Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

CHƯƠNG III_LỬA DẬY TRỜI XUÂN

CHƯƠNG III


Một buổi chiều, mẹ con Hoà đang quây quần bên mâm cơm. Mai nói :

- Phải có ba ở nhà mà ăn cơm giờ này chắc ba chê liền, ba nói mình ăn giống như gà đặng lên chuồng sớm, phải không mẹ ?

Mẹ chưa nói gì thì em Bé, vốn được ba nuông chìu, nghe nhắc đến ba, buông đũa liền :

- Cơm dở lắm, con không ăn. Chờ ba về có đồ ăn ngon con mới ăn.

- Rồi đa ! Đừng làm trời ! Ba chưa về đâu mà làm bộ. Ăn đi, chờ ba về đã rồi làm nũng, cô Tư ! Nói cho mà…

Hoà đang nói bỗng ngừng bặt, kêu lên thất thanh hai tiếng :

- Mẹ ! Mẹ ơi !

Nghe giọng Hoà, mẹ cũng đâm hoảng lên, bà hỏi dồn :

- Cái gì ? Hả ? cái gì mà…

Hoà ríu lưỡi lại, nghẹn cứng họng, lặng lẽ giơ cao đôi đũa đang cầm trong tay chỉ ra hiên, mọi người cũng nhìn theo : trên bậc thềm sừng sững một người vừa bước lên, người phụ của cha Hoà !

Băng keo dán kín một bên mắt, băng ga quấn trắng toát khắp cánh tay, chân bước hơi khập khiễng, Miên đang tiến lại bên mấy mẹ con với dáng bộ buồn rầu chưa từng thấy. Mẹ Hoà đứng bật dậy, thốt lên một câu nghẹn ngào trong cổ họng :

- Miên ? Bác Hai đâu ? Ổng… ?

Rồi tiếng bà tắt nghẽn. Miên lắc đầu, uể oải ngồi phệch xuống ghế, trông như người kiệt sức vì vượt qua sa mạc giữa trưa. Giong anh lắp bắp, đứt quãng :

- Bác trai… còn đâu nữa… Bác đã… Bác ơi !...

Và anh ta bưng lấy mặt khóc rấm rức, khóc thảm thiết. Mẹ Hoà chưa chịu tin cái tin dữ ấy. bà run run gặng lại :

- Hả ? Miên, mày nói… ?

Miên gật đầu một cách khó nhọc, xác nhận lời mình lần nữa :

- Dạ, phải ! Bác đã… dạ !...

Mai run bần bật, xô lại níu tay Miên :

- Anh Miên ! Ba tôi chết hả ? Sao lại chết ? Anh Miên ? Anh nói…

Mẹ Hoà ngồi lặng. Bà không khóc lóc, không gạn hỏi nữa. Mặt bà xám ngoét, bà rũ gục xuống như cái xác không hồn. Anh Miên cuống quít :

- Trời ơi ! Bác ơi ! Bác phải bình tĩnh chớ ! Bác làm sao vậy ? Cô Mai ơi ! Làm sao…

Bé ngạc nhiên quá, nó hết nhìn người này đến người kia. Bé còn nhỏ quá, nó đâu đủ trí khôn để hiểu được chuyện ghê gớm xảy ra. Mai và Hoà bật khóc nhưng khi thấy mẹ lả đi thì cả hai ráo hoảnh mắt, gọi rối rít : “Mẹ ơi ! Mẹ ơi !”

Người mẹ khốn khổ vẫn nghe mang máng tiếng hai con bên tai nhưng cổ bà nghẹn cứng, tim bà như ngừng đập, tay chân lạnh giá, bà giương đôi mắt thất thần nhìn con rồi bà lịm dần, lịm dần.

Miên càng bối rối. Chỉ tại mình mang tin dữ đến. Anh thù ghét, ghê tởm công việc của anh. Nhưng biết làm sao hơn ? Tránh trút cho ai ? Bổn phận anh là phải mang tin đó về cho vợ con người xấu số, vì người chủ xe muốn tránh mặt trong trường hợp đau thương ấy. Sớm hay muộn, anh cũng phải báo tin dó cho gia đình Hoà. Vả lại, còn việc chôn cất người chết nữa.

Mai sực nhớ đến bà Năm bán quán, cô gái chạy như bay đến nhà bà, vừa thở vừa lôi bà qua nhà mình. Bà Năm tiên đoán được đôi chút thái độ Mai. Nhưng bà cũng hỏi :

- Cái gì ? Cái gì ? Con phải nói rõ chớ ?

