mẹ đi nhá. Con được cô giáo chọn đưa hoa cho… cho…
Bà Bản đưa hai tay lên trời :
- Sao hôm qua con không nói ?
Bé Tơ ấp úng :
- Bị… bị… con quên mẹ… Có giấy trong cặp vở con, cô giáo đưa đó mẹ.
- Đâu nào, đưa mẹ coi. Bây giờ ít ra cũng tám giờ hơn rồi. Thế này thì trễ mất.
Bé Tơ hối hả lục cặp đưa cho mẹ một tờ giấy có ấn son đỏ. Bà Bản lẩm nhẩm đọc.

“Kính gởi quý phụ huynh của trò Trần thị Tơ.

“Chúng tôi kính mời ông bà đến tham dự buổi lễ ra mắt ban chấp hành Hội phụ huynh học sinh của trường chúng tôi vào lúc 10 giờ ngày 29-11 năm 1971.

“Trong dịp này chúng tôi sẽ phát học bổng cho các học sinh nghèo ưu tú của trường do sự đề nghị của ban giáo viên và của quí vị phụ huynh ân nhân.

“Sự hiện diện của ông bà là một hân hạnh lớn lao của trường chúng tôi và một khích lệ cho các em học sinh.

Trân trọng kính mời

Hiệu trưởng

Phan thị Nam Hà”.

Bà Bản ngồi thừ người ra. Gấp gáp thế này thì làm sao bà đi được. Bà ngập ngừng :
- Mẹ không đi có được không ? Nhà còn bao nhiêu việc phải làm.
Bé Tơ kêu lên :
- Thôi, mẹ đi với con đi. Cô giáo bảo về mời cho được ba má đi cho nong tọng.
Bà Bản bật cười trước câu nói ngọng nghịu của con nhưng bà lại tiếc việc.
- Hổng chừng mẹ không đi, con không được trao hoa cho ông gì trưởng đó mẹ. Mẹ đi nghen mẹ ?
- Mà con có được học bổng không ? Giá như con có một cái học bổng thì đỡ biết mấy nhỉ.
Bé Tơ lắc đầu :
- Con không biết mẹ ạ. Mà học bổng là gì mẹ, không có có được không ?
Bà Bản cười :
- Con này nói ngốc quá.
Bé Tơ lè lưỡi :
- Mẹ ơi, mẹ đi nhé mẹ.
Bà Bản im lặng một chốc mới trả lời :
- Thôi được, mẹ sẽ đi. Nhưng thế này. Bây giờ con tới trường trước, mẹ ở nhà nhồi xong bột bánh, ủ lại để sáng mai làm bánh. Nhồi xong mẹ sẽ tới trường.
- Rủi không kịp thì làm sao mẹ ?
- Ối, chút xíu có gì không kịp.
Bé Tơ lắc đầu :
- Rủi mẹ tới trễ hổng thấy con ôm hoa thì sao ? Bao nhiêu đứa muốn ôm hoa mà không được đó mẹ. Con Hồng này, con Ân này, con Lê này, tụi nó không được ôm hoa tức lắm mẹ ơi. Tụi nó kên con hoài.
Bà Bản nựng má con :
- Thôi sửa soạn rồi lên trường đi cô. Gớm, láu cái miệng quá. Giống y như bố.
Bé Tơ nghe đến bố vội kêu lên :
- Bố, bố đi đâu rồi mẹ nhỉ ? Lâu quá.
Bà Bản nạt ngang để khỏi phải trả lời câu hỏi khó khăn đó :
- Nhiều chuyện quá, súc miệng rồi sửa soạn quần áo để đi nghe. Nhớ mặc áo len vào. Có nắng mà lạnh lắm đó. Đến trưa có nóng quá hãy cởi ra.
Bà Bản đi nhanh xuống bếp để lo thúng bột ủ. Còn lại một mình bé Tơ vuốt ve bộ đồ mới, sửa lại gấu áo bên này, vuốt cái bím tóc bên kia. Bé uống một ngụm nước, súc miệng rồi nhổ ra ngoài cửa sổ. Xong xuôi bé la thật to :
- Thưa mẹ con đi.
Bà Bản cũng nói vọng lên :
- Ờ đi, chớ có tụ tập ngoài đường gây lộn gây lạo nghe.
- Dạ.
Bé Tơ tung tăng nhảy chân sáo ra cửa. Hai cái bím tóc đen như huyền nhảy nhót trên hai bờ vai cô bé. Nắng rót vàng lên từng ô áo, từng tế bào. Ngoài trời, bé Tơ hồng hào lên trông đáng yêu tệ.

Ông Bản nãy giờ nín lặng nhìn con và vợ. Ông nghe lòng rưng rưng muốn khóc. Giá ông được ôm vợ con vào lòng thì sung sướng biết bao. Ông nhìn con rồi lại nhìn vợ. Thời gian đi qua. Chỉ có ông là nhìn thấy thời gian đi và ông lo sợ tiếc nuối từng giây từng phút.

Khi bé Tơ khuất sau con ngõ hẹp, ông Bản mới ngồi dậy xuống nhà bếp tìm vợ. Bà Bản đang dùng cả thân hình gầy yếu của bà đè nặng lên hai tay hầu lấy sức nhồi bột. Mồ hôi trên trán nhỏ giọt dù trời hơi lạnh. Ông Bản nhìn vợ nói qua hơi gió :
- Mình ơi, tha lỗi cho tôi vì tôi đã không làm tròn được bổn phận làm cha.
Bà Bản nhìn dáo dác. Hình như có tiếng thì thầm nói với mình. Bà quay cả người ra sau. Căn nhà vắng lặng, chỉ có tiếng bột nhào ọc ạch dưới tay. Bà cho là mình tự kỷ ám thị nên tiếp tục làm nhanh hơn để kịp đi dự lễ.

Ông Bản đứng ngẩn người không biết làm gì. Ông không dám làm gì thì đúng hơn. Chắc mình phải ngồi đây để chờ mẹ con nó về. Nhưng ông chợt thay đổi ý kiến. Tại sao phải ngồi đây ? Ông quyết định nhanh chóng là theo bé Tơ đến trường. Một nháy mắt là ông đã ra khỏi cửa. Trời xanh trong và cao vút. Chỉ thoáng chốc là ông sẽ đuổi kịp theo bé Tơ.

________________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG II

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét