Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Mùa Xuân Nguyễn Huệ - NHẬT TIẾN

KỊCH LỬA TRẠI


NHÂN VẬT THEO THỨ TỰ TỪNG MÀN

MÀN I :

– Thầy Khóa

– Vợ Thầy Khóa

– Toán lính Mãn Thanh (từ 3 đến 5 người)

MÀN II :

– Quang Trung Hoàng Đế

– La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp

– 2 Võ Tướng

– 4 lính hầu

– 1 lính gọi loa

– Quân Quang Trung (càng đông càng tốt, 3 người họp thành một tổ, mỗi tổ có 2 người khiêng võng cho một người)

MÀN III :

– Tôn Sĩ Nghị

– 2 Tướng Mãn Thanh

– Lê Quýnh

– 2 người dân Việt

– 2 lính hầu

– 2 lính thám báo

MÀN THỨ NHẤT

(Xảy ra tại kinh thành Thăng Long)

(Bắt đầu vở kịch, thầy khóa đang ngồi đọc sách ở cạnh án thư, vợ thầy khóa ngồi may vá ở gần đó. Ánh nến leo lét, chập chờn)

TIẾNG HẬU TRƯỜNG : Mùa hạ năm Đinh Mùi (1787), vâng mật chỉ của Lê Chiêu Thống, Ngự sử Trần Danh Án cải trang làm lái buôn đi lọt qua biên ải để sang đất Mãn Thanh xin cầu viện. Cuối thu năm Mậu Thân (1788), Tổng Đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị cầm đầu 20 vạn quân rầm rộ tiến vào Thăng Long, ào ào như thác lũ, thế dữ như hùm beo. Tình cảnh nhân dân xứ Bắc lúc đó thật vô cùng khốn khổ. Luôn mấy năm mất mùa, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, có người phải đào củ chuối ăn thay cơm, luộc cỏ ăn thay cháo, nay lại thêm 20 vạn hùm beo xứ Bắc đổ xuống, đi đến đâu cũng cướp bóc giết người, oán khí ngùn ngụt bốc tỏa trời Nam, tiếng dân ta thán che mờ hai vầng Nhật Nguyệt…

(Trống chiêng nổi lên rộn rã kèm theo tiếng người hò reo ồn ào, hỗn loạn).

VỢ THẦY KHÓA : (buông rổ khâu, chạy lại phía cửa nghe ngóng rồi quay vào) Khổ quá! Thật sống ở kinh đô mà như nằm ở trên dầu sôi lửa bỏng. Nay nó cướp phá chỗ này, mai nó giết chỗ kia. Rồi không biết đến khi nào đến lượt mình đây.

THẦY KHÓA : (thở dài, buông sách ngồi trầm ngâm, một lát) Tình cảnh này thì đến phải bỏ Thăng Long mà về Kinh Bắc thôi. Ở đây thì lợi về cái mặt học hành thi cử đấy, nhưng… đất nước loạn ly, dân tình khổ ải, quê hương chịu muôn cảnh đau thương tàn phá, nói ra sợ mình buồn, chứ cả tháng nay tôi đọc sách thánh hiền mà như thấy muôn ngàn cảnh ngang trái, nhẩy múa trên từng hàng chữ, như thấy những ý tưởng cao siêu của tiền nhân biến thành muôn ngàn dao sắc cứa xé tâm can. (đập quyển sách xuống bàn) Thôi tôi quyết rồi. Thân làm trai nam nhi mà ngồi yên đọc sách lúc nước nhà nguy biến thì soi gương thấy hổ thẹn, khoanh tay ngồi nhìn đồng bào lầm than khổ ải thì ra đường không dám ngẩng mặt nhìn ai. Bọn hàng thần lơ láo nhà Lê đã cam đành thân phận trâu chó dưới gót giặc, há mình cũng ngồi yên để đành phận tôi đòi ngoại bang phương Bắc sao?

VỢ THẦY KHÓA : (xua tay) Chết! Chết! Mình ăn nói phải nên giữ lấy lời. Quanh đây có biết bao nhiêu là tai mắt của bè lũ nhà Thanh. Xẩy mồm xẩy miệng chẳng ích gì mà mang họa đến thân.

THẦY KHÓA : (hậm hực) Nhưng tức lắm không thể nhịn được.

VỢ THẦY KHÓA : Thời buổi này cái thân phải giữ lấy làm trọng. Nếu chưa có hoàn cảnh đem tài năng ra thi thố thì thà nhắm mắt bịt tai, chịu thu mình nhỏ lại mà đọc sách chờ thời còn hơn là tức khí nói răm ba câu chẳng ích gì mà uổng đến tính mạng một cách vô ích.

THẦY KHÓA : Thời cơ! Cứ ngồi khoanh tay mà chờ đợi thời cơ thì thân này tàn, chí này nhụt mà đất nước này cũng đành tiêu diệt dưới gót giầy của lũ sài lang. Nay ở đàng trong tôi nghe thế lực của Bắc Bình Vương mỗi ngày một thêm lừng lẫy, anh hùng hào kiệt bốn phương qui tụ về đó rất đông. Chẳng chóng thì chầy thế nào Vương cũng đem quân ra Bắc để giải ách thống trị nhục nhã này cho quốc gia, dân tộc. Tôi tuy tài hèn sức mọn nhưng thiết tưởng bổn phận của bất cứ người trai thời loạn nào cũng là phải đóng góp cái phần nhỏ mọn của mình vào Đại Nghĩa… (im lặng)…Mình nghĩ sao…

VỢ THẦY KHÓA : Vậy mình tính vô miền trong thật đó sao?…

THẦY KHÓA : Tôi đã suy tính kỹ càng. Chẳng còn cách nào khác để thoát khỏi kiếp sống tôi đòi, khốn khổ này…

VỢ THẦY KHÓA : (thở dài) Chí mình đã quyết, tôi cũng chẳng dám can ngăn. Hiềm nỗi mình đi rồi, tôi thân gái một mình, bơ vơ biết chỗ nào nương tựa!

THẦY KHÓA : Vì thế tôi mới bàn rằng mình tạm lánh qua Kinh Bắc tìm nơi nương náu. Đến lúc mình chắc chắn có chỗ an thân rồi thì tôi sẽ kiếm cách vô Nam. Ở đây bè lũ Mãn Thanh như bầy lang sói, thân sống trên đất nước quê hương mà không khác gì kiếp cá chậu chim lồng, sống chết không biết lúc nào, thật là đáng căm giận…

(có tiếng đập cửa cấp bách và tiếng ồn ào)

VỢ THẦY KHÓA : Chết! Cái gì thế mình? (Tiếng quân Mãn Thanh : Mổ cở, mổ cở, mau lên)

THẦY KHÓA : Quân Mãn Thanh! Thôi, tai họa đã xẩy ra đến với gia đình ta rồi… (cánh cửa bật tung và quân Mãn Thanh ùa vào).

Quân Mãn Thanh I, II, III : Ha ha… Tàn pà… tàn pà… hẩu lớ… xinh lớ… tốt lớ… (một tên xông lại toan ôm chầm lấy vợ thầy khóa)

THẦY KHÓA : (quát) Quân cẩu trệ chớ làm càn! (lôi vợ lùi về phía sau mình)

Quân Mãn Thanh I : Hà… Cái lị muốn chít hả… (xông lại định gạt thầy khóa ra)

THẦY KHÓA : (đẩy vợ chạy vào nhà trong rồi hét lên) Ngừng tay lại quân súc sinh. Tao dù yếu đuối cũng thề chết với chúng mày (lật chiếu lên rút ra một thanh gươm)

(Quân Mãn Thanh rút đao ra, ẩu đả hỗn loạn, một lát thầy khóa bị đâm chết)

Quân Mãn Thanh I : Tâu giồi… Cái tin tàn pà chại tâu giồi… (xông vào tìm, bỗng rú lên thất thanh)

(Theo tay chỉ của tên Mãn Thanh I, cả bọn cùng nhìn lên và cùng thất thanh kéo nhau bỏ chạy)

(Vợ thầy khóa đã thắt cổ tự vận, xác treo ở trên xà gỗ gần đó).

MÀN THỨ NHÌ

(Kịch xẩy ra tại Bàn Sơn, nơi Quang Trung lên ngôi Hoàng Đế)

TIẾNG HẬU TRƯỜNG: Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788) thể theo lời yêu cầu của ba quân, Bắc Bình Vương lập đàn Nam Giao ở Bàn Sơn, phía Nam núi Ngự Bình để tế cáo trời đất rồi làm lễ đăng quang lên ngôi Hoàng Đế lấy niên hiệu là Quang Trung nguyên niên. Ngày 29, Hoàng Đế thúc quân ra tới Nghệ An để chiêu mộ thêm binh mã. Trong vòng không đầy 10 ngày, dân chúng nô nức tình nguyện đầu quân, tổng cộng trên mười vạn người. Ngày 15 tháng chạp, trước toàn thể ba quân, dưới ánh sáng rực rỡ của muôn ngàn ánh đuốc soi tỏ cả một góc trời Nam (Đuốc thắp sáng vòng quanh lửa trại), giữa muôn ngàn tấm lòng sôi sục một hai thề liều chết vì non sông tổ quốc, Quang Trung Hoàng Đế xuất hiện trước ba quân để làm lễ xuất quân(chiêng trống rộn rã)

LÍNH GỌI LOA : Ba quân chú ý! Ba quân chú ý! Hoàng Đế giáng lâm! Hoàng Đế giáng lâm!...

(4 lính cầm đuốc chạy lên kỳ đài. Hai võ tướng tiến lên trước đứng hai bên. Hoàng Đế tiến lên sau, chiêng trống lại nổi lên rộn rã trong tiếng tung hô : Vạn tuế… Vạn vạn tuế…)

LÍNH HẦU : (chạy vào quì) Muôn tâu Hoàng Đế… Có La Sơn Phu Tử xin bệ kiến.

QUANG TRUNG : Cho mời vào…

LA SƠN PHU TỬ : Ẩn sĩ núi La Sơn vâng chiếu chỉ xin ra mắt Hoàng Đế…

QUANG TRUNG : Tiên Sinh khá bình thân. Trẫm sở dĩ triệu Tiên Sinh tới đây hôm nay là cốt để cùng Tiên Sinh họp bàn việc quốc gia đại sự. Nay trẫm muốn đem quân ra đánh gấp Bắc Hà, việc đó nên chăng?

LA SƠN PHU TỬ : Quân Thanh tuy đông và mạnh, nhưng ỷ thế làm càn, dân chúng càng ngày càng thêm oán thán. Lại thêm Sĩ Nghị kéo quân qua đây, chẳng đánh mà cũng chiếm được Thăng Long, hàng thần nhà Lê thì lơ láo cam phận tôi đòi, khiến quân tướng nhà Thanh kiêu càng sinh kiêu, khinh bỉ người Nam lại càng thêm khinh bỉ, do đó tất chẳng đề phòng. Nay Chúa Thượng đem quân ra đánh gấp, lòng dân đã có, thế giặc lại đang chểnh mảng, trên hợp ý trời, dưới hợp lòng dân, tôi chắc chỉ trong vòng mười ngày là chiếm được đất Thăng Long.

QUANG TRUNG : Lời của Tiên Sinh thật hợp với ý của ta. Đêm nay ta ra lệnh xuất quân vội vã cũng là do cái dụng ý đó…

LA SƠN PHU TỬ : (bái tạ lui ra).

QUANG TRUNG : Hỡi ba quân! (Hậu trường dạ ran) Trong vòng trời đất, chia theo phận sao Dực, sao Ngưu, Nam phương và Bắc phương vẫn riêng một non sông. Người Mãn Thanh không phải nòi giống ta, tất là khác lạ. Nay 20 vạn quân Thanh ùn ùn kéo qua Thăng Long, đi đến đâu cũng vơ vét của cải cho đầy túi tham, giết người như ngóe cho thỏa lòng dạ sài lang, hỏi ai là người nước Nam mà không căm phẫn, hỏi ai là con cháu Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo mà không thấy lòng sôi sục hờn căm. Vậy muốn trừ cái ách cho cả dân, cả nước chúng ta có đồng lòng đánh đuổi quân Tàu hay không? (tất cả hậu trường : ĐỒNG LÒNG) Ta mang quân ra Bắc chuyến này để trừ cái họa cho dân cho nước. Các quân sĩ muốn mưu cuộc thắng bại phải cùng với ta một lòng. Nếu kẻ nào không tận tâm chiến đấu hoặc ăn ở hai lòng thì lập tức chém đầu để nghiêm quân lệnh.(Toàn thể hậu trường : XIN TUÂN LỆNH). Ta với ba quân năm nay không ăn tết theo định kỳ. Mồng bẩy tháng giêng ta sẽ vào thành Thăng Long ăn tiệc khai hạ. Quân sĩ có đồng lòng với ta như thế không? (Toàn thể hậu trường : ĐỒNG LÒNG) Vậy chúng ta lên đường. Ba người họp thành một tổ, thay phiên mà võng nhau. Ta hẹn cho trong vòng năm ngày phải ra tới đất Bắc để đánh vào Thăng Long!

(Toàn thể hậu trường đồng ca bài VUA QUANG TRUNG. Trong khi ấy, quân Quang Trung từng tốp 3 người khiêng võng, cáng đi vòng quanh đống lửa nhiều lần cho đến khi bài hát chấm dứt…)

MÀN THỨ BA

(Cảnh tư dinh của TÔN SĨ NGHỊ)

TIẾNG HẬU TRƯỜNG : Ngày mồng ba tết năm Kỷ Dậu (1789), kinh đô Thăng Long tiếng pháo mừng xuân chen lẫn tiếng súng. Trong lúc muôn vạn hùng binh của Quang Trung Hoàng Đế vượt mọi gian nan trèo đèo lội suối từ Nam tiến ra Bắc thế mạnh như thác đổ, thì 20 vạn quân Thanh say sưa cùng rượu nồng dê béo.

TÔN SĨ NGHỊ : (lảo đảo bước vào, theo sau là tướng sĩ hầu) Vui lắm, say lắm, hảo a…

CHÚNG TƯỚNG : Tướng công say rồi, xin tướng công về trướng an nghỉ.

LÊ QUÝNH : Phải vậy đó. Xin Tướng Công hãy tạm dừng cuộc vui đến ngày mai. Bên triều đình An Nam chúng tôi còn dành rất nhiều thú vui để giải sầu cho Tướng Công mong bù đắp cho Tướng Công cái sầu của kẻ mùa xuân lữ thứ…

TÔN SĨ NGHỊ : Hay lắm! Hay lắm! Khá khen cho vua tôi nhà Lê biết ăn ở trung hậu, nhớ ơn quân sĩ nhà Đại Mãn Thanh phải vất vả, khó nhọc rời xứ sở qua đây để gìn giữ an ninh giùm cho đất Việt. Vậy thì còn gì vui nữa cứ bầy ra đây cho ta thưởng thức. Ta chưa say mà… (chập choạng) Ui cha…

LÊ QUÝNH : (săn đón) Đó… Tướng Công say thật rồi.., Để tôi xin dìu Tướng Công vô an nghỉ (quì xuống định cởi giầy cho Tôn Sĩ Nghị)

TÔN SĨ NGHỊ : (đạp vào mặt Lê Quýnh) Đã bảo ta không say. Đồ cẩu trệ, hãy mau mau bầy trò ra cho ta giải trí bằng không thì mất đầu bây giờ…

LÊ QUÝNH : (líu lưỡi) Dạ… Dạ… có ngay… có ngay… (lồm cồm bò dậy, quát) Bay đâu… Truyền đem đèn nến đốt thêm cho sáng tựa ban ngày để Tướng Công thưởng thức trò vui cho rõ ràng đa… (hậu trường DẠ ran)

TÔN SĨ NGHỊ : Tốt lắm! Tốt lắm!...

Người dân Việt I : (đội đèn đi vào)

TÔN SĨ NGHỊ : Hà hà… Trò gì đây? Nhà ngươi biết làm cái trò gì?

LÊ QUÝNH : Thưa Tướng Công. Mụ này chỉ xứng đáng cái chân đội đèn cho Tướng Công nhìn rõ mà thôi.

TÔN SĨ NGHỊ : Uổng quá. Người đẹp như vậy mà đội đèn thì uổng quá!

LÊ QUÝNH : (cười ha hả đắc chí) Vậy là Tướng Công chưa có biết giá trị của người An Nam chúng tôi. Còn nhiều, con gái nước tôi còn đẹp hơn thế này nhiều. Xin Tướng Công cứ bình tâm, có sá chi cái thân phận tôi đòi chỉ đáng đội đèn, xách nước này…

TÔN SĨ NGHỊ : (sung sướng cười) Khen!... Khen cho nhà ngươi thật xứng bậc trung thần của nhà vua họ Lê. Nay mai Chiêu Thống sang chầu, ngươi nhớ nhắc ta đề nghị ban thưởng và thăng chức cho, nghe!...

LÊ QUÝNH : (quì mọp xuống chân Tôn Sĩ Nghị) Kẻ bầy tôi trung thành xin muôn vàn cảm tạ công đức trời bể của Tướng Công, kẻ hèn này xin ghi tâm khắc cốt…

TÔN SĨ NGHỊ : (đạp Lê Quýnh ngã ngửa ra) Thôi! Lẹ lên đi! Có trò vui gì thì mau bầy ra, kẻo thì giờ là vàng bạc, chơi Xuân đi không Chúa Xuân chóng già…

LÊ QUÝNH : (lồm cồm bò dậy) Bay đâu… Hãy đem thêm đồ rượu thịt vào đây, để Tướng Công vừa nhắm vừa thưởng thức trò vui của bầy tiên nữ An Nam sắp sửa trình diễn…

Người dân Việt II : (đội mâm rượu thịt đi vào) Xin Tướng Công hãy dùng thêm rượu…

(Bỗng có tiếng chiêng trống, thanh la nổi lên ồn ào)

TÔN SĨ NGHỊ : Cái gì thế?...

Tướng Tàu I : Thưa Tướng Công, đó là dân chúng vui mừng đón xuân sang. Suốt ba ngày hôm nay, không lúc nào là kinh đô ngớt tiếng pháo…

TÔN SĨ NGHỊ : Hay lắm! Cho chúng nó vui đi, nô đùa thỏa thích đi, để thấy dưới quyền chăm sóc của ta, trăm họ được hưởng thái bình… (quay sang Lê Quýnh) Đâu… Còn tiên nữ An Nam của nhà ngươi đâu, sao không thấy chúng nó vào đây cho ta thưởng lãm?…

LÊ QUÝNH : Đêm còn dài, thời gian đối với Tướng Công còn vô tận. Xin hãy cạn chén rượu nồng này để cho chúng nó sửa soạn kỹ càng trước khi ra mắt Tướng Công.

TÔN SĨ NGHỊ : (cầm lấy ly rượu ngửa cổ uống một hơi) Thôi đấy nhé… Ta say lắm rồi. Ta say lắm rồi… (chiêng trống lại nổi lên ầm ĩ xen lẫn với tiếng reo hò) Ủa chúng nó làm gì mà huyên náo thế kia… Chúng bay ra coi thử xem có chuyện gì…

Lính thám báo I : (chạy sộc vào) Chí nguy… Chí nguy…

TÔN SĨ NGHỊ : Cái gì?… Ai cho nhà ngươi tự tiện vào đây?…

Lính thám báo I : Thưa Tướng Công… chí nguy… quân… quân… nhà…

TÔN SĨ NGHỊ : (quát lên) Đồ súc sinh hèn nhát. Có nói thẳng cho ta nghe không hay muốn mất đầu. Đại hùng binh Mãn Thanh có một tên yếu đuối như nhà ngươi thật là nhục nhã…

Lính thám báo I : Dạ… thư… ưa… Tướng Công… Công tôôôi… xin… xi… in nói… Quân… quân…

TÔN SĨ NGHỊ : Bay đâu! Đem chém thằng này cho ta… (lính dạ ran, xông lại xách cổ tên lính thám báo lôi đi)

Lính thám báo I : (líu lưỡi) Thưa… thưa… Tư… ớng… Công… quân… (bị kéo đi vào hậu trường. Trong hậu trường có tiếng hô CHÉM! Tiếng lính thám báo kêu ÔI CHAO!) Một lát tướng Thanh vào báo : Tuân mệnh Tướng Công, tên đó đã bị chém đầu

Lính thám báo II : (hớt hải chạy vào) Chí nguy! Chí nguy!...

TÔN SĨ NGHỊ : Lại mày nữa. Có điều gì hãy nói cho rõ ràng. Lúng túng một câu ta chém chết…

Lính thám báo II : Thưa Tướng Công, lửa cháy khắp kinh thành… quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ cầm đầu tràn vào vô số. Đề đốc Hứa Thế Hanh chết trận ở Văn Điển, Thái Thú Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn ở Gò Đống Đa… (trong hậu trường nổi lên tiếng thanh la, chiêng trống và những tiếng hô : TIẾN! TIẾN! SÁT! SÁT!)

(Toàn thể hậu trường đồng ca bài VUA QUANG TRUNG. Trong khi ấy Tôn Sĩ Nghị và chúng tướng cuống cuồng cổi cả giầy dép xốc quần, xốc áo chen nhau chạy vòng quanh đống lửa rồi chạy vào)

NHẬT TIẾN 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Nhâm Tý, 1972)

Một Chút Hương Thừa Của Tết - NGUYỄN THỊ MỸ THANH


Buổi sáng người đó lại đi vào xóm. Một sự viếng thăm tầm thường như vậy, nhưng lại rộn ràng hơn cả sự viếng thăm của một ông bộ trưởng. Có cả tiếng kèn tây nổi lên bài “Ly rượu mừng” và sau đó hàng trăm cặp mắt đều đổ dồn ra từ các khung cửa để dòm người khách lạ nhưng quen. Và cuối cùng, một bầy trẻ nhỏ, trước thì chỉ vài ba đứa, sau đông đảo dần, kéo nhau đi theo bước chân của người. Chúng nó líu lo hát theo bài nhạc đang được thổi kèn tây, bài “Ly rượu mừng” quen quá, ai cũng biết cả. Và tiếng kèn đó đang được người khách thổi với điệu bộ rất vui tươi. Chỉ bằng điệu bộ thôi, người ta nhìn vào và đoán là ông ta đang vui. Và tiếng kèn, nghe cũng hân hoan nữa. Thế thôi. Còn sau cặp kính đen ngòm kia, chẳng ai thấy được gì. Ông ta đã mất đi phương tiện thông thường và cao quý‎ nhất để diễn tả niềm vui: đôi mắt. Cả xóm này quen gọi ông ta là “ông già mù thổi kèn tây” – thật giản dị. Chẳng mấy ai thắc mắc ông ta từ đâu đến, người ra sao, và cũng không ai hỏi ai rằng vì sao mà ông ta biết quá nhiều bản nhạc để thổi kèn như thế. Mỗi lần đi vào xóm là ông ta thổi một bài mới. Chỉ biết rằng người dân lao động thật dễ dãi, nghe xong bài “Ly rượu mừng” bèn bỏ vào chiếc lon đeo trước ngực ông ta những đồng tiền kẽm.

Chỉ riêng thằng Quốc là không gọi ông ta bằng cái tên “ông già mù thổi kèn tây”. Vì trước đó đã có lần nó đến gần ông ta và nhận thấy rằng ông ta chưa già. Thật đơn giản. Nó cũng không gọi cây kèn tây, vì có khi nó cũng nghe ông ta thổi những bài dân ca nữa. Trong đầu thằng Quốc, thật sự chưa có danh hiệu nào để gọi người ấy cả. Nó cũng không muốn nghĩ đến người ấy như một kẻ hành khất. Người ấy không bao giờ mở miệng xin bố thí. Thằng Quốc biết rằng, kẻ xin ăn là một kẻ không làm việc gì cả, nhưng nhận ở người khác tiền bạc và thức ăn để sống. Nó hiểu một cách sơ sài như thế, theo định nghĩa của nó, nhưng đủ để phân biệt người thổi kèn này với một người ăn xin. Vì ông ta đã kiếm được tiền nhờ những bài nhạc. Đi từ đầu xóm đến cuối xóm, ông ta đã trổi ít nhất ba khúc hát. Và những người nghe – những thính giả dễ tính của xóm lao động –cũng đâu có khác gì những người giàu sang bỏ tiền đến phòng trà để nghe ca sĩ hát. 

Sự so sánh ngộ nghĩnh ấy làm cho thằng Quốc có ý‎ nghĩ ông khách này là một người nghệ sĩ. Phải gọi ông ta như thế dù ông không bao giờ xuất hiện trên sân khấu hay trên máy “ti-vi”. Thằng Quốc thích chạy theo ông ta để nhìn thật kỹ những ngón tay ông ta bấm trên thân cây kèn để “làm ra những nốt nhạc”. Và nó cũng khoái nhìn ông ta phùng to hai má để thổi ra những âm thanh. Hôm nay ông thổi bài “Ly rượu mừng” chán rồi thổi bài “Đón xuân”. Thằng Quốc ghét mấy bài nhạc mừng xuân lắm, nhưng nó vẫn chạy theo ông ta vì một sự thân mến nào đó có sẵn từ lâu. Nó cũng không trách ông ta được vì hôm nay là mồng năm Tết. Đối với người lao động của xóm nó, Tết chỉ có hai ngày thôi. Đến mồng ba là má nó đã thức sớm để đi bán trở lại. Nhưng với tụi trẻ con thì Tết có nghĩa là những ngày mà chúng còn được ở nhà, được ngủ đến chín mười giờ sáng và còn được chạy rong từ đầu trên đến xóm dưới để chơi bầu cua và đốt những cây pháo lẻ. Vì vậy đến mồng năm vẫn còn là Tết, đến mồng sáu mồng bảy vẫn còn là Tết. Người nghệ sĩ này có lẽ cũng biết như vậy. Và thằng Quốc bật cười khi nghĩ rằng ngày trước có lẽ ông ta cũng được nghỉ Tết đến mồng tám mồng chín mới đi học.

Lúc thằng Quốc cười, là đúng ngay lúc người ấy dứt tiếng bài “Đón xuân”. Vì đứng nghiêng nên nó thấy dường như đôi mắt của ông ta nhướng lên sau cặp kính. Dường như ông ta có ý‎ hỏi “Ai cười thế?”, nhưng ông không nói gì cả. Mà một thằng bé trong đám trẻ con đông đảo ấy lên tiếng:

- Đứa nào cười vậy?

Và một đứa đáp:

- Thằng cu Quốc.

Rồi một đứa nữa:

- Thằng con ông Thượng sĩ Hạc.

Đám trẻ con bỗng xôn xao lên, vì thằng Quốc quả thật đang “nổi sùng”. Nghe động đến tên ba nó, nó đỏ mặt lên, và tìm cho được đứa nào đã dám hỗn hào như vậy. Nó túm lấy cổ áo thằng bé kia, hầm hừ:

- Ai cho mày thèo lẻo, hở mày?

Thằng bé kia toét miệng ra cười, đưa cả hàm răng sún nham nhở ra. Thằng Quốc bực mình, trả đũa:

- Còn mày, mày là con của…

Nó im bặt, rồi tự nhiên buông thằng bé ra. Đám trẻ chờ đợi xem một màn ẩu đả, bỗng chưng hửng vì thấy thằng Quốc xìu mặt xuống. Hầu hết trong xóm này, đứa nào cũng muốn cho thằng bé kia bị đánh. Nhưng thằng Quốc thì không. Dù sao thằng bé đó cũng nhỏ con hơn nó, thua thiệt hơn nó và hay bị hiếp đáp. Quốc không muốn nói tiếp “Mày là con của ông hút” vì nó sợ thằng bé sẽ khóc. Thằng bé láu cá thế nhưng lại hay nhè. Nếu danh hiệu “thằng con ông Thượng sĩ Hạc” làm cho Quốc hãnh diện thì tiếng “con của ông hút” lại khiến cho thằng bé nọ xấu hổ. Thôi, chẳng nên mỉa mai thằng bé làm gì. Quốc nghĩ thế rồi làm thinh luôn.

2 

Buổi trưa người thổi kèn ngồi trên thềm nhà của thằng Quốc, lặng lẽ đếm tiền lấy ra từ chiếc lon đeo trước ngực và cất hết vào túi. Mọi lần, ông ta chỉ vào xóm nó như một người đưa thư, thổi mấy bài kèn và đi khỏi. Lần này ông lại ngồi nghỉ ở đây. Một dịp tốt để cho Quốc đến gần. Buổi trưa, khi bọn trẻ con tò mò và lười biếng đã về nhà ăn cơm, Quốc se sẽ đến gần ông ấy. Bây giờ nó mới nhìn kỹ hơn gương mặt của người, và nó giật mình. Chưa có ai giống ba nó như vậy. Từ hai năm nay rồi, thằng Quốc tưởng như hình ảnh ba nó đã phai mờ trong trí nhớ ngây thơ, nay bỗng nghe như ba nó sống lại, thật mạnh mẽ, thật linh hoạt, gấp trăm ngàn lần bức hình thờ trên chiếc tủ cao để trong góc nhà quạnh quẽ. Nó đứng sững nhìn người thổi kèn. Người này có lẽ lớn tuổi hơn ba nó nhiều lắm. Nước da sạm đen hơn và nét mặt cứng cỏi hơn. Và cuộc đời của ông ấy, có bi hùng như cuộc đời của ba nó không? Sau đôi mắt kính đen kia, có những nỗi niềm gì? Thằng Quốc bỗng thấy hơi se lòng. Nó muốn tỏ một cử chỉ thân ái, nhưng nó biết rằng sẽ vô ích vì ông ấy không thấy gì đâu. Nó ấp úng gợi chuyện:

- Bác ơi!... Sao bác không về nhà?

Người thổi kèn hơi xoay đầu để định hướng tiếng nói, và ông mỉm cười:

- Bác không có nhà.

- Bác ở đâu?

- Bác ở khắp nơi.

Người thổi kèn sửa lại gọng kính và hỏi:

- Trưa rồi, cháu không ngủ sao?

Thằng Quốc trố mắt nhìn. Ông ta biết đã đến trưa? Nó tự hỏi như thế và tự chế nhạo mình. Nếu đêm đến người ta ngủ và biết bao giờ là sáng để thức dậy, thì người nghệ sĩ sống trong sự tối tăm kia cũng biết bao giờ là trưa để tạm ngưng lao động vậy chứ. Thằng Quốc lắc đầu:

- Cháu không ngủ trưa. Bác đã ăn gì chưa?

- Có. Bác ăn bánh mì rồi. Nhà cháu… ở đâu?

- Cháu ở trong nhà này.

Người thổi kèn như muốn nhớm đứng dậy, nói:

- Bác ngồi đây, có phiền ba má cháu không?

- Má cháu đi bán ở ngoài chợ, chiều mới về. Còn ba cháu…

Người kia lại ngồi yên, chờ nghe tiếp câu nói. Thằng Quốc cúi đầu, giọng nhỏ lại:

- Ba cháu chết rồi bác ơi.

Có một lúc yên lặng trải qua. Thằng Quốc ngồi xuống bên người thổi kèn. Nó nhìn “cây kèn tây” vàng óng ánh đặt bên cạnh ông ta, bất chợt nó đưa tay sờ nhẹ vào cây kèn. Hơi đồng lạnh ngắt. Nó nghe tiếng người thổi kèn hỏi nhẹ như gió:

- Ba cháu còn trẻ hay đã già?

- Ba cháu còn trẻ, bác. Ba cháu chết trận năm kia.

Người thổi kèn bỗng gỡ cặp kính ra. Thằng Quốc thấy rõ một đôi mắt – không còn là một đôi mắt, mà chỉ là hai hố sâu được che lại bằng những vết sẹo nhăn. Thằng bé bàng hoàng. Gương mặt của người thổi kèn hết giống ba nó. Ba nó có một đôi mắt rất tinh anh và chan chứa yêu thương. Đôi mắt đó đã nhắm lại và yên ngủ đời đời. Nhưng nó không cảm thấy sợ sệt người đàn ông kia. Ông có một vẻ gì như là qu‎ý mến nó. Một cử chỉ ái ngại nào đó hình như đang biểu lộ trên gương mặt đã mất mát quá nhiều.

- Phải cháu là… “thằng con ông Thượng sĩ Hạc” hồi sáng không?

- Sao bác biết?

- Bác nghe giọng cháu nói, quen quen. Người ta gọi cháu như vậy luôn?

Thằng Quốc cúi đầu, nói giọng không buồn không vui:

- Hồi ba cháu còn sống, mấy người quen thân kêu cháu như vậy. Hồi ba cháu mất, cả xóm đều kêu cháu như vậy. Cháu không biết họ thương hay ghét cháu.

Người thổi kèn mỉm cười:

- Họ thương cháu đấy!

- Sao bác biết?

- Ba cháu có làm điều gì xấu không?

Thằng Quốc ngẩng lên, nói mau:

- Không. Ba cháu hiền lành lắm. Ba cháu đi lính. Ba cháu chết trận.

Người thổi kèn nói như vỗ về:

- Vậy thì là họ thương cháu. Họ nhắc đến tên ba cháu là họ thương ba cháu. Cháu phải hãnh diện khi nghe gọi như vậy.

Thằng Quốc cảm thấy thỏa mãn. Nó bỗng nghĩ đến biệt hiệu “thằng con của ông hút” và tội nghiệp thằng bé suý‎t gây lộn với nó hồi sáng. Nhà nó ở cuối xóm, và chỉ là một ổ chuột hẹp và tối. Ba nó hút thuốc phiện. Mẹ nó cũng hút. Mẹ nó chết trước ba nó, vì thuốc. Chẳng một ai trong xóm lấy đó làm lạ. Hình như cũng chẳng ai thương xót. Mẹ nó chết giữa khuya và mấy cha con nó đã phải ngủ chung với cái xác chết cho đến sáng, vì căn nhà ổ chuột chỉ vừa đủ đặt một cái giường – một điều khủng khiếp đối với thằng Quốc – nhưng với những người trong nhà ông hút thì đó là sự dĩ nhiên. Ngày hôm sau, một chiếc hòm gỗ được khiêng vào và khiêng ra khỏi xóm ngay. Đám ma giản dị và mau lẹ không ngờ. Từ đó chỉ còn lại ông hút. Ông hút tiếp tục hút và mấy đứa con tiếp tục sống khổ sở, tiếp tục đi xin cơm của hàng xóm và tiếp tục bị bọn trẻ hiếp đáp. Đời sống của cái gia đình thảm hại đó chỉ có thế mà thôi. Đôi khi thằng Quốc tẩn mẩn nghĩ rằng nếu rủi nó phải là con của ông hút thì sao nhỉ? Chắc nó sẽ khổ sở và tủi nhục lắm. Ông hút còn sống sờ sờ đó nhưng chẳng làm được việc gì với cái hình hài như xác ve. Lũ con có cha cũng như không. Cha nó không nuôi được chúng nó và cũng không có một chút gì để cho chúng nó lấy làm hãnh diện. Người thổi kèn nói đúng, thằng Quốc phải sung sướng với cái tên “thằng con ông Thượng sĩ Hạc”, một ông Hạc đã chết, và con của ông ấy có quyền hãnh diện.

3 

Buổi chiều thằng Quốc phải ra dọn hàng cho mẹ nó ngoài chợ. Người thổi kèn tiếp tục dạo trong xóm để thổi những khúc ca xuân. Nhưng ông hứa là sẽ đợi thằng Quốc về để thổi cho nó nghe những bài nhạc thúc quân – một điều mới lạ mà thằng Quốc được biết trưa nay. Người thổi kèn chưa bao giờ thổi loại nhạc đó cả. Và thằng Quốc biết thêm rằng người chẳng phải chỉ là người nghệ sĩ lãng du suốt bốn mùa, mà đã có lần người ra đi giống như ba nó. Đã có lần người tạm quên thú vui chơi. Và đôi mắt – đôi mắt thảm thương của người, là dấu tích của một cuộc đời xông pha. Trưa nay người đã kể chuyện cho thằng Quốc nghe như người cha kể chuyện cho một đứa con. Người chưa có một đứa con để cho nó hãnh diện. Chưa có đứa con nào nghe người thổi những bản nhạc hùng hồn. Thằng Quốc sẽ là đứa đầu tiên.

Thu dọn hàng xén cho mẹ xong, thằng Quốc lén chạy đi xem khắp chợ. Chợ mồng năm chưa đông đủ, lại là buổi chiều nên vắng như những ngày đầu Tết. Thằng Quốc dừng lại trước hàng đồ chơi con nít. Chỉ có hàng này là hoạt động suốt năm. Thằng Quốc không mê những món xe, ngựa, súng, pháo… nhưng lần này nó phải dán mắt vào hàng. Nó nhìn không chớp mắt một cây kèn đồng. Cây kèn nhỏ vừa tay của nó quá! Tự nhiên nó nghĩ đến người mù thổi kèn trong xóm. Nếu ông ấy dạy cho nó một bài nhạc thúc quân… a, thích thú làm sao! Nó sẽ tập thổi thật rành, đến ngày giỗ ba nó, nó sẽ thổi lên trước bàn thờ của ba nó. Tiếng nhạc sẽ quyện vào ánh sáng của hai ngọn nến trắng, lan ra cùng với khói hương. Ba nó sẽ “nghe” và hài lòng. Mẹ nó sẽ lắng nghe và sẽ khóc. A, nếu mà nó có được một cây kèn…

- Đi chỗ khác chơi, nhỏ!

Người bán hàng đồ chơi quát bên tai thằng Quốc làm nó giật mình. Có một ánh mắt dường như khinh thị nhìn nó. Nó lùi lại vài bước và bỗng cảm thấy xấu hổ. Trong túi nó không có lấy một đồng, nó không có quyền hỏi giá cây kèn – và nếu biết giá, cũng chưa chắc nó đã mua được. Nhưng màu đồng sáng quắc vẫn hấp dẫn nó quá. Nó đánh liều, hỏi:

- Ông cho cháu coi cây kèn đồng.

Người bán hàng xoa cái bụng úc núc, nhìn nó xoi mói:

- Có tiền không?

- Dạ… cháu có.

Người kia cười khẩy và đưa chiếc kèn ra. Thằng Quốc cầm lên ngắm nghía. Nó nuốt nước bọt và toan đưa lên miệng…

- Ấy ấy! Đừng thổi…

Người bán hàng la lên và giật cây kèn lại. Giọng nói của ông ta ra vẻ khinh thị hơn:

- Mua không? Ba trăm đồng.

Thằng Quốc ngần ngại lắc đầu, nghe nóng bừng cả mặt mày. Cây kèn được trả về chỗ cũ. Thằng Quốc quay đi và gặp ngay thằng con của ông hút đứng bên cạnh. Thằng bé chạy theo, hỏi:

- Ê Quốc, mày thích cây kèn đó hả?

Thằng Quốc đi nhanh hơn, trả lời:

- Ừ. Nhưng mà tao không có tiền mua đâu. Thôi, tao về hàng của má tao.

Thằng bé vẫn nói bên tai Quốc:

- Tao cũng thích cây kèn đó nữa. Bữa ba mươi Tết, tao suýt…

- Mày suýt gì?

- Sém tí nữa tao “chộp” được cây kèn. Tại ông già đó tinh mắt quá thấy kịp…

Thằng Quốc cau mày:

- Ổng có bắt mày không?

- Tao chạy. Chắc hôm nay ổng quên mặt tao rồi.

- Mày ghê quá! Đừng có ăn cắp chứ!

Thằng bé nọ bĩu môi:

- Ai có tiền thì mua mà chơi. Ai không có tiền thì đi ăn cắp.

- Ai dạy mày như vậy?

- Tao biết vậy.

Thằng Quốc đứng lại, nhìn kỹ thằng bé. Nó nhận ra rằng cả hai đứa nó đều xoan xoan bằng nhau. Chưa có đứa nào quá mười tuổi. Nhưng thằng bé này khôn ranh chẳng ai ngờ. Nó có nhiều ý tưởng kỳ khôi quá. Cả trên gương mặt non nớt kia dường như cũng có sắp đặt nhiều mưu kế. Thằng Quốc nói buồn buồn:

- Tao không tiền nhưng tao không nghĩ chuyện ăn cắp.

- Xạo! Mày ngu quá! Ai dạy mày vậy?

Tới lượt thằng bé này hỏi lại. Thằng Quốc quay mặt đi, nói một câu mà nó biết là rất sáo:

- Ba tao dạy, má tao dạy là phải sống trong sạch.

Thằng con ông hút cười khinh khích và bỏ đi. Quốc lang thang một mình trên hè chợ. Chợ vắng tanh. Tự nhiên lòng Quốc buồn một cách kỳ lạ.

Khi nó sắp trở về hàng của mẹ nó, bỗng nghe phía hàng đồ chơi có nhiều tiếng xôn xao. Thằng Quốc nghĩ ngay đến thằng bé ban nãy. Nó đoán không lầm. Đến gần thấy người bán hàng đồ chơi đang nhớn nhác nói lắp bắp:

- Tôi mới quay qua quay lại đã thấy nó chộp cây kèn đồng chạy mất. Nó… chạy ngõ kia kìa… Ai bắt lại giùm! Ối giời!... Mới đầu năm đã lỗ mấy trăm bạc. Rõ chán mớ đời…

Ông ta ngồi phịch xuống chiếc ghế đẩu, xoa xoa cái bụng tròn, ra dáng mệt mỏi. Đôi mắt ông ta bỗng dừng lại ở thằng Quốc. Thằng bé hoảng hồn lùi lại. Nó tưởng nó sắp bị tội thế cho thằng ăn cắp. Người bán hàng hầm hừ:

- Phước cho cái thằng ranh này. May là tao nhìn rõ mặt thằng kia, chứ không thì… khốn đó con!...

4 

Buổi tối thằng Quốc gặp lại người nghệ sĩ ở cuối xóm. Ông đã chờ nó để thổi kèn cho nó nghe. Nó dẫn ông về trước sân nhà. Mẹ nó đang gọt những củ cải để làm dưa món ăn Tết muộn. Bà không lạ người thổi kèn đặc biệt này. Nhưng bà hơi ngạc nhiên vì thấy ông ta đi với thằng Quốc. Hai người ngồi xuống thềm nhà. Người nghệ sĩ bắt đầu thổi bản nhạc. Đó là bài tập họp lính. Thằng Quốc khoái chí vỗ tay thật lớn. Dường như mẹ nó cũng vui lây. Người nghệ sĩ sửa lại cặp kính đen trên đôi mắt, hỏi nó:

- Hết bài rồi. Cháu muốn nghe bài gì nữa?

Thằng Quốc cắn môi ngẫm nghĩ. Nó bỗng nhớ ra bài hát gì nghe mang máng như “mờ trong bóng chiều một đoàn quân thấp thoáng…”. Nó hát câu đầu lên cho người ấy nghe. Ông ta nói:

- À! Để bác thổi bài “Chiến sĩ vô danh” nhé!

- Đúng rồi bác! Bài “Chiến sĩ vô danh” đó!

Cây kèn đồng sáng lên kỳ lạ. Người nghệ sĩ làm không gian cô đọng lại bằng bản nhạc u buồn. Thằng Quốc nghe se sắt lòng. Trên sân nhà cô quạnh người góa phụ cũng dừng tay, lắng nghe. Khi bài nhạc dứt, thằng Quốc thấy mẹ nó đưa tay gạt nước mắt và bà bỏ đi vào nhà. Nó im lặng ngồi bên người nghệ sĩ. Ông hỏi khẽ:

- Cháu làm gì đó? Bác chẳng thấy gì cả.

Tự nhiên thằng Quốc thấy ngậm ngùi. Nó nhìn cặp kính đen của người và nghe thương vô hạn. Bao năm rồi quen sống trong bóng tối, người đã cam chịu một mình. Có ai hiểu người đang nghĩ gì không? Một quãng đời xông pha đã khép lại. Một quá khứ oai hùng đã trải qua. Chưa có đứa trẻ nào được hãnh diện về một người cha nghệ sĩ – chiến sĩ như người cả. Người cô độc và lạnh lùng trong cảnh sống rộn ràng. Người không biết đến mùa xuân, nhưng vẫn thổi những khúc nhạc xuân. Người không biết đến ánh sáng, mà vẫn góp tiếng cho đời thêm rạng rỡ.

- Cháu làm gì đó?

Người ấy hỏi lại. Thằng Quốc đặt tay lên chân người, đáp nhỏ:

- Cháu ngồi đây.

Người nghệ sĩ cười nhẹ:

- Bác sắp đi.

- Bác đi đâu?

- Về chỗ trú của bác. Ngày mai bác về quê.

Thằng Quốc giật mình:

- Ủa! Bác về quê?

Tiếng cười lại cất lên:

- Chứ cháu tưởng bác không có quê sao? Bác dành dụm những tiền kiếm được đủ mua một 
vé xe.

- Bao giờ bác trở lại đây?

- Chừng nào bác thấy thích. Không chừng bác ở luôn dưới quê. Bác muốn dừng chân, không đi thổi kèn rong nữa.

Thằng Quốc tiu nghỉu. Nó muốn nói với người ấy rằng nó rất thích thổi kèn, nó muốn học nghề với người ấy. Nhưng thôi. Ông ta sắp ra đi và nó cũng chưa có một cây kèn nữa.

Rồi cũng đến lúc người nghệ sĩ ra đi, vì trời đã quá tối. Mẹ thằng Quốc đứng trên thềm nhà nhìn theo, mắt còn ướt lệ. Thằng Quốc đưa ông ta ra đầu xóm. Nó biết việc đó hơi thừa nhưng nó muốn làm vậy vì chợt nhận thấy ở nó và người nghệ sĩ này có một thứ tình quyến luyến. Nó nói, khi đã ra đến đường cái:

- Cháu chúc bác ăn Tết ở quê vui vẻ.

Người ấy nắm lấy bàn tay bé nhỏ của nó, cười:

- Hết Tết rồi, nhưng bác sẽ ăn Tết muộn vậy. Cháu rán học nhé, thằng con ông Thượng sĩ Hạc.

- Dạ.

Thằng Quốc chỉ biết “dạ” và đứng im nhìn người nghệ sĩ đeo cây kèn đồng trước ngực, quơ gậy bước đi. Màu đồng sáng loáng trong đêm và mất hút. Thằng Quốc buồn bã quay về và lại gặp cây kèn đồng – cây kèn đồng nhỏ trên tay một thằng bé.

- Cho mày mượn nè Quốc.

- Ở đâu vậy?

Thằng bé nhe răng cười:

- Còn làm bộ hỏi. Hồi chiều tao “thổi” chứ đâu!

Thằng Quốc e dè cầm cây kèn. Nó nghĩ đến người mù giờ này đã đi mất. Phải chi nó có kèn sớm, giờ này chắc đã thổi được bài “Chiến sĩ vô danh”. Nó muốn chạy theo người, nhưng chân vẫn dán cứng một chỗ. Thôi thì tập một mình vậy. Nó đưa cây kèn lên môi. Cây kèn nhẹ hều. Mặc cho thằng Quốc bấm nốt lia lịa, cây kèn vẫn chỉ phát ra được một tiếng “toe”.

Thằng con ông hút ngạc nhiên khi thằng Quốc trả cây kèn lại:

- Ủa, mày khoái cây kèn này lắm mà?

Thằng Quốc lắc đầu và bỏ đi. Nó chỉ thích cây kèn của người mù, vì cây kèn đó thổi được bài “Chiến sĩ vô danh” làm mẹ nó khóc, làm nó se sắt lòng. Nhưng người mù nghệ sĩ đã đi. Nó vẫn chưa có dịp thổi kèn như ông ấy. Nó tiếp tục sống đời sống của một cậu học trò nghèo, đời sống của “thằng con ông Thượng sĩ Hạc”, con của một người lính đã nằm xuống đời đời. Nó tiếp tục hãnh diện với những người trong xóm mỗi lần nhắc đến tên ba nó và sẽ hãnh diện với ý nghĩ “nghèo vẫn trong sạch” của nó.

Trước sân nhà, mẹ nó vẫn đang gọt những củ cải để làm dưa món ăn Tết muộn. Có tiếng thằng bé con ông hút thổi kèn “toe, toe” khắp xóm. Có tiếng người mù thổi kèn tây nghe mơ màng trong gió – “rừng trầm phai sắc, thấp thoáng tàn canh, hỡi người chiến sĩ vô danh…” – tưởng như người vẫn còn đâu đây.

NGUYỄN THỊ MỸ THANH

NAI - Tôn Nữ Thu Dung



                                       Gởi Nai – Ngày lìa rừng

xưa có chú nai ngoan
ngậm trên môi ngọn cỏ
về giữa vườn địa đàng
ươm mầm cây thương nhớ

kìa những lối chim bay
đường thênh thang trước nắt
có tiếng suối nào reo
chợt nhớ rừng quay quắt

còn một phút giây nào
soi mình bên khe nhỏ
còn một phút giây nào
chân về trên lối cỏ

rừng xưa ơi rừng ơi
tiếng gọi nào hiu hắt
như khúc cuối tiễn đưa
rồi hoài đời đuổi bắt

kìa những phấn hương bay
như chào nai lần cuối
ồ núi rừng vẫy tay
sao chùng lòng quá đỗi!

nghe gì đâu mùa đông
những nụ quỳnh đã hé
có phải đời trăm năm
về qua hồn rất nhẹ

nhớ tiếng lá vàng rơi
trên lối mòn cỏ mục
nhớ tiếng sáo chiều vơi
những vì sao quên mọc

kìa một mảnh trăng non
phơi gữa tàn lá rậm
đâu đây những giọt đàn
động lối về rừng thẳm…


                                           TÔN NỮ THU DUNG

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 231, Tết Ất Mão, ra ngày 25-1-1975)

Chiếc Bình Vàng - Cổ tích Arménie


Ngày xưa, có một ông Vua vô cùng độc ác.

Lòng ông ta cứng rắn đối với người cũng như đối với súc vật. Không bao giờ nhà Vua tỏ lòng thương xót một ai, cũng không bao giờ nhà Vua vuốt ve một con chó.

Tất cả, từ vật hèn mọn đến kẻ quyền quý, đều sợ hãi ông ta.

Và trên đời, nhà Vua cũng chỉ sợ có một điều : tuổi già.

Ngày nào nhà Vua cũng ngồi trên chiếc gối tựa của mình hàng mấy tiếng đồng hồ, với chiếc gương trong tay. Nếu nhìn thấy một sợi tóc bạc, Ngài vội vàng cho nhuộm lại. Nếu trông thấy một nếp nhăn trên mặt, nhà Vua nhẹ nhàng xoa nắn để tìm cách làm cho biến đi.

- Bởi vì, nhà Vua nói, tất cả mọi người sợ ta vì ta còn trẻ và khỏe mạnh, nhưng khi ta già rồi, sẽ không còn kẻ nào phục tòng ta nữa.

Và để không còn chút gì nhắc nhở đến sự già nua của mình nữa, nhà Vua ra lệnh giết hết những người già.

- Ta chỉ muốn nhìn thấy những gương mặt trẻ trung quanh ta mà thôi, Ngài phán.

Bất hạnh cho những người mái tóc đã trở nên bạc. Họ bị lính của nhà Vua dẫn ra những nơi công cộng. Ở đó, họ lần lượt bị chém đầu.

Từ khắp nơi, đàn bà, trẻ con, thiếu nữ, thanh niên, đổ tới kêu xin nhà Vua hãy tha mạng cho chồng, cho cha họ.

Nhưng nhà Vua vẫn bất động.

Cuối cùng, nhà Vua mệt mỏi vì đã phải nghe ngày này qua ngày khác những lời van xin và nước mắt. Ngài bèn gọi đám ngự lâm quân tới, truyền cho các người này, hãy đi khắp nơi, từ các ruộng rẫy, đồng bằng, làng mạc, đến các tỉnh thành, đại lộ, hang cùng, ngõ hẻm, truyền rao một ân đức của nhà Vua.

Đám ngự lâm quân vội vàng thắng ngựa tốt, phi đi khắp mọi nơi. Ở mỗi ngã tư, mỗi công trường, đám ngự lâm quân đều dừng lại, thổi kèn, kêu lên:

- Nghe đây! Nghe đây! Hoàng Thượng ban cho toàn dân một ân huệ. Ai vớt được chiếc bình vàng chìm dưới long trì trước cung điện, cha kẻ đó sẽ được tha mạng và được giữ luôn chiếc bình làm tiền thưởng. Lượng Vua ban thế!

Nhưng kẻ nào tới mà không vớt được chiếc bình, không những cha kẻ đó sẽ bị chết mà chính kẻ đó cũng bị chém đầu như cha mình vậy. Mỗi buổi sáng, hãy nghe cho kỹ, chỉ có một người được thử mà thôi. Lệnh Vua ban thế!

Ngay sau khi đám ngự lâm quân bố cáo xong lệnh Vua, từng đám thanh niên đã kéo nhau đến trước cung điện của nhà Vua.

Kẻ nào cũng muốn mình là người thứ nhất tới nơi, để vớt chiếc bình vàng và cứu mạng cha.

Việc có vẻ dễ dàng đối với những tay bơi giỏi và nhất là những người lặn hay.

Thành hồ dốc và cao. Và đứng nghiêng mình đi một chút người ta có thể trông thấy rõ ràng dưới đáy nước trong veo, chiếc bình vàng tuyệt đẹp, chạm trổ tinh vi, với chiếc quai cong thanh nhã.

Chín mươi ngày trôi qua.

Chín mươi cái đầu trẻ trung đã bị rơi xuống bởi vì, không kẻ nào trong đám chạm tới được chiếc bình vàng dưới mặt nước sáng và trong veo…

Thuở ấy, trong nước nhà Vua ngự trị, có một người con trai tên là Asker.

Asker yêu cha lắm. Và khi cậu nhận ra cha mình bắt đầu già, nhận ra những nếp nhăn đầu tiên hiện trên mặt cha, nhận ra những sợi tóc trắng thứ nhất mọc chen với những sợi tóc đen trên đầu ông, cậu bèn đem cha vào trong núi, cất một túp lều giữa những hang đá và giấu người cha già trong đó.

Và mỗi buổi chiều, sau khi mặt trời lặn cậu lén lút tới thăm cha và mang đồ ăn lại cho ông.

Một buổi chiều kia, Asker ngồi yên lặng rất lâu bên cha, trong túp lều.

- Con trai yêu của ta, đứa con hiếu thảo nhất trong những đứa con ta – ông già nói – nỗi lo âu nào làm con bối rối, nỗi buồn nào gậm nhấm tim con? Có phải con đã mỏi mệt vì mỗi chiều phải lặn lội đến thăm cha?

- Không, thưa cha, con không hề mỏi mệt vì mỗi chiều phải lặn lội lên đây. Để được nhìn thấy cha mạnh khỏe, để được nhìn thấy cha bình yên vô sự, con sẵn sàng vượt con đường dài gấp ba như thế, vất vả gấp ba như thế. Việc làm con bận tâm là việc khác. Ngày đêm con không ngớt nghĩ tới chiếc bình dưới đáy hồ nhà Vua. Con đã suy nghĩ mãi mà không hiểu nổi tại sao, khi đứng ở trên bờ ngó xuống, chiếc bình hiện ra rõ ràng đến nỗi, người ta tưởng chừng chỉ cần giơ tay cầm lấy. Thế nhưng, khi có kẻ nhào xuống, nước bị xao động, chiếc bình lại biến mất tựa bị đáy hồ nuốt đi.

Ông lão ngồi yên nghe con nói. Suy nghĩ một hồi, sau cùng ông hỏi con:

- Này con, ở ven hồ, chỗ phía trên chiếc bình, có một cái cây nào không?

Người con đáp:

- Thưa cha có. Trên bờ hồ, ngay ở phía trên chiếc bình, có một cái cây, cành lá rậm rạp.

- Con thử nhớ lại xem, cái cây có in bóng xuống nước không?

- Có, thưa cha, cái cây có in bóng xuống nước.

- Con hãy nói cho cha hay thêm, có phải chiếc bình được trông thấy đúng ở ngay trong bóng cây đó không?

- Vâng, thưa cha, đúng chiếc bình vàng nằm trong bóng đám lá xanh đó.

- Vậy thì con hãy lắng nghe cha đây – ông lão nói – Con hãy trèo lên cái cây đó. Ở đấy con sẽ tìm thấy chiếc bình vàng của nhà Vua. Chiếc bình con nhìn thấy dưới nước, chỉ là cái bóng của nó cũng như cái cây mà thôi.

Nhanh như một mũi tên, người con trai băng qua núi trở về nhà và ngày hôm sau, anh đến yết kiến nhà Vua để xin dự cuộc thử thách.

Chàng vừa tiến tới trước nhà Vua, vừa nói:

- Muôn tâu Hoàng Thượng, kẻ hạ thần xin mang đầu để vớt chiếc bình, kẻ hạ thần sẽ lấy được chiếc bình, và lần này Ngài sẽ phải giữ lời hứa.

Nhà Vua mỉm cười phán:

- Rồi sẽ hay. Ta chỉ còn thiếu một cái đầu nữa là đủ trăm. Con đã đến đúng lúc, hỡi con.

Người con trai nói:

- Kẻ nào còn sống sẽ thấy! Lần này Ngài sẽ thua cuộc và đầu hạ thần sẽ còn ở trên cổ.

Nhà Vua bảo:

- Nào, nhà ngươi hãy cứ thử thời vận xem sao.

Và nhà Vua ra lệnh cho các tôi tớ của Ngài hãy sửa soạn để chặt cái đầu thứ một trăm.

Asker tiến tới ven hồ và không ngần ngại một chút nào, thay vì nhào xuống nước như tất cả chàng trai khác trước chàng đã làm, Asker bước lại phía cái cây, ôm lấy thân cây và trèo lên.

Đám đông tụ tập quanh hồ đều thốt ra một tiếng kêu kinh ngạc và thương hại.

- Chàng trai khốn nạn – những người này bảo – sự sợ hãi đã làm cho hắn điên rồi.

- Có lẽ hắn muốn leo lên cây cho cao để nhào xuống – những người khác nói.

Trong khi ấy, Asker đã leo lên tới ngọn cây, và ở đó, chàng đã khám phá ra chiếc bình vàng, cổ nhỏ, chạm trổ tinh vi với chiếc quai cong thanh nhã, treo trong đám lá.

Chỉ có điều chiếc bình đã được treo ngược, để có vẻ như được đặt dưới đáy nước trong, nơi mà nó tự phản ảnh như trong một tấm gương.

Chàng trai trẻ gỡ chiếc bình, mang tới cho đức Vua.

Nhà Vua vô cùng ngạc nhiên. Ngài phán:

- Ta không tin nhà ngươi có thể thông minh đến thế. Có thật chính nhà ngươi đã nghĩ ra được cách lấy chiếc bình không?

Asker đáp:

- Không, một mình kẻ hạ thần không nghĩ ra được việc đó. Nhưng kẻ hạ thần có một người cha già, kẻ hạ thần đã phải mang giấu trong núi, xa các tôi tớ của Ngài. Chính cha của kẻ hạ thần là người đã đoán ra nơi có chiếc bình.

Nhà Vua trở nên tư lự, bảo:

- Nếu vậy, thì ta tin rằng người già khôn hơn người trẻ, vì chưng chỉ một người già, chẳng cần tới bên hồ mà thấy được cái cả trăm người trẻ đã đến tận nới mà không thấy.

Và cũng từ đó, trong nước của nhà Vua ấy, mọi người đều tôn kính các bậc già cả, và khi thấy một người tóc bạc, da mồi đi qua, mọi người đều xích ra nhường chỗ và cúi thấp xuống chào.


NGUYỄN ĐÌNH TOÀN dịch


(Trích tuần báo Thiếu Nhi xuân Quý Sửu, 1973)

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014

Tiến trình của Lịch - ĐÌNH sưu tầm



Hôm nay thứ mấy? Ngày mấy? Chừng nào đến ngày lễ? Nhìn lên tấm lịch, ta đã tìm thấy câu trả lời. Tấm lịch thật giản dị, vậy mà người ta phải tốn hằng thế kỷ mới đem đến công trình nầy.

Thật vậy, muốn tìm hiểu gốc tích của lịch, ta phải ngược lại thời gian, lâu lắm, có lẽ vào thời con người vừa sáng chế chữ viết.

Thuở xa xưa ấy, người ta bắt đầu đếm từng ngày hoặc đếm từng đêm, chứ chưa quan niệm ngày và đêm là một như chúng ta ngày nay.

Nhưng chừng người đời trước căn cứ vào đêm nhiều hơn. Đêm đến, họ nhìn lên bầu trời, và điều làm họ chú ý nhất là sự thay đổi của mặt trăng. Trăng tròn, rồi khuyết dần từng đêm cho đến khi biến mất, rồi nó lại xuất hiện theo hiện tượng trở ngược như trên. Từ ngày trăng tròn này đến trăng tròn kia quả là một đơn vị đo thời gian khá chính xác nhất. Người ta mới đặt tên đơn vị ấy là tháng. Chữ Hán là “nguyệt”, cũng có nghĩa là mặt trăng. Trong tiếng Anh, “month” (tháng) cũng phát xuất từ chữ “moon” (mặt trăng).

Sự chuyển vận của trái đất và mặt trăng trong thái dương hệ đã tạo ra lịch. Thật thế, trái đất xoay quanh chính trục của nó cho ta cái cảm tưởng mặt trời mọc và lặn, ngày và đêm từ ấy phát sinh. Việc mặt trăng xoay quanh trái đất tạo ra tháng và việc trái đất xoay quanh mặt trời tạo nên 4 mùa và thành một năm.

Tổ tiên chúng ta chưa biết sự chuyển vận ấy, họ chỉ nhận xét theo sự thay đổi thời tiết, nhiệt độ ánh sáng tại cùng một nơi rồi đặt tên như thế, cốt để ghi dấu thời gian. Vào lúc nầy, chưa ai có ý tưởng xếp đặt ngày, tháng, năm vào một hệ thống hẳn hoi ; dù biết rằng chu trình của trái đất quanh mặt trời khoảng 365 ngày. (Người ta biết được là nhờ óc nhận xét cứ 365 ngày thì thời tiết giống nhau một lần). Sự so le, không vừa vặn giữa ngày, tháng, năm làm cho người ta rối trí.

Rồi “đùng” một cái, các tay “thái sư” Babylone thực hiện một tấm lịch đầu tiên. Trong lịch này có tháng 29 ngày, có tháng 30 ngày và một năm 12 tháng. Nhưng chẳng bao lâu, tháng ghi trong lịch đã trượt ra khỏi mùa. (Chẳng hạn như tháng 12 là mùa đông thì chỉ vài mươi năm sau nó rơi vào mùa xuân hay mùa thu, có khi cả… mùa hạ nữa!)

Lúc ấy người Hy Lạp và La Mã cũng dùng lịch Babylone. Nhưng sau đó, một vài sự kiện chính trị tại La Mã đã biến đổi lịch sang một giai đoạn mới.

Thật thế, khi các nhà soạn lịch không ưa người cầm quyền, họ rút ngắn nhiệm kỳ các “đấng” này bằng cách không đặt thêm tháng nhuận vào năm thiếu. Mặt khác, nếu gặp người họ thích, các ông soạn lịch đặt thêm nhiều tháng nhuận nữa, mặc dù năm ấy đủ!

Khi Julius Caesar (César) lên lãnh đạo đế quốc La Mã thì tấm lịch đã đi đến chỗ quá tệ hại. Caesar quyết định bỏ âm lịch và yêu cầu các nhà thiên văn soạn một loại lịch mới. Lịch nầy căn cứ theo lịch người Ai Cập. 

Người Ai Cập lấy sao Sirius làm chuẩn. Năm mới bắt đầu khi ngôi sao này xuất hiện ở chân trời phía Đông vào lúc bình minh.

Do tính ra một năm có 365 ngày một phần tư, các nhà thiên văn quyết định trong 3 năm liên tiếp có 365 ngày còn năm thứ tư có 366 ngày gọi là năm nhuần.

Vì lịch mới không cần căn cứ theo con trăng, các ông chia năm sao tùy ý. Cuối cùng họ đồng ý chia năm thành 12 tháng dài tương đương với nhau (giống lịch cũ).

Lúc đầu có 5 tháng 31 ngày (tháng lẻ) và 7 tháng 30 ngày (tháng chẵn). Nhưng người La Mã tin rằng số lẻ đem lại may mắn, họ lấy một ngày của tháng 2 (tháng chẵn) thêm vào một tháng x chẵn khác. Như thế có thêm 2 tháng lẻ nữa!

Sau khi tấm lịch hoàn thành, Julius Caesar chọn tháng bảy lấy tên ông. Do đó các ngôn ngữ bắt nguồn từ gốc Latin đều lấy chữ Julius cho tháng 7 như July (Anh), Juillet (Pháp).

Mấy năm sau, Augustus Caesar lên ngôi, tên ông này được đặt vào tháng kế tiếp (tháng tám) : August (Anh), Août (Pháp). Nhưng tháng của hoàng đế có 30 ngày, không được! Nhà soạn lịch lại lỉnh kỉnh rút một ngày của tháng hai thêm vào trong tháng tám. Cho đến ngày nay, tháng bảy và tháng tám đều lẻ cả. Lịch ni được gọi là lịch Caesar hay dương lịch cũng rứa.

Còn một ngày của năm nhuận được thêm vào tháng hai, 4 năm một lần.

Người ta dùng lịch này suốt 1.500 năm mới có ông Gregory phát giác một sự sai lầm trong lịch Caesar: âm thầm, từ tốn, các ngày lại trượt ra khỏi mùa!

Nhờ sự giúp đỡ của một nhà thiên văn người Ý, ông tìm thấy một năm không hoàn toàn đúng 365 ngày và một phần tư. Sau cuộc tìm tòi, ông đi đến kết luận năm chia chẵn cho 100 (số bội giác của 4) không phải là năm nhuần, mà năm chia chẵn cho 100 ấy nếu chia chẵn cho 400 thì cũng là năm nhuần.

Để sửa cho phù hợp với mùa, Gregory kéo dương lịch lên 10 ngày. Ngày 5 tháng 10 năm ấy được sửa lại thành ngày 15 (1582).

Tại các xứ nói tiếng Anh, mãi đến năm 1752 mới chấp nhận sự sửa đổi. Lúc ấy số ngày trượt lên đến 11 ngày. Nhiều người cho rằng họ “giảm thọ” hết 11 ngày. Thế là thiên hạ ào ào xuống đường, rất sôi động và vĩ đại với khẩu hiệu: “Trả lại 11 ngày sống của chúng tôi”!

Cùng lúc, năm mới của lịch Caesar được chọn là ngày 1 tháng giêng thay vì ngày 25 tháng ba như lúc trước.
Với sự bành trướng kỹ nghệ bên Âu Châu thế kỷ XVIII, XIX, các nước nầy đi chiếm đất làm thuộc địa ở Á cũng như Phi, làm dương lịch càng ngày càng trở nên quan trọng.

Hiện nay phần lớn các nước trên thế giới đều dùng dương lịch một cách chính thức để có thể liên lạc dễ dàng với nhau.

Ngoài dương lịch còn có Phật lịch (căn cứ theo âm lịch) thường chỉ dùng trong việc tế tự, lịch Do thái, lịch đạo Hồi… Các năm theo các lịch nầy cũng dài tương đương với dương lịch. Như năm nay:

- Theo dương lịch (Căn cứ năm Thiên Chúa giáng sinh) là năm 1970.

- Theo Phật lịch (căn cứ năm Phật đản sinh) là năm 2514

- Theo Hồi lịch là năm 1389.

- Theo Do thái lịch là năm 5731.

Mới đây, một số quốc gia đã dùng Thế giới lịch, hình thức cũng tương tự như dương lịch, nhưng có vài điểm khác biệt như tháng hai có 30 ngày (thay vì 28 ngày), năm nhuần thêm một ngày vào cuối tháng sáu v.v…
Và dẫu thế nào chăng nữa, công trình của những người đi trước đã đem lại cho chúng ta một bảng thời biểu để ghi dấu thời gian. Công trình ấy, kết quả ấy – nếu nhận xét cho kỹ – đã giúp ta rất nhiều trong những công việc hằng ngày, ngay những lúc nhìn lại quá khứ hay nghĩ đến tương lai…

 
ĐÌNH sưu tầm            
(Theo Encyclopeda Golden Press)


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 137, ra ngày 15-9-1970)

Cuộc Chia Tay - MINH QUÂN dịch


Haley cho xe chạy vùn vụt giữa đám bụi mù mịt. Quang cảnh quen thuộc ven đường lướt qua trước mắt Tom như những bóng ma, bác ngồi lặng thinh, như không nghe, không thấy gì hết.

Lát sau, xe vượt ranh giới trại ông Shelby và đến con đường chính.

Được một dặm nữa, Haley dừng xe trước cửa một lò rèn. Gã vào đó để chọn mua cho Tom một cái còng vừa tay bác. Chỉ vào cái còng gã cầm trên tay, chỉ vào bác Tom đang ngồi ủ rũ trên xe, gã nói:

- Cái còng này quá nhỏ đối với tên nô lệ to con…

Nhận ra Tom, người thợ rèn giật mình, kinh ngạc:

- Sao? Tom của trang trại ông Shelby mà bị chủ bán đi ư? Tôi không tin điều này, ông ấy không bao giờ bán nô lệ đâu, nhất là nô lệ cỡ Tom.

- Phải! – giọng Haley ngạo nghễ – ông chủ quí thằng ấy lắm, nhưng… chính ông ta đã bán nó cho tôi.

- Lạ thật! Chuyện khó tin quá. Shelby bán Tom? Tôi biết chú Tom này, một tên gia nhân đắc lực, trung thành của ông Shelby. Mà thưa ông, ông khỏi phải còng tay chú ấy làm gì, tôi cam đoan…

- Thôi đi bạn, cẩn tắc vô ưu. Chính những thằng nô lệ khôn ngoan trung thành mới là đáng sợ, chúng sẵn sàng bỏ trốn bất cứ lúc nào. Còn bọn ngu si thì kể gì, chỉ cần ăn no là được, chúng nó biết chi đâu? Hạng lão Tom này thì không ưa đổi chủ, nguy hiểm ở chỗ đó. Tôi có cách trị : xích kỹ chúng lại thì vững tâm nhất, khỏi thắc thỏm gì ráo trọi. Tiền không đấy nhé, mà lại đắt giá nữa chứ. Thôi, đừng làm cố vấn cho tôi, bà Shelby ban nãy cũng nói như bác đấy, mà tôi có nghe đâu.

Vẻ đăm chiêu, bác thợ rèn nói:

- Hình như bọn nô lệ da đen ở Kentucky này rất sợ và ghét vùng đất phía Nam. Họ bị chết dễ dàng…

- Phải, khí hậu ở đó hơi độc, và còn, còn nhiều thứ nữa kia.