- Mẹ con…

Cô gái chỉ nói được hai tiếng rồi thôi, nước mắt ràn rụa tuôn trào. Bà Năm không gạn hỏi lôi thôi nữa, lẳng lặng theo Mai. Lên khỏi bậc thềm, thấy quang cảnh đó bà khựng lại, kêu lên :

- Trời ơi ! Mẹ mày làm sao vậy ? Khổ chưa ? Đầu đuôi ra sao ? cái gì vậy, Miên ?

- Dạ, bác trai chết rồi, bà Năm ơi ! Con về…

- Chết ?

Bà Năm sửng sốt kêu lên rồi lặng đi một giây, bà quá xúc động vì cái tin không bao giờ bà ngờ được đó.

Giây phút kinh hoàng qua đi, bà tỉnh lại. Phải lo cho người sống ! Bà lẩm bẩm một mình : “Phải lo cho người sống !” Bà lại gần mẹ Hoà, sờ tay lên ngực, lên mũi mẹ Hoà, ra lệnh :

- Thằng Miên, con Mai ! Coi phụ với tao một tay, mau !

Ba người xúm lại vực mẹ Hoà lên. Mẹ Hoà mềm nhũn, lạnh ngắt làm Mai càng khiếp đảm. Cô gái nức nở :

- Mẹ ơi ! Đừng chết bỏ tụi con ! Mẹ ơi !

Hoà níu cứng bà Năm :

- Mẹ con chết không bà Năm ? Mẹ con không chết chớ, bà Năm ?

- Bậy bạ nào, chết chóc cái gì ? Đừng làm rối, tụi nhỏ !

Bà gắt nhẹ và cho tay vào túi áo lấy ra lọ dầu nóng xoa khắp người mẹ Hoà.

- Đem lò lửa đây cho bà coi, mau !

Miên lật đật theo Mai xuống bếp. Hoà lăng xăng bên bà Năm, ruột nóng như cào, nó chưa ăn qua một chén cơm, mà không thấy đói chút nào. Sợ mẹ chết, Hoà quên bẵng đi chuyện cha chết. Bà Năm vừa xoa dầu cho mẹ Hoà, vừa kêu nho nhỏ :

- Tội nghiệp quá ! Chết chi mà…

Bà lặng lẽ khóc, nước mắt ràn rụa trào ra, lăn dài xuống đôi gò má nhăn nheo. Bà quay phía khác, lén lút gạt đi nhưng nó cứ trào ra, trào mãi. Nghe tiếng “chết” và thấy bà khóc, Hoà càng hãi, nó gào to :

- Mẹ ơi ! Mẹ chết bỏ tụi con…

- Đừng nói bậy ! Chết chóc cái gì, chạy qua bên nhà bà lấy đem đây ít trái bồ kết, coi !

- Chi vậy bà Năm ? Bộ gội đầu cho mẹ thức dậy hả, bà Năm ?

Bé tò mò hỏi, giọng nó ướt sũng. Nó hơi thoang thoáng hiểu. Hoà cắm cổ chạy biến, quên cả dạ. Chỉ chút xíu, lửa và bồ kết đã có đủ. Bà Năm bẻ nhỏ mấy trái bồ kết bỏ lên lò lửa, mùi bồ kết cháy xông lên khét lẹt, toả khắp nhà. Bé và Hoà ho sặc sụa. Mắt người nào cũng đỏ hoe. Bà Năm kê lò lửa, trên đó mấy trái bồ kết đang cháy lấp lánh, sát bên mũi mẹ Hoà, tay giật giật mái tóc mai của mẹ Hoà, miệng kêu tên mẹ Hoà không ngớt.

Bé hét lên :

- Bà năm làm đau mẹ, Bé ghét bà Năm…

Mai bịt miệng em, lôi bừa con bé ra ngoài, bà Năm hiền lành nói :

- Kệ trẻ nhỏ, đừng rầy nó làm chi, Mai ! Con nít biết gì…

Mấy cặp mắt đều đổ dồn, chăm chú vào mẹ Hoà. Mai mím môi, nén khóc. Cô sốt ruột nhưng không dám hỏi. Cô tưởng như tiếng nói của mình cất lên có thể nguy hại đến tính mạng mