Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016

Chiều Tím - NGUYỄN THÁI HẢI


Chiều tàn đã lâu ; những tia nắng cuối không còn, đám mây màu lam phía cuối Tây trở nên sậm hơn, gió thổi nhẹ. Ngoại tôi ngồi im trên ghế mây, mắt dõi về phía cánh ruộng xanh rì một màu trước mặt. Những ngọn lúa vàng đong đưa khi có cơn gió thoảng, và lúc đó, bụi tre lên tiếng rì rào. Tất cả hầu như đang im lặng, cái im lặng buồn mà đẹp của cảnh đồng quê lúc màn đêm sắp phủ.

Chợt ngoại tôi quay nhìn tôi hỏi:

- Không đọc truyện nữa sao con?

Tôi cười, bỏ cuốn truyện nhi đồng xuống, với tay qua vuốt nhẹ chòm râu trắng, dài, đẹp của ngoại, đáp:

- Truyện buồn quá ngoại ạ.

- Truyện gì mà buồn?

Tôi không nhìn ngoại nữa, mà đưa mắt nhìn xuống nền đất lẫn đá sỏi bên dưới, đáp nhỏ:

- Truyện kể một đứa bé mất ngoại.

Ngoại tôi cười, chòm râu trắng rung rung. Ngoại xoa đầu tôi:

- Rồi con sợ con cũng mất ngoại chớ gì?

Tôi không đáp, mắt vẫn chưa rời nền đất. Ngoại tôi tiếp:

- Ngoại không bỏ con đâu… ngoại sống với con hoài…

Tôi nhìn rõ hơn nền đất, những viên sỏi, viên đá dính lẫn đất thịt như trở nên có hồn. Tôi nghĩ đến một ngày nào đó, ngoại tôi phải xa tôi, ngoại tôi bị vùi dưới nền đất này. Chỉ cách nhau một lớp đất, mà cách nhau cả đại dương ; chỉ cách nhau một lớp đất, mà muôn đời không thấy mặt.

Tiếng ngoại tôi cắt đứt ý nghĩ của tôi:

- Đói chưa con?

- Chưa đâu ngoại. Để tối hẳn rồi hãy ăn…

Ngoại tôi với lấy ly nước trà đặt trên chiếc ghế đẩu con cạnh đó, đưa lên môi nhấp một miếng. Khói trà thoảng từng làn mỏng, loãng dần rồi tan mất. Ngoại nói:

- Con hệt như má con hồi đó, chỉ ưa ăn cơm buổi tối…

Tôi cười nhẹ và nghĩ nhiều về chuyện ăn cơm tối. Tôi thích thế, tự nhiên thích thế thôi, không vì gì cả, cũng không vì trước kia mẹ tôi hay như thế mà tôi bắt chước. Vì làm sao tôi biết được mẹ tôi nghĩ thế nào về những bữa cơm tối. Riêng tôi, tôi cho là dùng vào buổi tối, người ta dễ thấy đầm ấm hơn. Bóng tối trùm bên ngoài là một cái chăn ấm giăng mắc chở che cho những người thân thuộc, với bao yêu thương, với bao thân ái. Những tình thương, những thân ái, những hơi ấm gia đình tỏa ra trong một khoảng không gian nhỏ bé quanh mâm cơm, hẳn làm ấm lòng, hẳn làm sung sướng. Cho đến mãi mãi, chắc chẳng bao giờ tôi quên được những bữa cơm tối với ngoại. Mâm cơm nghèo lắm, thường chỉ có rau với mắm. Nồi cơm nhỏ xíu đặt cạnh, trên chiếc bàn con. Ngoại ngồi một góc, tôi vẫn ngồi trên chiếc xe lăn. Hai ngoại cháu vừa ăn vừa trò chuyện – không bao giờ ngoại cháu tôi không có chuyện để nói – Già, ngoại tôi ăn chậm, hay nói chuyện, tôi cũng ăn chậm. Bữa cơm thường kéo dài. Nhưng thời gian với ngoại tôi, với tôi không có gì là đáng kể. Càng lâu, tôi càng cảm thấy nhiều ấm cúng. Mà tôi lại rất cần sự ấm cúng.

Mẹ tôi tái giá sau khi hết tang cha tôi. Năm ấy tôi lên tám và mới chỉ vừa nói sõi. Tôi sinh ra với một đời buồn thảm và khổ đau. Trời đọa tôi không đi được từ bé. Lên hai, tôi vẫn chưa đứng vững. Hai chân tôi èo uột, mềm nhũn. Tôi lại chậm nói, thật chậm nói. Ngoại tôi hay kể chuyện ngày tôi còn bé. Theo lời ngoại, dạo đó, tôi hay cười lắm. (Có lẽ trời đặt thế để bù vào nỗi khổ của tôi). Những chiều, ngoại hay ẵm tôi đi dạo. Một lần, mải nói chuyện với một người bạn, ngoại để tôi ngồi xuống nhà. Khi nhớ ra, tôi đã đâu mất. Ngoại hốt hoảng đi tìm, và mới thấy tôi lúc ấy đã bò ra tận ngoài ngõ, ngoái nhìn ngoại, cười. Kể đến chỗ này ngoại hay nói với tôi: “Thằng chó con thật đáng ghét, bò đi để ngoại hết hồn mà còn cười”. Và tôi hay cười giả lả, có khi nhìn đi chỗ khác, khi lại vờ vuốt chòm râu dài của ngoại, chòm râu với những sợi mềm, đẹp, tôi thích.

Ba tuổi, tôi mới bập bẹ những tiếng đầu tiên. Nhưng tiếng tôi nói trước tiên trong đời không là tiếng “ba”, tiếng “má”, mà là “đi”. “Đi”. Tôi cần đi, tôi thèm đi… thèm đi từ ngay dạo nhỏ, cần đi ngay đến bây giờ… Có lẽ vì nhu cầu di chuyển, tôi mới nói tiếng “đi” trước hết, cũng như những đứa trẻ khác, vì nhu cầu ăn mà nói “ăn”, vì nhu cầu tình thương, kêu, gọi mà nói “ba”, nói “má”. Tiếng nói đầu tiên trong đời, đến bây giờ nghĩ lại, tôi thấy đúng là tiếng khóc và là chính cuộc đời tôi. Tôi chỉ gọi được “ba”, “má” thật lâu sau đó. Nhớ đến ngày nói được tiếng ba, tôi phải thầm cảm ơn trời đất, vì nói được tiếng “ba”, gọi được cha tôi, bây giờ tôi mới không phải hối tiếc rằng không thốt được tiếng gọi người sinh thành ra mình, cho người nghe được tiếng con, cho người vui trước khi người khuất bóng. Cái chết của cha tôi thật bất ngờ, bất ngờ đến nỗi tôi tưởng như chẳng thể xảy ra. Nhưng cái chết đó vẫn xảy ra, đã xảy ra, cái chết đến sau một cơn cảm xoàng.

Rồi đến ngày mẹ tôi tái giá. Ngoại tôi ngăn con không được, buồn lắm. Còn tôi, tôi không có chút cảm tưởng nào, vì tôi còn bé quá. Nhưng lớn lên, biết chuyện, tôi thương mẹ tôi mà nghĩ rằng việc làm của mẹ tôi là đúng. Mẹ tôi lấy cha tôi vì cha tôi đi cưới mẹ và ngoại tôi bằng lòng, chứ mẹ, mẹ đã thương yêu người khác: người mà mẹ tái giá sau này. Sống trong bóng tối, người ta dễ nghĩ suy. Sống trong khổ đau, người ta lớn trước tuổi. Mới mười hai tuổi đầu nhưng tôi đã sớm biết nghĩ, và còn nghĩ nhiều nữa là khác. Tôi biết ai cũng cần tình thương, con người cần tình thương như muôn loài cần không khí. Tôi cần tình thương của mẹ cha, của ngoại. Ngoại tôi cần tình thương của cha, của mẹ tôi và của tôi. Cha tôi cần tình thương của vợ, của con. Thì mẹ tôi cũng cần tình thương. Tình thương không có được trong gia đình với cha tôi, có lẽ với tôi nữa. Thì khi cha tôi mất đi, và tôi được ngoại nhận nuôi, mẹ phải đi tìm tình thương mới. Có gì đâu phải oán mẹ. Đúng ra, phải thương mẹ hơn mới phải. Và tôi thương mẹ tôi nhiều, vẫn thương mãi mãi,,,

Bây giờ, cạnh tôi chỉ còn có ngoại. Nhiều lúc tôi sợ mất ngoại quá. Đọc truyện thấy kể một đứa bé mất ngoại, tôi nghĩ ngay đến mình. Nghe ai nói chuyện về một cái chết, tôi cũng nghĩ đến mình. Thời gian sẽ trôi đi, rồi sẽ đến ngày tôi phải xa hẳn ngoại tôi… Hồi đó, không biết tôi ra sao nữa…

- Nghĩ gì mà ngoại hỏi không nghe vậy con?

Tiếng ngoại tôi kéo tôi về thực tại. Trời đã đêm rồi. Mây biến thành màu sậm, bụi tre nhuộm đen. Ngoại tôi đứng lên, dáng nhàn nhã, tay cầm ly nước trà, tay cầm chiếc ghế đẩu, nói với tôi:

- Ở đây đợi ngoại đem đồ vô trước nghe.

Tôi dạ nhỏ. Dáng ngoại tôi hiền từ trong bộ bà ba trắng dần khuất vào bóng tối trong nhà. Chút xíu nữa trở ra, đem nốt chiếc ghế mây vào rồi, ngoại sẽ đẩy xe lăn đưa tôi vào nhà. Và rồi sẽ đến buổi cơm tối. Tôi lại sắp được sống trong cảnh ấm cúng với ngoại. Một cơn gió nhẹ, tôi khẽ rùng mình. Cái lạnh càng làm tôi mong chóng đến bữa ăn tối.

*

Ngày tôi lo sợ rồi cũng đến, đến vào một buổi chiều. Buổi chiều thường vẫn buồn. Ngoại tôi không còn đẩy xe đưa tôi ra ngoài ngõ ngắm cảnh, nói chuyện vu vơ cùng ngoại hơn một tuần. Ngoại ngã bệnh nặng. Tôi ngồi trên xe cạnh giường ngoại lo lắng. Ngoại tôi không nói gì và tôi cũng thế. Không biết ngoại nghĩ sao, chứ tôi, tôi sợ lắm; nhất là trong khung cảnh vắng lặng này. Gần sáu giờ chiều, bác Tư hàng xóm sắp đem cơm cháo sang cho ngoại cháu tôi. Tôi thấy thời gian như bị trì kéo lại và nặng nề trôi. Tôi muốn có bác Tư ở bên cạnh để bớt thấy cô đơn, bớt thấy lo sợ. Bác Tư đối với ngoại cháu tôi thật tốt, hỏi han, chăm sóc. Ngoại cháu tôi cũng mến bác nữa, vì tánh tình của bác, vì cái chất nhà quê tiêu biểu nơi bác. Một lần nghe tôi nói sợ mất ngoại, bác đã nói: “Còn có bác đây, bác sẽ lo cho con”. Tôi cảm động muốn khóc vì biết bác rất thành thật mà nói thế.

Ngoại tôi quơ tay tìm tay tôi. Tôi đưa tay cho ngoại tôi nắm. Ngoại quay nhìn tôi, cái nhìn hiền từ nhưng yếu ớt, nói:

- Bác Tư qua chưa, con?

Tôi đáp:

- Chắc cũng sắp qua rồi ngoại à.

Ngoại tôi gật đầu nhẹ, rồi nhìn tôi thật lâu, cái nhìn sâu như muốn soi thấu ý nghĩ tôi, ngoại hỏi:

- Con thương ngoại không?