- Chính thế, thật là một bất hạnh lớn cho bác Tom, một người tốt như thế mà phải đầy xuống miền Nam. Ngay tôi đây, không liên hệ gì, trông thấy thế tôi cũng không vui được. Tội nghiệp quá!

- Tuy vậy, hắn vẫn còn may mắn chán, tôi đã hứa sẽ đối xử tử tế với hắn, tôi sẽ bán hắn cho gia đình nào có tiếng và hiền lành, không đối xử khắc nghiệt với nô lệ da mầu và tôi tin là hắn sẽ không đòi hỏi chi hơn.

- Nhưng ông quên rằng chú ấy phải xa lìa con và vợ chú…

- Ố! Kể gì chuyện đó.

Suốt cuộc đối thoại, Tom ngồi yên trên cái xe đậu trước cửa lò rèn. Thình lình, bác nghe có tiếng vó ngựa nện trên đường lớn, khô khan và gấp rút. Rồi thì tiếng động nhanh hơn, rõ hơn và nhanh như cắt, cậu tiểu chủ lao tới, leo lên xe, đưa tay ôm chặt quanh cổ bác Tom, miệng kêu lên mừng rỡ trong khi Tom cũng mừng không kém nhưng chưa hết sững sờ vì sự có mặt bất ngờ. Cậu nói bằng giọng hậm hực:

- Thật là nhục nhã! Thật là xấu hổ! Không ai cho tôi biết việc này cả. Nếu tôi là người lớn thì việc này không bao giờ xảy ra, không bao giờ!

- Cậu Georges ơi! Tôi mừng quá khi thấy cậu đến đây – Tom tươi ngay nét mặt lên – Tôi sẽ khổ sở biết ngần nào nếu ra đi mà không gặp cậu. Cậu đã tốt với tôi biết bao nhiêu, tôi xin thề như vậy!

Bác Tom dịch chân, cậu tiểu chủ nhìn thấy mấy cái xiềng sắt, cậu khựng lại sững lặng vì đau đớn. Giây sau cậu la to:

- Khốn nạn chưa! – Georges giơ cả hai tay lên trời – Tôi phải đập thằng quỉ này một trận, tôi phải đập nó… Nó dám xiềng người ta…

- Không! Cậu Georges! Không! Đừng gây với ông ta, ông ta giận lên thì khổ cho tôi thêm mà thôi, cậu à!

Bác Tom nói với tiểu chủ, giọng khẩn thiết làm cho cậu hiểu rằng sự nóng nảy của mình có hại cho Tom : cậu đâu có thể theo cạnh Tom để bảo vệ che chở như ý muốn? Tom hiện giờ thuộc quyền lão buôn người rồi. Georges dằn lòng xuống:

- Thôi, tôi nghe lời bác vì tôi tôn trọng bác, tôi thương bác lắm… nhưng bố Tom ơi! Hễ nghĩ tới điều này thì tôi không chịu nổi, xấu hổ quá đi thôi! Bác có biết không : cả nhà đều giấu tôi chuyện này, có ai cho tôi hay biết gì đâu, may nhờ có anh Thomas báo tin cho tôi đó nghe… Hừ! Vậy mà tôi luôn luôn kính trọng họ đấy chứ… Khốn nạn quá đi!

- Georges ơi! Đừng nên nói như vậy, cậu lầm đấy…

- Hừ! Lầm à, không đâu! – chợt cậu con trai đổi giọng thấp xuống và có vẻ bí mật – này bố Tom, tôi có đem cho bố cái này này, đồng đô-la vàng của tôi…

- Ờ, không đâu. Cậu ơi, tôi không nhận đâu, dù tôi rất quí cậu, quí hơn…

- Bác phải cầm lấy – Georges cương quyết nói – Tôi đã bàn với bác gái rồi, bác bày tôi đục một cái lỗ nho nhỏ giữa đồng vàng, xâu một sợi dây xuyên qua đó để bác mang vào cổ. Bác phải giấu nó trong áo, đặng thằng khốn đó không thấy, nó mà thấy thì, ờ, nó dám cướp đó nghe bác Tom! Đừng để tôi buồn, bác phải nhận tôi mới bằng lòng.

- Coi, đừng cậu Georges! Tôi không dám nhận đâu.

- Sao lại không? Bác cứ ngồi yên!

Cậu nói và nhanh nhẹn luồn sợi dây có buộc đồng vàng quanh cổ bác Tom, giọng cậu hăng hái:

- Đó, có gì đâu? Hễ khi nào bác nhìn thấy nó thì bác nhớ đến tôi và hãy tin là một ngày kia tôi sẽ sang tận đó tìm chuộc bác về. tôi đã hứa với bác gái và chắc chắn sẽ thực hiện lời hứa. Tôi sẽ tự lo và còn ba tôi nữa, tôi sẽ nhắc ông hoài, không để ông quên đâu.

- Đừng cậu! Đừng giục giã ông, tôi van cậu đó, tiểu chủ ơi!

- Kìa bác Tom, bác sợ gì? Với lại tôi sẽ biết cách, tôi sẽ lựa lời chứ.

- Georges ơi! Kể từ đây tôi xa cậu. Tôi mong cậu sẽ tỏ ra là một người đàng hoàng. Đừng quên là ông bà đặt nhiều tin tưởng ở cậu. Đừng để bị lôi cuốn vào những tư tưởng cũng như hành động xấu, đừng để cho tuổi trẻ ngông cuồng làm hỏng đời mình. Đừng tưởng là cậu lớn rồi. Cậu nên nhớ là có rất nhiều thứ hạnh phúc mà Chúa cho ta hưởng đến hai lần, nhưng ngài chỉ ban cho ta duy nhất một cha, một mẹ thôi. Hơn nữa, tôi dám nói là cậu sẽ không tìm ra một phụ nữ nào từ tâm, đại lượng, có lòng hơn bà, dù cho cậu có sống lâu trên trăm tuổi đi nữa. Hãy sống cạnh bà, lúc trưởng thành cậu sẽ là nơi cho bà nương tựa tuổi già. Cậu Georges ơi, cậu nghe lời tôi vừa nói chứ?

Georges nghiêm giọng trả lời:

- Vâng! Tôi xin hứa với bác đó, bác Tom! Tôi sẽ làm y như lời bác dặn dò. Tôi sẽ cố để nên người tốt sau này. Mà bác nữa, bác đừng nản chí nghe? Tôi sẽ cố gắng để có thể cất lại căn lều cho bác, từ nóc tận nền. Bác sẽ có một phòng khách thật ngon lành, một tấm thảm thật lớn, thật đẹp, khi tôi lớn lên. Tôi hứa phải làm cho bác sung sướng tuổi già để bù lại những khổ nhục do cha mẹ tôi gây ra, bác nhớ chưa? Tôi xin hứa!

Haley từ trong lò rèn trờ mặt tới, tay lủng lẳng cái còng sắt. Georges hết sức bất bình nên dù đã hứa với Tom, cậu không thể làm ngơ, cậu bảo gã ta:

- Ông Haley, sao ông lại còng xích bác Tom? Tôi sẽ cho ba mẹ tôi biết cách cư xử tồi tệ này, ông phải nhớ…

Giọng thách thức, gã buôn người cười khẩy:

- À, cái đó quyền của cậu, còn còng tên này hay không là quyền của tôi. Cậu chủ nhỏ ơi! Cậu đã quên là tôi đã trả tiền cho cha cậu mới bắt được tên mọi này đi hay sao?

Georges giận sôi lên:

- Ông không biết xấu hổ ư? Đáng lẽ ông phải biết chứ : cái nghề buôn người của ông… xiềng xích người ta như đối với súc vật. Thứ nghề hạ tiện…

- Cứ mắng đi cho sướng miệng! Nhưng mà này, thưa công tử! Công tử nghĩ kỹ chưa mà dám mạt sát kẻ khác chứ? Nếu không có hạng người làm cái nghề hạ tiện như kẻ hèn này thì ông già khả kính của cậu sẽ lúng túng lắm đấy nhé! Kẻ dư nô lệ và cần tiền thì bán, người thiếu nô lệ thì mua. Tôi theo đúng luật cung cầu mà, sao cậu lại bảo tôi phải xấu hổ, xấu hổ chỗ nào? Chả lẽ người sang trọng quí phái như cha cậu mà lại đánh xe đưa nô lệ đi rao bán, coi sao được? Đáng lẽ cậu cám ơn tôi thì đúng hơn.

Georges tức lộn gan lên, nhưng không thể nào trả đũa lão ta, lão nói cũng… đúng đấy chứ? Georges nói như quát:

- Sau này lớn lên, tôi sẽ không bao giờ làm người mua nô lệ mà cũng không bao giờ bán. Tôi ghét việc mua bán này, nhục nhã lắm. Trước nay tôi rất hãnh diện là một công dân ở đất Kentucky này, nhưng bây giờ tôi xấu hổ quá, quá lắm!

Cậu quay sang Tom:

- Thôi tạm biệt bác Tom! Can đảm lên bác nhé!

- Vĩnh biệt cậu, cậu Georges! Xin Chúa từ tâm ban ơn cho cậu! Chúc cậu được nhiều phúc lành ở xứ Kentucky này.

Tom nhìn đăm đăm vào tiểu chủ, bằng đôi mắt nồng nàn, trìu mến, giọng nghẹn ngào, thổn thức.

Georges quay vội đi, lên ngựa, ra roi. Tom dõi mắt theo cho đến kỳ khuất bóng cậu, cho đến khi vó ngựa nhỏ dần, nhỏ dần và tắt hẳn.

Mắt Tom mờ đi, tai Tom ù đặc, miệng Tom câm lặng. Bác không nói, không thấy, không nghe gì nữa. Trong mơ hồ, ngôi trại của chủ nhân như hiện ra… cùng với cái bóng dáng nhỏ nhắn của cậu con trai. Bác nấc lên khóc, khóc, khóc… Trong đời bác chưa bao giờ bác đau đớn đến mức này. Và rồi đồng tiền cậu trai mang vào cổ bác chạm vào da lành lạnh khiến bác như được an ủi phần nào. Tom ép sát nó vào ngực mình, trong khi nước mắt cứ dâng lên làm nghẹn cổ, mờ mắt con người đáng thương kia.


MINH QUÂN                
(trích trong “Túp lều của chú Tom”
của Harriet - Beecher - Stowe)


(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 216, ra ngày 1-1-1974)