Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

MỘT CUỘC HỒI SINH - CHƯƠNG I


 CHƯƠNG I

MỘT THẰNG CHÁU

Bộ sa-lông lộng lẫy kiểu mới nhất và dĩ nhiên cũng đắt giá nhất trưng bầy mấy tháng nay tại một nhà sản xuất đồ gỗ danh tiếng ở Saigon, đường Hồng Thập Tự, vừa được trịnh trọng đưa về trang trí ngôi nhà tỉnh lẻ của ông Trưởng ty Trương đức Thúc.

Căn phòng khách được kê dọn lại có một bộ mặt hớn hở tả đúng tâm trạng của vợ chồng vị chủ nhân đang hân hoan tột đô. 

Không khí phẳng lặng của một tỉnh nhỏ được dịp xao động. Và người dân xúc động trước "biến cố".

Bạn bè thân thiết tới thăm không ngớt lời trầm trồ khen ngợi, thán phục. Họa hoằn mới có một đôi người mỉm miệng trầm ngâm, đứng lắng nghe tiếng cười thầm lặng của bốn bức tường vôi cũ như nhạo báng nét hợm hĩnh của những chiếc nệm gấm mới tinh.

Chúng kiêu căng là phải vì cả tỉnh, kể cả tư dinh của ông tỉnh trưởng, có bộ nào bén gót chúng đâu.

Khi phân tách từng điểm những cái đẹp, cái hay của bộ đồ gỗ mới sắm, cũng như khi khoe khoang giá cả, ông Thúc hân hoan như một vị công chức có lương tâm vừa hoàn thành xong một công tác lợi dân ích nước.

Bà Thúc hãnh diện tột bực tưởng chừng như do cuộc mua sắm này bà đã làm đẹp mặt cho bà con toàn tỉnh bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt của vợ chồng bà mà bà đã có công thu vén.

Bà vui và dễ dãi với tất cả mọi người.

Nhưng ngày vui thường ngắn, nhất là đối với những người ít có ngày vui. Như thằng Di, cháu gọi ông Thúc bằng chú chẳng hạn. Chú ruột. Nó không ngờ cái ngày phòng khách nhà chú nó được rạng rỡ hơn lại là ngày bắt đầu của quãng đời ấu thơ đen tối của nó.

Là vì bà Thúc, một con người luôn luôn biết lo xa, đã vội nghĩ đến ngày mai khi niềm vui ngày hôm nay vừa lắng xuống.

Trước khi đi ngủ, bà đã nghiêm khắc truyền lệnh :

- Tao giao bộ sa lông này cho thằng Di đó liệu mà giữ như giữ cái linh hồn nhỏ xíu của mày. Bất cứ lúc nào, tao không muốn trông thấy một hạt bụi trên mặt bàn, trên tay ghế. Tao không chịu nổi cái riềm đăng ten trên lưng ghế bị cong queo dăn dúm cũng như tao chúa ghét cái chân ghế bằng đồng nào không bóng lộn như vàng. Bình bông luôn luôn phải có hoa tươi. Cái gạt tàn bằng pha lê cũng phải luôn luôn trong suốt. Đó, liệu làm sao thì làm..

Quay nhìn hai người giúp việc nhà khoanh tay đứng gần đó, bà tiếp :

- Thằng Bộc, tao không khiến mày sớ rớ đến bộ sa lông quý giá này, nghe chưa ? Tay chân mày kệch cỡm quá, đụng vào đâu chỉ có làm hư, làm bẩn đồ đạc của người ta thôi. Còn vú già, công việc của vú là ở dưới sân, dưới bếp, tôi không mượn vú lên nhà trên táy ma táy máy...

Rồi bà hướng về thằng Di, kết luận :

- Nói tóm lại, trừ những khi nhà có khách, tao muốn mày lúc nào cũng có mặt bên cạnh bộ sa lông với một cái phất trần và một cái khăn lau thật sạch... Hiểu rõ chưa nào ?...

Thằng nhỏ ngập ngừng thưa :

- Thưa thím, cháu hiểu. Bắt đầu từ sáng mai, ở trường về cháu sẽ lo công việc lau chùi trước khi lo học bài, làm bài.

Người thím, giọng cong cớn, dè bỉu, dằn từng tiếng:

- Vậy mà mày la hiểu! Quân ngu có khác! Lúc nào cũng học, học ! Không có học gì hết! Từ giờ trở đi, không có bầy đặt đến trường làm gì cho tốn công, mất thì giờ. Biết đọc, biết viết, vậy đủ rồi. Học lắm chỉ tổ dở ông, dở thằng, chứ báu gì? Ở nhà mà học làm học lụng cho quen, nữa lớn chú mày kiếm việc nào tôn tốt cho mà làm, cũng đủ ấm cái thân...

Biết tính sắt đá của bà chủ nhà, cả hai người làm, cả thằng Di đều không dám hé răng cãi lại.

*

Thằng Tề nó đùa ở ngoài đường với bạn đã đời rồi mới trở về mách mẹ:

- Má có bảo anh Di anh ấy ở nhà không chịu làm bài cho con đó. Bài ngày mai phải trả, con cũng chưa thuộc nữa.

Bà Thúc quát vang:

- Di! Sao mày bướng bỉnh và làm biếng vậy ? Bài của em, sao mày không lo làm cho nó?

- Thưa thím, cháu có được đi học đâu mà hiểu được bài thầy! Ở nhà, cháu cũng không được phép mở sách ra coi thì làm sao cháu giảng lại cho em được.

Bà Thúc cong cớn :

- Á à! Thằng này lý sự! Những đứa ngu bao giờ cũng hay lý sự cùn. Tao chúa ghét cái thói...

Ông Thúc đi chơi về, mặt đỏ gay vì rượu dừng chân ở cửa. Nghe hai thím cháu đối đáp, ông mạnh dạn bước vào và can đảm lên tiếng can thiệp :

- Thằng Di nói có lý đó, mình. Ngày mai, mình cho nó đi học lại đi. Rồi buộc nó phải lo cho thằng Tề hết mình. Hễ thằng Tề không thuộc bài, phải ăn hột vịt thì mình cứ đánh tuốt xác thằng Di ra cho tôi.

Bà Thúc lườm chồng không đáp. Bà là người bắc bực kiêu kỳ thích người ta quy lụy van xin chứ không ưa những lời can khéo.

Tuy nhiên, dù không nhượng bộ ông chồng, bà vẫn phải lùi một bước nhỏ đối với thằng cháu:

- Thôi được, bà nói, cho mày vào lấy sách ra coi rồi làm bài lẹ lẹ lên cho nó.

Thằng Di vội vào phòng học lôi sách vở của đứa em ra cắm cúi đọc trong khi thằng Tề đi tắm rửa một cách thật an nhàn. Tắm xong, nó nhẩn nha mở tủ lạnh lấy trái cây ăn. Nếu anh nó không lên tiếng gọi, nó dám đứng đó ăn cho thích khẩu rồi đi ngủ luôn.

- Vào đây anh giảng cho Tề! Lẹ lên, còn làm bài nữa chứ. Muộn rồi.

Nó giẫy nẩy lên, không chịu :

- Anh cứ làm bài giùm cho em thôi, khỏi giảng mất công. Còn bài học, cứ để đó từ từ em học, thuộc chừng nào hay chừng nấy.

Anh nó ôn tồn giải thích :

- Anh làm giùm em cũng được, nhưng như vậy chẳng ích lợi gì cho em hết. Em không hiểu bài, học sẽ lâu thuộc. Và nếu thầy bắt em lên bảng sửa, em làm sao sửa ?

- Mặc kệ !

Thằng Tề nói rồi vùng vằng chạy ra mách mẹ :

- Má có bảo anh Di không, anh ấy không chịu làm bài cho con đó. Cứ đòi giảng lại bài hoài. Ở trong lớp đã nghe thầy giảng đầy hai lỗ tai, về nhà lại còn hăm tống thêm vào một mớ nữa, ai mà chịu cho nổi !

Nuông con một cách mù quáng, bà Thúc quát thằng cháu:

- Sao, sao, thằng kia? Sao mày cứng đầu, cứng cổ vậy ?

Di lễ phép trình bầy :

- Thưa thím, em con ở trường không chịu nghe lời thầy giảng nên học bài khó thuộc, nhất là bài chép vào vở lại chép sai.

- Sao mày biết là sai ? Bà Thục hỏi vặn.

- Tại vì câu văn trúc trắc, không ra đầu ra đuôi gì hết.

- Thì mày phải dò cho ra rồi sửa lại cho nó chứ!

- Vâng, cháu đã dò ra và sửa lại cho em rồi. Nhưng cái quan trọng là em phải học. Học thuộc rồi, em phải tự mình làm lấy bài. Như vậy mới có ích cho bản thân em.

Bà Thúc chưa kịp quyết định thì ông Thúc đã một lần nữa lè nhè can thiệp :

- Nó nói phải đó, mình. Bây giờ bắt thẳng Di lấy sách của thằng Tề ra mà học. Thuộc rồi, phải giảng kỹ lại cho em. Còn thằng Tề phải cố hiểu, học cho thuộc rồi tự mình làm lấy bài tập. Chỗ nào không rành phải nói với anh để anh giảng lại cho.

Bà Thúc gắt:

- Thôi, ông im đi cho tôi nhờ. Đi chơi cho đã đời, về lại còn bày đặt lên giọng thầy đời !

Và bà quát hai đứa nhỏ :

- Thôi đã khuya rồi đó! Thẳng Tề vào học đi một lúc. Thuộc hay không thuộc, cũng chỉ học một lúc thôi, còn phải đi ngủ cho lại sức. Còn thằng Di thì xem có những bài tập nào phải làm thì làm ngay cho em đi...

*

Buổi chiều, bà Thúc thường đi đến các nhà tai mắt quen trong tỉnh chơi. Đủ chân thì đánh bài. Không thì lê la nói ba điều bốn chuyện. Nhà đã có hai đứa, thằng con và thằng cháu, vừa học vừa trông chừng.

Hôm ấy, thằng Tề đang làm dở một bài toán thì hai thằng bạn cùng lớp thân nhất của nó sồng sộc chạy vào.

- Tề, đi đá banh, mày, thằng Lực rủ.

Thẳng Trí giục thêm :

- Mau lên mày ! Chúng nó đang đợi kia kia !

Liếc nhìn anh, thẳng Tề đáp ậm ờ :

- Đợi tao tí! Tao chưa làm xong bài toán.

Thằng Lực sốt ruột đến sát bàn học, nắm tay thằng Tề, lôi ra :

- Kệ ! Học làm gì! Hãy chơi cho sướng đã. Đi lẹ lên cho được việc, mày!

Thẳng Tề từ nãy đã nhấp nhổm muốn di, liền theo đà đứng phắt dậy. Nó nói:

- Anh trông nhà, em đi chơi. Sáu rưỡi em về.

Vẫn ngồi ở ghế, Di trả lời, giọng cứng rắn:

- Không! Ở nhà! Chú thím dặn phải học đến đúng sáu giờ mà !

Thẳng Lực buông tay bạn, quay phắt lại, quắc mắt, hỏi gay gắt :

- Mày là cái thá gì mà cấm cản chúng tao ?

Thằng Trí đứng cạnh, buông lời cay độc :

- Cái thứ thằng nhỏ ở không công mà cũng bày đặt...

Câu nói chưa dứt, hai đứa đã hoảng kinh thấy thằng Di đứng sừng sững trước mặt, hai tay túm chặt ngực áo hai thằng, mạnh đến nghẹt thở.

Mặt hầm hầm, thằng Di hất hàm hỏi:

- Chúng mày vừa nói gì ? Nhắc lại nghe coi!...

Sợ quá, thằng Tề năn nỉ:

- Thôi, anh Di, buông chúng nó ra. Thẳng Trí là con ông...

Điên tiết, thằng Di ngắt lời, tay soắn mạnh hơn cổ áo hai thằng :

- Con ông gì hỗn, tao cũng đánh !

Ngán sức lực của thẳng Di cao và to lớn hơn hai đứa, đồng thời sực nhớ lại để ngán luôn cái tài và cái gan đánh lộn của nó, hai đứa đành xuống nước :

- Thôi, cho xin lỗi đi bồ!

Khẽ đẩy hai đứa ra đàng sau làm cho chúng sửng vửng suýt té, Di mỉm cười khinh bỉ:

- Cút đi! Ai thèm bồ bịch với chúng mày. Từ giờ liệu hồn. Hỗn nữa là ăn đòn đó !

Bà Thúc vừa về tới, đã nghe thấy hết.

Bà vội quát thằng Di:

- Di! Không được hỗn !

Và bả lả với hai đứa kia :

- Dì xin lỗi hai cháu nghe! Hai cháu bỏ qua đi...

Được thể, hai đứa vừa rút lui chẳng thèm chào hỏi ai cả, vừa lầm bầm hăm he :

- Được rồi! Rồi cho biết tay !

Bà vợ sắp chu chéo lên thì ông chồng về tới. Kể khổ xong, bà than thở :

- Thế có chết không cơ chứ! Con ông tỉnh trưởng, nó cũng không tha. Tôi sợ phen này ông mệt lắm đa !

Ông Thúc cười, trấn an vợ :

- Khỏi lo. Chuyện này là chuyện trẻ con mà. Vía thằng Trí bảo, nó cũng không dám mách ba nó đâu, vì mách là ăn đòn. Ông tỉnh trưởng được cái không có nuông con làm bậy, nói bậy... Tôi biết ông ấy quá mà ! Nhưng có sợ là sợ vụ khác kìa :

Bà Thúc giật mình hỏi :

- Vụ gì ?

Ông Thúc thở dài đáp :

- Bộ sa-lông này này. Thiên hạ đồn ầm lên, thêm mắm dặm muối, đến tai ông tỉnh trưởng. Nghe như lão ta sắp sửa cho điều tra kín đáo lợi tức của vợ chồng mình. Và của nhiều người khác nữa...

Người vợ tái mặt, khẽ la lên :

- Chết! To chuyện đến thế cơ à ?

Người chồng vẫn bình tĩnh đáp :

- Chứ sao ! Vào lúc khác thì mệt lắm đó. Đối với công chức có đôi chút quyền hành thì một cái tóc là một cái tội. Đố ai có tài làm vừa lòng tất cả mọi người. Cho nên đã điều tra là dễ nẩy ra tội lắm... Nhưng đó là nói lúc khác, chứ bây giờ thì lại không sao.

- Chi lạ vậy ?

- Có gì là lạ đâu. Lão ta sắp sửa "bay" rồi! Anh Cảnh có tay ngai rất vững ở trung ương vừa cho biết như vậy đó.

Người vợ hớn hở hỏi dồn :

- Thế hả ? Có chắc không ? Bao giờ lão đi?

- Chắc chớ sao không chắc ! Họ khen lão ta giỏi, làm việc được. Phải có cái tội không biết ăn tiền và không biết nể nang ai. Mới về đây có mấy tháng mà đã đụng chạm lung tung. Gốc to, gốc nhỏ nào có sâu lão cũng định bứng đi hết. Vậy "bay" là cái chắc !

Bà Thúc hoàn hồn, cười tươi như hoa :

- Vậy là may hỉ ?

- May quá là may chứ còn gì nữa ! Lão mà vững ở đây lâu thì ngất ngư cả đám.

_______________________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG II >

Một Cuộc Hồi Sinh - CHÂN PHƯƠNG


Truyện : CHÂN PHƯƠNG

Loại hoa xanh

Tủ sách Tuổi Hoa - 1974









Sưu tầm và scan truyện : THU HỒ, NHIM XU

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

Người Khắc Bia Mộ (Truyện ngắn)

1
Mọi năm, mỗi lần Tết đến, bao giờ Sài gòn cũng được hưởng cái không khí gây gây lạnh thật quý báu. Dù không đến nỗi giá rét như những người lớn đã được biết ở ngoài Bắc, ngoài Trung hay sương mù như ở cao nguyên, thứ không khí dễ chịu êm ái mấy ngày Tết cũng làm cho người dân Sài gòn cảm thấy sảng khoái. Thế mà năm nay, trời không lạnh, lại như oi bức lạ kỳ. Không khí như loãng ra làm ai nấy cũng thấy ngột ngạt.

Chính cái ngột ngạt ấy đã kéo chúng tôi ra đường, nhường những mái tôn lụp xụp cho người lớn ra vào viếng thăm, chúc tụng.

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

Bưu Hoa Việt Nam thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa

Dưới đây là một ít tem tôi may mắn có được trong số những con tem phát hành thời Đệ-Nhất Cộng-Hòa.
Quốc-Hội Việt-Nam
Do nhà in Gieseeke and Devrient tại Munich (Tây-Đức) thực hiện. Phát hành: ngày 26/10/1957 nhân dịp kỷ-niệm Đệ nhị Chu-niên Cộng-Hòa Việt-Nam. Đề tài: Dựa theo một bức ảnh do Văn-Phòng Quốc-Hội của Đệ-Nhất Cộng-Hòa. Nội dung bản-đồ Việt-Nam, bản Hiến-Pháp, bàn tay cầm bó đuốc, tượng trưng Quốc-Hội Việt-Nam Cộng-Hòa. Ngày thu hồi: 31/03/1964 do Nghị-Định số 64/025/ND/CC 23/01/1964 của Bộ Giao-Thông Công-Chánh và Bưu-Điện
Quốc-Hội Việt-Nam
Quốc-Hội Việt-Nam


Khi Về Lại Quê Nhà



Em về chân chim sáo
Ngần ngại trên đường mưa
Ô những bờ rêu đá
Đã xanh trong ngày xưa
Những nụ cười bỗng lạ
Xa cách đến không ngờ

Anh Em


Nguyễn đi học một mình mà không thèm nhờ anh Phan chở như mọi ngày chỉ bởi một câu chuyện rất là… con gái:

 Anh Phan và Nguyễn đều thích chiếc tàu thủy mà cậu Lê mới cho, đáng nhẽ Nguyễn là con út, bố phải bắt anh Phan nhường cho Nguyễn mới đúng. Vậy mà trái lại, bố bảo chiếc tàu thủy đó dành cho anh Phan và Nguyễn không được rờ vào chiếc tàu đó. Tưởng như mình bị bỏ quên, tự ái bị tổn thương, Nguyễn đâm ra giận anh Phan và khóc từ lúc sáng đến giờ, bỏ luôn bữa cơm trưa. Nguyễn lặng lẽ xách cặp đi bộ đến trường. Đi được một quãng, Nguyễn thấy mỏi chân ghê. Cô bé nhớ lại những hôm anh Phan chở đi bon bon trên con lộ. Ngồi đằng sau chiếc Cady màu hoàng đồng xính xắn, Nguyễn thoải mái nhìn cảnh vật chung quanh, tai nghe hàng lá cây hai bên đường rì rào như thầm kể chuyện. Dạo này trời hay mưa nên thỉnh thoảng những giọt nước đọng trên các tàng lá rơi xuống trúng phóc cái mũ lông trừu của anh Phan. Nước mưa thường thường chảy dài xuống chứ ít khi thấm vào mũ vì anh Phan hay lúc lắc cái đầu mỗi khi Nguyễn đã “báo động”. Cũng có hôm trời mưa dầm dề. Con đường từ nhà Nguyễn đến trường nước bì bõm vì quá thấp. Anh Phan chở được một quãng, đến chỗ ngập nước, Nguyễn và anh dừng xe lại để lội nước mưa. Anh Phan dắt xe đi trước, còn Nguyễn ở sau tha hồ nghịch nước. Nguyễn rất thích vọc nước mưa nhưng ở nhà hễ trời mưa là mẹ bắt ở hoài trong phòng, không cho ra ngoài làm Nguyễn chỉ được len lén thò tay qua khung cửa kính, đập đập làm nước mưa văng tung tóe trên tay nghe mát rượi. Nhưng chơi mãi cũng chán và Nguyễn cứ mong đến giờ đi học. Nguyễn năm nay lên lớp bốn nên học vào buổi chiều, thường thì anh Phan chở nhưng đến trời mưa thì phải đi xe hơi với bố làm Nguyễn phải năn nỉ hết sức bố mới cho anh Phan chở một vài hôm, như thế cũng… ân huệ lắm rồi. Đi với anh Phan thì thật là sướng, Nguyễn tha hồ nghịch nước mà không sợ anh Phan mách mẹ vì anh thương Nguyễn lắm cơ! Nhà anh em nhiều nhưng đều đi học xa cả. Chỉ còn hai đứa con út ở nhà với mẹ. Anh Phan học lớp đệ lục và học giỏi ghê lắm, tháng nào cũng có lãnh bảng danh dự và thường hay được bố thưởng. Những lúc đó anh em đi ăn xá xíu hay hoành thánh ở ngã năm. Còn thừa tiền anh Phan mua Tuổi Hoa đỏ, còn Nguyễn Tuổi Hoa xanh. Sách mua về dành hôm nào chủ nhật đọc thỏa thê ; nếu hôm nào trời mưa thì thật thú vị. Hai anh em ngồi để cả hai chân lên ghế bành vừa ăn “lạc rang nóng dòn” vừa xem. Anh Phan thường đọc cho Nguyễn nghe những chuyện phiêu lưu thật hay và Nguyễn thường hay ngủ quên bắt bố phải bồng vào phòng, buổi mai thức dậy anh Phan nhạo làm Nguyễn phải dọa khóc mới thôi. Rứa đó, hai anh em thương nhau rứa mà chừ Nguyễn phải đi học bộ vì chiếc tàu thủy. Bố mà biết chắc giận lắm. Nguyễn nghe lo lo, giờ này chắc me đã sửa soạn đi xuống phòng mạch… mỏi chân quá, Nguyễn nhớ lại chiếc tàu thủy, nhớ lại anh Phan và thấy ghét chi lạ…


Tiếng chuông bãi học, Sơ Madeleine hát khởi đầu bài tan trường, tay gõ nhịp đều đều. Cả bọn làm dấu thánh giá chúc nhau ngủ ngon rồi sắp hàng ra về. Hôm nay Nguyễn xui ghê, bị Sơ mắng mấy lần, buồn muốn khóc. Nhưng lũ bạn cứ nhìn chăm chăm dị ghê. Cổng trường mở rộng, Nguyễn không đứng chờ ở gốc phượng như mọi lần mà lầm lũi đi thẳng.

- “Nguyễn! Lên đây anh chở về nhà. Mau lên, trời sắp mưa đấy”.

Có tiếng anh Phan đằng sau nhưng Nguyễn vờ như không nghe. Trời bắt đầu khóc ti tỉ, Nguyễn dừng lại để mặc áo mưa vào. Bây giờ thì mưa đã nặng hạt, bầu trời chuyển sang màu xám và chỉ một lát, mưa dầm dề. Nguyễn quay nhìn phía sau, anh Phan vỏn vẹn chiếc mũ, nặng nước mưa nên ướt sụp xuống trán, chạy gấp rút tìm chỗ trú. Nguyễn định bước lại về phía anh nhưng bỗng nhiên cô bé mím môi bước thẳng.


Nguyễn thức dậy thật sớm, nghe gây gây lạnh. Nhìn ra ngoài vườn nhưng không thấy anh Phan tưới hoa như mọi hôm. Cô bé tung chăn ngồi dậy. Có tiếng gõ cửa, chắc là me định thức Nguyễn dậy, cô bé cười một mình và tìm dép tiến lại cửa. Me bước vào, khuông mặt có vẻ lo lắng, lấy tay sờ đầu Nguyễn và bảo Nguyễn không được ra nghịch nước, chiều nay bố sẽ chở Nguyễn đi học vì anh Phan bị sốt năng. Nguyễn bàng hoàng, anh Phan bị đau? Thảo nào… bỗng dưng nỗi hối hận xâm chiếm hồn Nguyễn, phải chi hôm qua Nguyễn về lấy áo mưa cho anh ấy thì làm sao bị lạm nước được, phải chi hôm qua Nguyễn đừng giận anh ấy thì bố đã lãnh phần đi đón Nguyễn về cơ mà. Nghĩ lại Nguyễn thấy mình giận anh Phan vô lý thật, con gái ai lại đi giành tàu thủy với anh bao giờ, được anh chìu rồi cứ làm nư, may mà bố không biết chứ bố hay như thế này thì có lẽ Nguyễn không tránh được đòn. Không thể được, Nguyễn phải xin lỗi anh ấy mới được, Nguyễn không xứng đáng làm em của anh Phan tí nào. Lẽ ra Nguyễn phải ý thức mới đúng. Nguyễn phải ý thức ngay từ lúc này, nhưng điều quan trọng là phải xin lỗi anh ấy trước đã, Nguyễn bặm môi vặn cái xoay cửa. Cánh cửa mở, anh Phan nằm ngủ say trên giường, khuôn mặt đỏ lên vì sốt, môi khô và đỏ hồng, bên cạnh đó là chiếc bàn ngủ mà me đã tắt điện từ lúc nào. Nguyễn thấy một quyển sổ tay còn để trên bàn, tò mò, cô bé mở ra xem:

Ngày… tháng… năm :

“Cậu Lê cho chiếc tàu thủy của Nhật thật đẹp. Mình thích ghê. Chiếc tàu này mà đem lên trường khoe với thằng Bửu, thằng Tôn, chắc tụi nó “khoái” lắm, nhưng mà coi bộ bé Nguyễn cũng thích chiếc tàu này nữa. Thấy bố trao cho mình, mặt con bé bí xị trông thật tội nghiệp! Thôi mình nhường cho nó cũng được. Nhà chỉ còn hai anh em, con bé được chìu nên hay hờn, hay giận. Để lát mình mang cho nó mới được”.

Ngày… tháng… năm :

“Con bé giận rồi, chẳng sai, lúc trưa không thấy tăm hơi, nằm ngủ một lát, dắt xe ra chở nó đi học thì mới hay con bé đã đi lặng lẽ từ lúc nào. Thật mình bậy quá. Con bé đi trời này chắc dễ bị đau. Nghịch nước quá mà. Chiều phải đến sớm đón con bé về mới được”.

Ngày… tháng… năm :

“Chiều hôm qua, mình tưởng con bé xí xóa rồi, chẳng ngờ con bé giận dai làm mình bị một trận mưa ướt như chuột lột, chiếc xe lại chẳng thương tình, hư lên, hư xuống. Về nhà phải dối mẹ là để con bé ngoài cổng chứ không nó bị đòn tội nghiệp lắm. Ô hay! Mà sao bỗng dưng nghe trong người khó chịu quá. Chả lẽ hôm qua dầm nước mưa giờ bị đau hay sao chứ. Lạy Chúa, xin đừng đau, để cho con bé chiếc tàu rồi, chở nó đi ciné một chầu. Không biết con bé còn giận không nhỉ?”

Nguyễn gấp cuốn sổ lại, nước mắt viền quanh. Hối hận vỡ bờ, cô bé bước đến giường anh. Nghe tiếng động, Phan mở mắt he hé. Nhìn thấy Nguyễn, cậu bé ngạc nhiên, không hiểu vì sao con bé lại khóc ngon lành…


HỨA THIÊN HƯƠNG     


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 213, ra ngày 15-11-1973)

Chuyện của BÉ










Hôm qua bé đi học thật buồn
Một mình mà nước mắt trào tuôn
Chị Hoa, anh Dũng, sao tàn nhẫn
Không một ai đưa bé tới trường.
Đến lớp tủi hờn lên mắt ngọc
Con Huyền, con Thúy cứ cười chê
Thu Phương đi học mà còn khóc
Bé muốn bỏ về ngủ với me.
Cô giáo gọi bé lên trả bài
Không thuộc sang ngồi với con trai
Chao ôi bé thẹn chi là thẹn
Sóng mắt buồn xuôi đổ lệ dài.
Chừ bé không thèm đi học nữa
Ở nhà bắt bướm hái hoa chơi
Mẹ thấy suốt ngày không sách vở
Bèn la rầy mắng “Chó con lười”.
Và bé giả vờ con bị bệnh
Âu lo mẹ hỏi có sao không
Chị Hoa, anh Dũng thì toan tính
Cho bé uống Optalidon.
Sợ thuốc bé không làm biếng nữa
Mẹ cười : con mẹ thật hiền ngoan
Mai mốt mẹ mua cho bình sữa
Và nấu nồi khoai tặng cô nàng.
Rồi sáng hôm nay bé tới trường
Con Huyền, con Thúy thật dễ thương
Hỏi bé lâu rồi sao vắng mặt
Bạn bè ai cũng nhắc Thu Phương.
Bé hứa mình không làm biếng nữa
Để thầy và bạn mến thương luôn
Để anh chị bé khen ngoan ngoãn
Nhác học làm chi để mẹ buồn.
                                     
                                TRẦN MIÊN TRƯỜNG

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 102, ra ngày 15-3-1969)

Chiếc Lá Thuộc Bài


1

Không biết ở Mai có cái gì đặc biệt – mái tóc dài, đôi mắt to, hay giọng nói dịu dàng – mà hơn một tuần nay Thảo đã để ‎ý đến Mai thật nhiều. Mai không có gì cả. Thảo đã tìm kiếm một nét nào thật xinh nơi Mai để làm bằng chứng cho sự lưu tâm của mình mà không có. Mái tóc của Mai không óng mượt bằng tóc của cái Sơn ngồi cạnh Thảo. Đôi mắt của Mai đâu có to bằng đôi mắt của cái Hà. Và giọng nói của Mai nhất định là không dịu dàng bằng giọng nói của cô giáo. Như thế chắc chắn không phải là vì Mai xinh, Mai hiền… Nhưng vì lẽ gì? Tại sao ngày nào khi đi học về Thảo cũng nghĩ ngợi nhiều đến Mai? Thảo không hề tính đến chuyện làm quen Mai, nhưng sáng nào đến lớp, Thảo cũng mong gặp được Mai, với nếp áo màu xanh bao giờ cũng e dè sau lưng cửa. Mà rồi Thảo chẳng nói với Mai một lời nào cả. Thảo vẫn ngồi yên ở chỗ của mình và len lén nhìn lên Mai lẻ loi ở bàn đầu.

Đối với Thảo, thì một tuần học vừa qua thật thoải mái. Những bài học cô dạy cho, Thảo học rất mau thuộc, nhất là môn Việt Sử và môn Cách trí. Lần nào cô giáo giở cuốn sổ điểm ra là Thảo giơ tay xin lên trả bài trước. Và bao giờ Thảo cũng được điểm cao. Lớp có ba mươi trò, nên cô giáo chia làm hai, lần lượt trả bài. Trong một tuần, mỗi đứa được trả bài ba lần. Với Thảo thì là “được trả bài”, nhưng với nhiều trò khác, Thảo thấy phải gọi là “bị trả bài” thì đúng hơn. Và riêng với Mai, trả bài hẳn là một cực hình mà Mai phải kiên tâm gánh chịu. Cách một ngày Mai phải trả bài một lần, và cứ cách một ngày, Thảo phải ái ngại giùm cho Mai, khi nhìn lên thấy Mai đứng vòng tay bên cô, nét mặt bối rối. Trông Mai lúc đó như đang cố gắng nhớ lại bài học – đúng hơn là Mai đang moi trong óc ra một chữ nào để có mà đọc, mà trả bài cho cô giáo. Nhưng hầu như lần nào Mai cũng chỉ đọc đến hết một câu đầu. Và rồi Mai im lặng. Mai im lặng trong khi cô giáo thì nhìn Mai chờ đợi.

Bây giờ Thảo đã tìm ra lý lẽ nào khiến Thảo chú ý nhiều đến Mai. Phải, chỉ vì một nguyên nhân mà thôi: chỉ vì Mai là đứa học trò ít thuộc bài nhất lớp. Chưa có một trò nào không thuộc bài quá hai lần trong tuần đầu niên học này – ngoại trừ Mai. Tại sao thế? Mai lười? Mai không hiểu bài? Thảo khó tin điều này được, là vì nhìn gương mặt Mai, Thảo nghĩ rằng ít ra Mai cũng thừa tí thông minh. Còn nếu Mai lười, thì chắc chắn Thảo không được nhìn Mai cúi gập mình trên bàn gò từng nét chữ thon mềm, và giờ ra chơi Mai ngồi một mình, lặng lẽ xem lại từng trang vở.

Tự nhiên Thảo thấy mình như một người bạn rất gần của Mai rồi, mặc dù Thảo chưa một lần nói với Mai chuyện gì và mặc dù Thảo đang ngồi xa Mai cả mấy dãy bàn. Hàng ngày Thảo mang hình ảnh của Mai bối rối ngập ngừng trên bục gỗ về nhà, để Thảo thắc mắc nghĩ ngợi. Thảo không muốn Mai cứ bị ít điểm, bị cô rầy hoài. Những bài học đối với Thảo mới dễ thuộc làm sao! Thảo chỉ cần học thật kỹ ba lần, hay khó lắm là năm lần, rồi mẹ dò lại cho Thảo, là bao nhiêu chữ cứ như in hẳn vào óc Thảo, không thể nào quên được. Đến lúc trả bài, Thảo cứ việc đọc lên không suy nghĩ. Mà sao đối với Mai, sự thuộc bài lại khó khăn đến thế? Thảo mong có một hôm, Mai đọc bài thật làu, Mai được nhiều điểm, Thảo sẽ vui lắm. Mà hẳn Mai càng vui nhiều hơn thế nữa.

Có lẽ điều mà Thảo chờ đợi đã đến rồi đây. Sáng nay lại đến phiên Mai lên trả bài. Cô giáo như quá quen với những lần trước, nên mỉm cười hỏi Mai:

- Em thuộc bài không?

Mai gật đầu, nhưng đôi mắt không có vẻ sợ sệt như những lần trước. Mai có vẻ tin tưởng lắm. Cô giáo lại mỉm cười. Mai vòng tay lại, quay mặt xuống dưới nhìn các bạn. Và Mai bắt đầu đọc:

- Văn minh người Việt. Người Lạc Việt có nghề đánh cá là nghề chính. Còn nghề nông thì chưa phát đạt. Họ chưa biết dùng cày cuốc, trâu bò. Các Lạc vương, Lạc…

Mai im bặt. Đôi mày nhíu lại, Mai cố tìm trong óc những chữ kế tiếp. Cô giáo chờ đợi. Thảo hồi hộp. Cả lớp nhìn Mai.

Hai phút trôi qua. Mai vẫn chưa ra lời. Cô giáo nhắc:

- Lạc tướng…

- Các Lạc vương, Lạc tướng, Lạc… – Mai đọc.

- Lạc hầu – Cô lại nhắc.

- Lạc hầu…

Mai lập lại rồi im luôn. Mai không nhớ được gì nữa. Nước mắt Mai bỗng nhiên ứa ra. Mai đứng lặng, trên gương mặt Mai bày ra một sự khổ sở ghê gớm. Mai phải chịu cực hình này biết bao lần? Cô giáo vừa phê vào vở Mai, vừa nói:

- Cô tưởng lần này em thuộc bài, không ngờ lại cũng như mấy lần trước. Nếu cứ như thế mãi, em sẽ đứng chót lớp. Em phải gắng học, nếu hai lần, ba lần chưa thuộc, em cứ học mãi, năm lần, mười lần em sẽ thuộc.

Mai nghẹn ngào nói được hai tiếng “Thưa cô” nhưng nước mắt làm Mai không có can đảm đứng đó nữa. Mai ủ rũ về chỗ ngồi. Mai gục đầu trên vở. Mai khóc rất khẽ, song đủ cho Thảo nghe những tiếng nấc. Thảo thất vọng thêm lần nữa. Những lời cô rầy Mai, Thảo tưởng như đó là cô trách cứ mình. Có lẽ cô chưa hiểu Mai đâu, cũng như Thảo, như cả lớp, chưa ai hiểu được Mai.

Mai vẫn cứ khóc, khóc trong tiếng giảng bài của cô. Và đến lúc tiếng chuông reo tan học, các bạn xôn xao thu xếp ra về, Mai vẫn còn gục đầu khóc. Thảo không buồn cất sách vở, cứ nhìn lên Mai ái ngại. Thảo thương Mai vô cùng. Bây giờ, Thảo thấy mình cần phải làm quen với Mai. Thảo chưa có bạn. Mai hẳn là cũng chưa có bạn. Nếu Thảo được làm bạn của Mai, Thảo sẽ hiểu tại sao Mai không thuộc bài, và Thảo sẽ tìm cách giúp đỡ Mai.

Nhưng làm quen Mai bằng cách nào? Nếu Thảo đến trước mặt Mai, mở lời một cách máy móc: Mai à, tớ muốn làm quen với bồ – thì với Mai, Thảo sẽ là đứa vô duyên nhất đời. Nếu Thảo cho Mai một cành hoa ép, một gói ô mai, hay một cây kẹo mút? Không được, vì Thảo biết lúc này Mai chẳng ưa thích một thứ gì. Thảo phải tỏ ra tế nhị một chút mới gây được cảm tình với Mai. Trên kia, Mai vẫn khóc. Bạn bè về đã gần hết. Thảo còn băn khoăn nơi đống sách vở bề bộn. Cho đến lúc cái Sơn đến bên Thảo giục về, Thảo đành đứng dậy xếp sách vở vào cặp. Bỗng cái Sơn la lên:

- Cái gì ở trong quyển “Bài học lớp nhì” của bồ rơi ra kìa!

Thảo cúi xuống tìm kiếm. Mắt Thảo bỗng sáng lên. Vật này sẽ giúp Thảo làm quen với Mai: cái lá – vâng, Lá Thuộc Bài.