- Thương…

- Con nghe lời ngoại không?

- Nghe…

- Ngoại có mất đi, con không được buồn nghe.

- …

- Chừng đó, con về sống với bác Tư nghe, bác Tư hứa với ngoại rồi, bác Tư hứa thương con như ngoại thương con vậy đó. Nghe con.

- …

- Chắc ngoại sắp bỏ con rồi…

Tôi òa lên khóc, úp hai bàn tay vào mặt. Nước mắt tôi trào ra, nhòa nhạt, tràn đầy. Vừa lúc ấy bác Tư sang. Đặt vội mâm cơm, cháo trên bàn, bác bước mau đến bên ngoại cháu tôi. Ngoại tôi nhìn bác Tư với ánh mắt ngời tin tưởng. Bác Tư bảo tôi nín khóc để xem ngoại muốn nói gì. Tôi nghe lời, nhưng thỉnh thoảng vẫn nấc lên. Ngoại tôi:

- Bác Tư giữ lời hứa với tôi nghe bác Tư…

Bác Tư rướm lệ nói lời hứa chắc. Tôi lặng nhìn hai người lớn. Ngoại tôi nhìn tôi lần chót, lại đưa tay tìm nắm lấy tay tôi. Tôi thấy tay ngoại lạnh giá. Ngoại khép đôi mi, môi thoáng nụ cười

Bác Tư đặt tay lên ngực ngoại tôi, cúi đầu. Đôi mắt bác đỏ hoe. Tôi biết chuyện gì xảy ra rồi. Nhưng tôi không khóc được. Nỗi buồn đau dâng đến tột cùng khiến người ta trở nên chai đá. Tôi nhớ lại ý nghĩ hôm nào. Ngoại bỏ tôi đi rồi, đi một lần thật xa. Chỉ cách nhau một lớp đất, mà cách nhau cả đại dương. Chỉ cách nhau một lớp đất, mà muôn đời không thấy mặt. Ngoại ơi không còn thấy mặt ngoại, không còn những chiều cùng ngoại ra trước ngõ ngắm cảnh, không còn những lần vuốt nhẹ chòm râu trắng của ngoại mà khen đẹp, để nghe ngoại mắng yêu: “Thằng chó con rờ râu ngoại hoài”, không còn những tối ngồi dùng bữa cơm đạm bạc, nhưng mãi mãi, hình ảnh ngoại còn trong con. Mãi mãi đó ngoại. Ngoại có nói với con đó: “Ngoại không bỏ con đâu, ngoại sống với con hoài”. Vâng, ngoại sống với con hoài… ít nhất cũng là trong lòng con. Ngoài kia chiều xuống rồi. Bóng tối đã đu đưa ngoài cửa, hình ảnh ngoại nằm đó mờ mờ… Con nhìn ngoại thật lâu đây, nhìn thật lâu để thu vào đôi mắt nhỏ bé của con hình ảnh cuối cùng về ngoại. Bộ bà ba trắng, chòm râu bạc, làn da nhăn… Chừng đó thứ muôn đời sẽ còn mãi trong con. Cũng như hình ảnh buổi chiều nay còn mãi trong con. Hình ảnh buổi chiều với từng làn mây tím, mỏng, nhẹ, vắt ngang khung trời màu xám, với bụi tre trước ngõ đứng im lìm, trời như chung cái buồn của con, không thoảng một cơn gió nhẹ. Vắng lặng quá.

*

Nhưng tôi không sống với bác Tư được lâu. Về với bác được hơn tuần, còn chưa quen hẳn với nếp sống cũng trầm lặng, cũng buồn tẻ của căn nhà với hai người thân yêu nhau như tôi với ngoại, có khác là thay vì tình thương của một người ông với đứa cháu, tôi sống trong tình thương của một người mẹ nuôi. Mẹ nuôi tôi, bác Tư, đã phải gạt lệ để tôi về chung sống với mẹ tôi, người đã sinh thành ra tôi.

Được tin ngoại tôi chết, mẹ tôi từ tỉnh về quê chịu tang. Mẹ tôi nói thật nhiều với tôi, và tôi biết qua những lời nói đó, mẹ tôi thương tôi lắm. Thương tôi nên mới để ngoại nuôi tôi bấy lâu nay hầu tránh cho tôi phải chịu cảnh cha ghẻ, con vợ. Thương tôi nên mới mỗi tháng cố tìm cách về quê thăm tôi dù công việc buôn bán trong gia đình mới của mẹ có bận rộn đến đâu. Thương tôi nên nghe tin ngoại tôi chết, mẹ mới xin bác Tư trả tôi lại mẹ, để mẹ bao bọc đời tôi, để mẹ làm bổn phận một người mẹ, bổn phận mà đáng lẽ mẹ phải làm sau khi cha tôi mất, mà vì không suy nghĩ kỹ, mẹ đã tái giá, mẹ đã đành lãng quên.

Tôi đã phải suy nghĩ thật nhiều trước khi quyết định theo sống với mẹ tôi. Đành thôi bác Tư, con biết bác thương con lắm, vì bác cũng có một đứa con như con, đứa con đã bỏ bác ra đi ngày vừa lên ba tuổi, sau cái chết của bác trai có hơn tháng. Con biết bác thương con vì bấy lâu nay, sống dưới này với ngoại, con đã tỏ những cảm tình trìu mến đặc biệt với bác. Con biết bác thương con vì bác muốn tìm tình thương, cũng như con, con cũng tìm tình thương. Nhưng vẫn còn tình thương của mẹ với con, tình thương ruột thịt. Đành thôi bác Tư, con biết bác sẽ buồn nhiều ; bác hay kể chuyện cổ tích, bác có nhiều chuyện cổ tích, bác thích kể chuyện, bác nói với con thế đó, bác muốn con ở cạnh bác hoài để kể chuyện con nghe, để bác vui thấy con nở nụ cười. Vậy mà con đành phải xa bác, xa người đã có lúc, con xem như mẹ. Bác Tư, con gọi nhỏ tiếng mẹ để tỏ lòng thương yêu của con với bác đây. Mẹ.

Bây giờ, tôi đang sống trong gia đình của mẹ tôi. Sống với tình thương yêu của mẹ, với sự chăm lo săn sóc của người cha nuôi, với những cảm tình đẹp của các em cùng mẹ khác cha. Mẹ tôi được hai con với cha nuôi tôi, em Hiếu và em Thảo. Hai em đối với tôi cùng rất mực nể trọng. Em Thảo hay hỏi chuyện tôi và đòi tôi kể chuyện ngày bé. Có lần tôi kể dạo bé, tôi đã từng bị sướt cả đầu gối vì bò trên đường đá, tôi thấy mắt em rưng rưng. Em Hiếu cũng thế, hay đem những chuyện bên ngoài, chuyện đi học, chuyện bạn bè kể với tôi, em bảo để tôi khỏi buồn vì suốt tháng ngày phải ngồi lì trên chiếc xe lăn không được đi đây đi đó nhiều. Còn cha nuôi tôi – tôi gọi là cha nuôi chứ không là cha ghẻ vì không muốn có chút ý nghĩ xấu về người, dù sao, người cũng là chồng mẹ tôi, người cũng nuôi tôi. Tiếng cha nuôi nghe êm đềm và đẹp hơn tiếng cha ghẻ nhiều. Người lo cho tôi đủ hết. Có riêng một người giúp việc lo cho tôi, đưa tôi đi xem cảnh phố, đưa tôi đi chơi công viên. Có từng tập truyện giải trí cho tôi đọc. Có thật nhiều đồ chơi cho tôi đùa nghịch. Những buổi tối đến, cha nuôi tôi cùng mẹ tôi và hai em Hiếu, Thảo ra trước hiên ngồi hóng gió. Tôi cũng có mặt nơi đó. Thôi thì bao chuyện được kể lể, được bày tỏ. Những nụ cười vui hòa trong từng làn gió đêm mát rượi làm tôi thấy đầm ấm, đầm ấm như không khí bữa cơm tối với ngoại tôi dưới quê. Có lúc, tôi tưởng như mình sống lại những buổi chiều im lặng và buồn với ngoại tôi. Tôi ước ao được sống những chuỗi ngày kế tiếp trong thương yêu như thế này. Tôi thấy mình đã quyết định đúng, và không chút hối tiếc nào cả.