2

Không ai hiểu mình hết. Cả cô giáo, các bạn, cả Thảo – và ngay đến chính mình cũng không hiểu tại sao mình như thế. Ôi trời! Mình ước ao con số tám thật uyển chuyển, thật dễ thương nằm cạnh bài học của mình, thật là một hão vọng quá lớn lao. Mình biết phân trần với ai đây? Mà có gì để mình phân trần không? Trước sau gì mình cũng chỉ là con nhỏ lười biếng, không thuộc bài. Trước mặt cô, mình thấy mình tội lỗi. Bên các bạn, mình xấu hổ vô cùng. Mới vào học một tuần thôi, mà mình đã lãnh hai lần, con số hai nhục nhã trong vở rồi. Có ai biết mình khổ sở không? Mỗi sáng đến trường, lang thang trong sân, e dè trước lớp, mình thấy mình ngại ngùng với cả những bàn ghế vô tri, với đèn quạt, với bảng đen. Đèn nào có lười đến nỗi tắt nửa chừng trong giờ học? Quạt đâu có tệ đến nỗi ngừng quay thình lình như mình đã im bặt một cách trơ trẽn giữa lúc bài học chưa chấm dứt? Tự nhiên mình thấy sợ quá, những bàn những ghế những quạt, đèn và sổ điểm. Nhưng, vẫn như cái máy, mình phải đến ngồi ở ghế, xa lạ với xung quanh, và hồi hộp lo sợ lúc cô bước vào.

Ôi, nhục nhã ghê gớm, chính là buổi sáng nay. Cái gì đã khiến mình gật đầu mạnh dạn chứng tỏ rằng mình thuộc bài? Mình chắc chắn lắm mà, bài Việt Sử rất thuộc. Mình thấy rõ ràng từng chữ cơ mà! Nhưng các chữ “Lạc vương, Lạc tướng, Lạc hầu” làm cho bao ý tưởng ngưng tắc trong óc mình rồi. Mình không biết phải đọc gì nữa. Bao nhiêu chữ “Lạc” quay cuồng trước mắt, mình cố gắng đào bới trong trí nhớ, nhưng hết hy vọng. Cô nhắc bên tai chữ nào, mình lập lại chữ đó, rồi thôi. Trong trí nhớ mờ mịt như sương mù của mình, lùng bùng muôn vàn chữ, muôn vàn công chuyện. Rồi mình nhận lãnh lời trách móc của cô giáo. Con số tám đẹp đẽ lại một lần đi xa mình. Mình khóc không biết bao nhiêu, lâu mấy phút? Chỉ biết rằng từng chữ gò thật thẳng trong vở mình đã lòe loẹt, nhưng lời phê của cô và con số hai ác hại – viết bằng bút nguyên tử đỏ - không nhòe, chúng vẫn bày rõ trước mắt mình với ý đe dọa.

Khi về đến chỗ ngồi, lật trang vở ra, mình thấy những dòng chữ thật quen thuộc, mà sao mình lại quên đi? Đây này: các Lạc vương, Lạc tướng, Lạc hầu chia nhau đất để cai trị, cha truyền con nối. Đây này: tôn giáo đa thần; tục vẽ mình, nhuộm răng, búi tóc… , mùa xuân mở hội vui chơi, dùng trầu cau trong lễ cưới…. Đây này: đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy, chưa biết dùng giày dép… Rõ ràng quá, cô giảng đến hai lần, mình đã học rất kỹ… Nhưng sao mình chỉ nhớ có hai câu? Khi nước mắt khô, mình mới nhớ ra rằng: hai câu đầu mình học đến ba lần, nên thuộc. Còn cả đoạn sau, mình đã học trong mệt mỏi. Đúng là mình đã ngủ gục trên bàn, những chữ như lao xao trong óc mình. Mãi đến lúc bé Tư cựa mình khóc thét lên, mình thức dậy và phải vào mùng dỗ em ngủ. Thế là hết thì giờ cho mình học.

Đêm đó má cũng về thật trễ, thật khuya như bao đêm khác. Khi má về, mình phải dọn cơm lên cho má ăn – trước đó mình và các em đã ăn xong rồi. Má ăn chê dở, mình tủi thân ghê gớm. Mà chê là phải, vì những món ăn mình nấu quá tệ. Canh thì mặn chát và cá kho thì lạt phèo. Nhưng má không nghĩ lại cho mình. Mình mới chín tuổi đầu, tay chân còn vụng về yếu ớt, má đi giao cho mình tất cả công việc vì mình là chị cả mà. Chị cả thì phải làm hết, nếu không thì ai làm cho? Sáng dậy mình giặt quần áo cho má, cho mình, bé Ba và bé Tư. Giặt vừa xong là đến giờ đi học. Trưa và chiều, với cái lò dầu đặt dưới đất, mình lo các món ăn – tạm gọi là “món ăn” nhưng chẳng có thứ nào ra hồn. Buổi chiều vùi đầu quét dọn nhà cửa, rửa tắm cho hai em. Má đi suốt ngày không về ăn cơm với các con. Tối khuya má mới về, ăn qua loa rồi đi ngủ. Việc dỗ bé Tư ngủ lại là việc của mình. Cho đến khi không còn ai thức cả, là lúc mình mang vở ra học thì đã mệt rời, mình không còn sức để ngồi nữa, mặc cho chữ nghĩa rơi vào trong trí nhớ mịt mùng.

Ôi nếu ba mà biết được má vẫn thường bỏ con cái ở nhà để đi đánh bạc, chắc là ba sẽ buồn lắm! Và nếu ba biết tháng đầu niên học này mình bị hạng thấp, hẳn ba càng buồn hơn. Ở Ban Mê Thuột xa lắc ba đâu có hay biết bao nhiêu thay đổi ở nhà. Nào chiếc đồng hồ lớn treo trên tường, nào chiếc radio và mấy món nữ trang của má đã bị cầm, bị bán rồi. Nhưng không như những gia đình khác, khi có sự cầm bán là con cái được sung sướng hơn. Đàng này, mình thấy càng ngày mình càng thêm nhiều công việc nặng. Và bé Ba, bé Tư không được má chăm sóc miếng ăn giấc ngủ như ngày xưa – ngày ba còn ở nhà. Bao nhiêu tiền – tiền ba gửi về, tiền cầm bán đồ đạc – má đều đem đến sòng bạc. Để rồi có đêm mình thấy má về, mắt quầng thâm, má cáu gắt với các con. Má không buồn để ‎ý đến bé Tư ấm đầu hay bé Ba té trầy đầu gối. Và chắc là má cũng không buồn nghĩ rằng sự học đối với con cái má là cần ghê lắm. Giá ba đừng phải hành quân miền rừng núi xa. Giá thời cuộc đừng thay đổi, vật giá đừng tăng vọt để má không thấy gia đình thiếu thốn, thì đâu đến nỗi. Bé Ba, bé Tư không phải la lết bẩn thỉu vì thiếu má. – và mình đâu phải mang danh là đứa học trò ngu dốt, lười biếng nhất lớp thế này. Cờ bạc là cái gì mà lôi cuốn má dữ vậy? Má đi suốt ngày, má không nghĩ gì hết. A, đúng rồi, chả là cô giáo ở lớp ba có dạy mình năm ngoái: “Cờ bạc là bác thằng bần”.

Mình không muốn nghĩ nhiều đến chuyện này nữa, vì càng nghĩ mình càng thấy thiếu kém, thua sút nhiều đứa trẻ khác. Ngày mai có môn Công dân, không đến phiên mình trả bài nhưng mình vẫn phải học chứ! Ba đã dặn là dù không trả bài, không làm bài kiểm, mình vẫn không được bỏ quên, vì mình học cho mình mà. Bé Ba, bé Tư đã ngủ say. Má vẫn chưa về. Nhưng tối nay mình không thấy rã rượi mệt mỏi như bao đêm khác. Tự nhiên mình thấy tỉnh táo, và tìm gặp một sự an ủi lớn – là vì mình thấy cái lá thuộc bài trong sách của mình. Cái lá không có gì đặc biệt, trừ màu xanh rất đậm. Thế mà Thảo nói với mình rằng nếu ép lá vào vở mình học bài sẽ mau thuộc như Thảo vậy. Thảo dễ mến ghê đi. Thảo đến gần mình khi mình còn đang khóc thút thít. Giọng Thảo thật êm, thật ngọt: “ Mai nè, Thảo có cái này tặng ấy, ấy nhận nghen. Cái lá này, Thảo hái ở dọc đường, ép trong sách lâu ghê rồi. Người ta gọi là cái “lá thuộc bài” đấy. Thảo ép nó nên Thảo học bài mau thuộc ghê. Ấy thử ép vào sách xem sao nhé!”. Không biết có một cái gì làm mình thấy mến Thảo quá, giống như hai đứa đã là bạn với nhau từ lâu. Mình mắc cỡ ghê, mình chả biết nói gì với Thảo, vì nước mắt nó cứ chảy ra hoài – chắc là xấu lắm. Mình run run cầm cái lá, ép liền vào sách. Chỉ nói được hai tiếng “cám ơn” rồi mình vụt ôm cặp chạy liền. Ôi chao, mình vừa thẹn, vừa sung sướng.

Bài Công dân hôm nay hình như dễ học lắm. Những chữ rất thường đâu có gì khó. Mình đọc như đang hát một bài hát quen thuộc. Có lẽ cái lá thuộc bài sẽ mang đến cho mình một phép lạ. Mình sẽ mau thuộc bài, dù cho mình phải làm nhiều công việc đến đâu. Hay cái lá ấy là… một bà tiên - bà tiên của học trò?... Ô, mình thấy những chữ trước mắt nhòa dần, và chúng nhảy múa để kết lại thành một vòng mây. Cái lá thuộc bài bỗng biến thành một bà tiên, với chiếc áo rộng màu xanh rất đậm. Tâm trí mình như lâng lâng, tay chân mình cử động không nổi, nhưng mắt mình thì không rời hình ảnh của bà tiên…


3

Mai khóc như chưa bao giờ được khóc. Lần này cô giáo lại rầy Mai, nhưng hơn thế nữa, cô nói cho cả lớp biết rằng lười như Mai đến thế là cùng. Cô có hỏi Mai tại sao cứ thế mãi, làm sao Mai trả lời được. Giữ em, trò nào chẳng giữ em? Làm việc nhà, đâu có trò nào ngồi không! Từ lớp năm, ai cũng học những bài ám đọc khuyên phải đỡ đần cho cha mẹ. Còn nếu Mai kể lể hoàn cảnh “đặc biệt” của Mai ra, thì Mai xấu hổ lắm, mà vô tình Mai lại để cho mọi người nghĩ xấu cho má của Mai. Nên Mai im lặng nghe cô giáo la, nhìn bạn bè khinh bỉ mình. Nhưng Mai thấy Thảo đang gục đầu buồn bã. Thảo ơi, Mai nào có muốn thế! Mai cố gắng lắm mà! Cái lá thuộc bài của Thảo đó, ngày nào Mai cũng đem ra ngắm nghía, Mai để thật gọn trong sách. Mai tin nó giúp Mai thuộc bài. Nhưng không có phép lạ nào cho Mai hết. Đêm đêm Mai vẫn ngủ gục trên bàn, óc Mai nặng trĩu, Mai tối tăm quá đi! Không bài nào Mai thuộc đến ba câu. Mai phải đọc đi đọc lại từng chữ, mà sao chúng rơi rớt đâu mất, để khi đứng trước mặt các bạn, run rẩy bên cô, Mai không tìm được một chữ nào trong đầu. Không ai hiểu Mai hết, kể cả Thảo nữa, vì Mai không bao giờ kể cho Thảo nghe nỗi khổ của mình. Thảo tin ở cái lá thuộc bài. Mai cũng tin ở cái lá thuộc bài. Nhưng cái lá thuộc bài không giúp gì cho Mai giống như nó đã giúp Thảo luôn luôn đứng hạng cao.

Mai sợ những cái nhìn xoi mói của lũ bạn – Sơn, Hà, Thu… nên chờ chuông reo tan học Mai vội vã ôm cặp đi ra ngay. Đi ngang qua bàn Thảo, Mai nghe tiếng Thảo gọi lại:

- Mai, chờ Thảo một tí Thảo nói cái này.

- …

- Mai ơi, chắc là cái lá thuộc bài Thảo cho Mai nó… làm sao ấy. Để… Thảo đi dọc đường, Thảo hái cái khác cho Mai, chịu hông?

Mai nghẹn ngào:

- Thôi, Mai không cần đâu. Mai… chán học rồi!

Mai bỏ chạy ra khỏi lớp. Đầu óc Mai rối bời. Tự nhiên Mai thấy hận tất cả, hận luôn cô giáo, hận luôn Thảo, và hận luôn má của Mai.

Đường về nhà tự nhiên xa lạ đối với Mai. Nắng chói gắt gay làm Mai nhức đầu ghê gớm. Mai tưởng nếu có một ai đẩy nhẹ Mai một cái, hẳn Mai sẽ quỵ luôn giữa đường. Nhưng không, Mai vẫn lầm lũi bước đều về đến nhà, như một cái máy.

Bé Ba đứng đón Mai ở cửa, gương mặt hớt hải:

- Chị Hai! Bé Tư nóng đầu, bé Tư làm kinh…

Mai chạy bay vào nhà vất cặp lên bàn. Bé Tư nằm trên giường, mặt xanh ngắt, đôi mắt lạc thần. Người hàng xóm trao lọ dầu lại cho Mai, nói:

- Em hết làm kinh rồi cháu, nhưng còn mệt lắm. Cháu đắp mền cho em, rồi đừng gây tiếng động kẻo em giật mình.

Mai lí nhí cám ơn bác hàng xóm, rồi ngồi xuống bên em. Lần đầu tiên Mai phải săn sóc một người bệnh thế này. Mai chẳng biết làm gì cả, chỉ biết thoa dầu ở hai chân bé Tư mong cho em ấm áp lại. Tội nghiệp bé Tư quá, bé mất cả nét tinh anh. Bé gọi vài tiếng “má” làm Mai tủi thân ghê gớm. Giữa lúc này mà không có má bên cạnh, Mai thấy trống vắng quá! Mai biết làm gì cho em hết bệnh đây? Mai chỉ còn cách ôm em vào lòng, và nước mắt Mai ướt nhòe.

… Buổi tối má Mai về. Má ngạc nhiên khi thấy nhà cửa tối om, không một tiếng nói. Má hoảng hốt bật đèn lên…

Bé Ba nằm co ngủ trên giường. Bên cạnh, Mai ngồi ôm bé Tư còn thiêm thiếp. Tập vở bừa bãi trên bàn Mai. Lũ trẻ đã ngủ từ hồi chiều, quên cả ăn – vì quá mệt và buồn…


4

Bé Tư lành bệnh, nhờ bàn tay của má. Một tuần liền, má ở nhà săn sóc cho bé, chở bé đi chích thuốc, cho bé uống thuốc. Nhưng rồi má không đi đánh bạc trở lại nữa. Ba viết thư về, kể chuyện khổ cực ở miền núi. Má đọc thư ba cho chị em Mai nghe, đôi mắt má trĩu buồn. Má có vẻ suy tư ghê lắm. Má nghĩ gì trong đầu, Mai không biết. Nhưng có một điều làm cho Mai thấy vui rộn lên, đó là sự trìu mến chăm sóc của má đối với các con. Má không giao cho Mai giặt đồ, nấu bếp nữa, vì đã có má ở nhà làm hết rồi. Má săn sóc bé Ba, bé Tư như xưa, mà nhất định sự săn sóc của má hơn hẳn sự vụng về của Mai. Mai thấy căn nhà mình rộn rã tiếng nói cười. Má nhắc đến ba luôn, và má giục Mai viết thư cùng với má để thăm ba.

Tối nay khi má dỗ bé Ba, bé Tư ngủ say rồi, má đến bên Mai đang ngồi học ở bàn. Má vuốt tóc Mai mà đôi mắt long lanh. Má như muốn nói điều gì? Nhưng má thấy Mai còn nhỏ quá, Mai sẽ không hiểu ý má, nên má khó mở lời? Không đâu má, con hiểu hết mà! Con vẫn thương má vô cùng.

Má không nói những điều Mai dự đoán, mà má đưa tay giở từng trang vở bài học của Mai. Những lời phê của cô giáo – bằng mực nguyên tử đỏ chói – và những con số hai ở mỗi bài học đập vào mắt má. Luôn cả những chữ gò thật thẳng bằng bút mực xanh đã bị nhòe nhoẹt vì nước mắt của Mai cũng hiện trước mắt má. Má nhìn vào đó đăm đăm, rồi nhìn Mai. Mai không biết lấy gì để đo lường sự thương yêu trong ánh mắt của má. Có người hiểu Mai rồi! Chính là má! Má sẽ chẳng bao giờ nghĩ cho Mai là đứa lười học. Đã lâu rồi, Mai thèm được gần bên má, được má âu yếm, cũng như Mai đã thèm được lãnh con số tám dễ yêu trong tập.

Tự nhiên má ôm Mai, má hỏi Mai đang học bài gì. Đây này, môn Vệ sinh đó má, ngày mai cô giáo gọi Mai lên đọc bài. Mai sợ lắm, những lời chê trách, con số hai không đẹp, tia nhìn của bạn bè, nét buồn rầu của Thảo… Mai ngu lắm má à. Bài nào Mai cũng không thuộc. Mai xấu hổ quá! Trí nhớ của Mai mịt mờ như sương. Mai muốn khóc… Nhưng má đã cầm vở Mai lên, má giảng lại bài cho Mai, từng câu, từng chữ. Má bắt Mai học mỗi câu ba lần, rồi cả bài, và má bảo Mai đọc lại. Mai đọc hết bài rất trôi chảy. Má siết mạnh tay Mai. Mai muốn reo lên, và muốn khóc vùi trong lòng má.


5

Con số tám nằm gọn gàng bên bài Vệ sinh, kèm theo những lời khen của cô giáo làm Mai sung sướng đứng lặng. Mai thấy cái hãnh diện của kẻ thuộc bài. Mai thấy mọi người như mến phục Mai. Cô giáo hơi ngạc nhiên nhưng lấy làm hài lòng lắm. Bàn, ghế, đèn, quạt và bảng đen như cũng nhìn Mai trìu mến. Có lẽ sự thật không đến nỗi thế đâu, nhưng trí tưởng tượng của Mai, theo sự vui mừng, làm cho Mai thấy mọi vật như cùng vui với mình. Từ nay về sau sẽ không bao giờ Mai khóc vì không thuộc bài nữa, và Mai sẽ lên hạng, Mai được mọi người yêu.
Sự thuộc bài của Mai làm Thảo vui mừng. Thảo tin rằng nhờ cái lá thuộc bài của Thảo cho mà Mai học bài chóng thuộc. Thảo cũng hãnh diện, cái hãnh diện của một kẻ biết giúp đỡ người khác – nhất là giúp cho một người bạn thuộc bài. Thảo cũng tin cái lá thuộc bài là một bà tiên.
Nhưng Thảo không biết – và cả Mai cũng chưa biết – rằng cái lá thuộc bài ấy, hôm bé Tư bị bệnh thình lình, Mai đã hoảng hốt vất cặp lên bàn, sách vở bị tung ra, nó đã rơi xuống đất, và mất tích từ đó… 


 NGUYỄN THỊ MỸ THANH  

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 149, ra ngày 15/3/1971)

Tranh bìa của Vi Vi : Bích Châu

Cô và học trò nhỏ










1. Cô đứng đó, một mình trên bục gỗ
Nhìn phấn bay trong lớp học an lành
Các em ngồi mắt ngây tròn sáng rỡ
Và hồn xinh reo vạn nét tinh anh.


2. Nắng rất ngoan đóng khung bằng cửa lớp
Ngoài sân trường ươm một chút bâng khuâng
Cây vẫn cao lá xanh đều bóng rợp
Trống tan trường nắng dịu dưới gót chân.


3. Cô nhìn xuống thấy học trò chăm chỉ
Nét chữ mềm lượn múa một đời sau
Em thấy đó dòng mực nào tím ngát
Càng thêm xinh ở những bước chân đầu.


4. Rồi một mai các em rời lớp học
Như bầy chim tung cánh bốn phương trời
Cô vẫn đứng nghe hồn rưng rưng nhớ
Các em về như một kẻ lạ thôi.


                                TÔN NỮ THU DUNG 
                                 Thánh Tâm – Nhatrang

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 203, ra ngày 15-6-1973)
Nắng hè - ViVi

THẬP CẨM : thơ cho đời bình thường - NGUYÊN LY


Gọi hồn thơ của Thập Cẩm là thơ cho đời bình thường, hẳn nhiên sẽ có nhiều bạn thơ thắc mắc. Điều đó Nguyên Ly cũng đã nghĩ tới khi đã mang ý định chọn An làm người thơ xuất sắc trong vườn thơ chúng ta.

THẬP CẨM – NGUYỄN THỤY AN, hai mươi tuổi, vừa là thầy giáo vừa là huynh trưởng Hướng Đạo. An mới làm thơ khoảng một năm nay. Những bài thơ của An đều thiên về học đường, gia đình, hoạt động thanh thiếu nhi. Bằng những giòng chữ hiền lành, êm ái, những hình ảnh trong thơ An đều gợi lên cho người đọc một luyến mến nhẹ nhàng. Thơ của An giản dị, chữ dùng thật thà không kiểu cách, đó là một điều hiếm thấy trong “cách làm thơ” của những người trẻ hôm nay.

Mặc dầu mới làm thơ chưa đầy một năm nhưng vốn là nhà giáo, An rất cẩn thận ép mình trong khuôn khổ kỹ thuật, những bài thơ 5 chữ, 7 hoặc 8 và lục bát không vì thế trở nên gò bó. Trái lại, đọc thơ An, tưởng chừng như người thơ của chúng ta nghĩ gì, viết y như thế. Đọc thơ An, chúng ta thấy hình ảnh gia đình, học đường, xã hội thật gần gũi, thân thuộc. Tất cả đều là hình ảnh đời sống chúng ta. NGUYÊN LY có nói quá không khi gọi thơ của THẬP CẨM – NGUYỄN THỤY AN là thơ CHO ĐỜI BÌNH THƯỜNG? Mời các bạn thơ cùng thưởng lãm và nhận xét với NGUYÊN LY.

Có phải là hạnh phúc ?











Tặng An

Khi trên tay ngoan hiền viên phấn trắng
(Màu đãi bôi, lừa dối của cuộc đời)
Khi dõi mắt nhìn học trò thinh lặng
Có phải là hạnh phúc mãi không vơi?

Có phải là hạnh phúc mãi không vơi?
Lúc đang đứng giảng bài trong lớp học
Cây cối cũng ngoan ngoãn nghe tiếng người
Và bụi phấn nằm làm duyên trên tóc.


Và bụi phấn nằm làm duyên trên tóc
Bay vào hồn, vương buồng phổi lao xao.
Thương học trò, nên từng ngày khó nhọc.
Biết mai sau, có ai khóc tiễn chào?

Biết mai sau có ai khóc tiễn chào?
Hay chỉ hững hờ như mây là lượt.
Thôi, chỉ cầu học trò lớn lên mau
Theo lời giảng, làm con yêu đất nước.


Theo lời giảng làm con yêu đất nước.
Ôi học trò, vinh dự biết bao nhiêu.
Và lúc đó, có phải là hạnh phúc
Đã đổ vào tim, cuồn cuộn thủy triều?


                        LÊ NGUYỄN MAI TRẮNG


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 229, ra ngày 1-12-1974)