Bây giờ, tôi thấy mình không còn gì thiếu thốn, có chăng, chỉ là ngoại tôi bằng xác thịt.

Một thời gian tôi tưởng mình đã tìm lại được tình thương đích thực, chẳng dè là mình lạc vào ảo ảnh. Một đêm, tình cờ tôi hiểu tất cả. Đang chập chờn vào giấc, tôi phải choàng tỉnh vì nghe tiếng khóc của mẹ tôi. Rồi liền đó, tiếng cha nuôi tôi:

- Bà phải biết là tôi đã chịu đựng quá nhiều rồi. Bây giờ thì tôi hết chịu đựng nổi…

Tiếng mẹ tôi hòa theo tiếng nấc:

- Mình đã thương em thì thương cho trót, bữa mốt đến giỗ anh Thường…

Giọng cha nuôi tôi gay gắt:

- Giỗ anh Thường… giỗ anh Thường! Sao mọi năm bà không đòi mà năm nay lại đòi?

- Vì năm nay có con em…

- Ra thế! Vì cái thằng què!

“Cái thằng què”. Tôi đó. Đứa bé mười mấy tuổi đầu còn chưa bước được một bước, mười mấy năm trời hết mẹ, cha bồng ẵm, ngoại bồng ẵm, lại đến ngồi lì trên chiếc xe lăn. Tôi đó. Tôi là “cái thằng què” theo nhận xét của cha nuôi tôi đó. Tôi thấy cay sè nơi mắt và thoáng chút ý oán hờn người cha nuôi. Cha nuôi tôi nỡ gọi tôi thế sao? Không chút thương hại à?

Nhưng tôi không nghĩ tiếp được nữa. Giọng mẹ tôi buồn thật buồn:

- Đừng mình. Dù gì mình cũng đã hứa với em là coi con em như con mình, dù gì nó cũng tàn tật…

Giọng mỉa mai của cha nuôi tôi:

- Phải, tôi có hứa. Nhưng hứa là vì tôi thương bà, vì tôi thương hại nó. Tôi lo cho nó đủ thứ hết rồi đó, có gì thiếu thốn đâu. Vậy mà bà còn oán, còn đòi này, đòi nọ…

- Tội nghiệp em, chỉ vì em thương con… Mình nghĩ xem, nó sẽ tủi thân biết chừng nào nếu bữa giỗ cha nó không có.

- Còn tôi sẽ sung sướng lắm đó?

Mẹ tôi không nói thêm. Tôi nghe những tiếng nấc vang lên. Cha nuôi tôi:

- Tôi nói lại lần chót cho bà biết là không có bữa giỗ nào ngày mốt cả. Tôi đi ngủ đây thôi.

Có tiếng chân cha nuôi tôi xa dần phòng khách. Tôi xoay mình vài cái mới nhận ra chiếc gối con của tôi ướt đẫm. Tôi khóc tự nãy giờ. Và những ý nghĩ xoáy tròn trong tâm hồn tôi.

Ngày mốt này giỗ cha tôi. Buổi sáng, tôi có nhắc mẹ, mẹ tôi bảo sẽ làm bữa giỗ vào buổi tối, vì hai mẹ con cùng thích buổi tối, và cũng vì cha tôi mất đi vào buổi tối nữa. Có lẽ mẹ đem chuyện nói với cha nuôi tôi và người không bằng lòng. Tôi nghĩ nhiều về việc này và thấy lúc nãy, tôi thoáng có ý oán cha nuôi tôi là bậy. Cha nuôi tôi chẳng có gì đáng trách cả. Là con người ai lại không có chút ích kỷ, nhất là về phương diện tình thương. Làm sao cha nuôi tôi chấp nhận được bữa giỗ cha tôi ngay chính trong nhà người. Giá là tôi, phải đứng ở địa vị của người, có lẽ tôi cũng hành động như người.

Còn mẹ tôi, đến bây giờ tôi mới hiểu mẹ hơn bao giờ hết. Mẹ tôi thương tôi quá, thương nhiều hơn tôi tưởng nữa. Trước kia, đối với việc mẹ tôi để tôi ở lại với ngoại dưới quê, nói rằng sợ tôi phải chịu cảnh cha ghẻ, con vợ, tôi chỉ nghĩ là mẹ có lý, chứ chưa biết được mẹ nghĩ thế là đúng, đúng hoàn toàn. Làm sao có được tình thương đích thực giữa những người không cùng huyết thống, nếu có, cũng chỉ là vay mượn tình thương ở nhau – cha nuôi tôi cũng thế, làm sao người thương tôi như con được. Người có nói rồi đó, người thương tôi tàn tật. Và chỉ vì thế thôi.

Ngoài kia vẫn còn những tiếng thổn thức của mẹ tôi. Tôi thấy tôi có tội. Tội do tôi tất cả. Đáng lý tôi không nên theo mẹ về đây để bây giờ khiến mẹ phải khổ sở. Đáng lý lôi không nên theo mẹ về đây để bác Tư buồn rầu. Đáng lý tôi không nên theo mẹ về đây để cha nuôi tôi mang bao phiền toái. Tội do tôi tất cả. Tội đó bắt nguồn từ lòng khao khát tình thương của tôi. Tôi hành động, tôi quyết định thế chỉ vì tôi muốn gần mẹ tôi, được sống với tình mẫu tử.

Bây giờ, tôi thấy mình phải chuộc lại cái tội đó. Tôi phải làm sao cho mẹ tôi không buồn, cha nuôi tôi không giận, bác Tư được vui nhiều. Tôi phải trở về quê, trở về để sống với kỷ niệm, với tình thương vay mượn nơi bác Tư. Trở về để những người thân của tôi không phải dằn vặt nhau vì tôi. Tôi không oán ai hết. Một lần, tôi nói với ngoại tôi: “Con chỉ muốn lúc nào con cũng thương ngoại, thương ba, thương má. Còn ngoại, ba và má có thương con hay không, con không cần biết”. Vâng, tôi chỉ muốn được lo lắng cho người thân và không cần một sự lo lắng đáp lại. Đời tôi vốn đã thương đau, có chịu thêm buồn khổ nữa cũng chẳng đáng gì. Lúc nào tôi cũng nghĩ thế. Và tôi nhất định sẽ tìm cách trở về quê.

Tôi chợt mở to đôi mắt. Màn đêm đen lắm, nhưng tôi thấy như trong màu đen đêm trường đó hình ảnh tôi ngồi trên chiếc xe lăn dưới bụi tre trước cổng nhà ngoại tôi.

*

Tôi đã về quê. Nghĩ mãi tôi mới tìm ra một cách để mẹ tôi đưa tôi về quê. Tôi biết nếu tôi nói thật ý nghĩ của mình, là muốn trở về quê, để mẹ khỏi chịu khổ, cha nuôi tôi khỏi bận tâm, ắt mẹ tôi không bằng lòng. Cho nên tôi đã nói dối. Tôi nói nhớ nhà ngoại và muốn về thăm. Ý tôi, khi về quê rồi, tôi sẽ nói thật và không trở lên tỉnh nữa. Tôi được toại ý. Trước khi người tài xế ẵm tôi lên ghế nệm chiếc xe nhà, sau đó, máng chiếc xe lăn của tôi đằng sau xe hơi, tôi đã nhìn một lần chót ngôi nhà tôi đã từng sống ở đó mấy tháng trời. Tôi nhìn thật kỹ cha nuôi tôi, hai em Hiếu, Thảo. Tôi vẫy em Thảo lại gần, nói nhỏ: “Đừng nhớ anh nghe Thảo”, với em Hiếu, tôi nói: “Anh đi chơi lâu lắm”. Làm sao lúc ấy hai em hiểu được tôi muốn nói gì. Thôi hai em ạ, biết làm gì để bận trí, hai em cứ coi anh như một cơn gió, thổi thoảng qua vùng trời nhà hai em trong một thời gian ngắn, rồi mất hút. Nhớ làm gì cơn gió thoảng. Rồi hai em sẽ quên được anh.

Mẹ tôi với gương mặt buồn bã trở về tỉnh sau khi không sao thuyết phục được tôi đi theo mẹ. Mẹ ơi! Lúc mẹ đi khuất rồi, con đã khóc đó mẹ và con chắc ngồi trên xe, mẹ cũng khóc. Nhưng khóc rồi, mẹ hiểu cho con nghe mẹ. Chỉ vì con thương mẹ, chỉ vì con không muốn chồng mẹ buồn. Con đã làm phiền người mấy tháng trời rồi, con không muốn người phiền vì con hơn nữa. Con đã sống trong tình thương của mẹ mấy tháng trời rồi, con thấy như vậy đã tạm đủ. Mẹ hiểu cho con chứ mẹ? Con của mẹ buồn vì phải xa mẹ đấy, nhưng cũng được an ủi đôi chút nhờ bác Tư. Bác đối với con chẳng khác gì mẹ đối với con. Bác là đại diện cho hình ảnh của mẹ. Con tưởng chừng bác là mẹ. Con tưởng chừng mẹ vẫn ở cạnh con.

Rồi những buổi chiều, con với bác Tư sẽ ra ngoài ngõ ngồi ngắm cảnh, con dõi mắt nhìn tận xa phía chân trời, tưởng tượng ra những hình ảnh cổ tích mà bác Tư kể bên tai. Chập chờn trong hình ảnh đó, còn có cả hình ảnh những người thân yêu của con. Ngoại, cha, mẹ, bác Tư, cha nuôi và hai em Hiếu, Thảo. Bác Tư đã trở ra với con rồi kìa. Bác đem theo mấy củ khoai lang còn bốc khói, ở quê chỉ có vậy thôi đó mẹ, đạm bạc lắm.

Bác Tư hỏi tôi:

- Ăn khoai nghe con?

Tôi dạ nhỏ. Bác ngồi xuống chiếc ghế mây, chiếc ghế ngoại tôi vẫn ngồi trước kia, lấy một củ khoai, bóc vỏ cho tôi. Vừa làm, bác vừa nói:

- Bữa nay bác kể cho con nghe một chuyện thật dài…

Tôi cười:

- Để đến tối nghe bác, con thích ngồi ngoài này hoài…

- Để nhớ đến ngoại phải không?

Tôi không đáp. Buổi chiều, đằng trời tây có vài sợi mây tím giăng ngang. Tôi nhớ đến buổi chiều ngoại tôi bỏ ra đi, cũng có mây tím giăng ngang như thế. Buổi chiều nào cũng buồn, mầu tím xem cũng buồn nữa. Nhưng trong buổi chiều, nhất là những buổi chiều có mây tím trôi tôi thấy tình thương giang trải thật nhiều. Một đời tôi, cuộc đời của đứa bé liệt chân, còn biết lấy gì làm vui ngoài tình thương nữa. Tôi muốn nói thật to: tôi cần tình thương nhưng tôi cũng thương tất cả mọi người. Và tôi sẵn sàng đánh đổi tình thương của mọi người đối với tôi lấy tình thương của tôi dành cho những người thân yêu, cho dù người thân nào đó không thương tôi thật tình đi nữa.

Lời cuối cùng tôi muốn nói là một lời xin. Xin những ai cảm thông với tôi, một phút giây nhàn hạ nào đó, nhớ đến tôi, cầu nguyện cho tôi sự an lành.

NGUYỄN THÁI HẢI 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 115, ra ngày 1-10-1969)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét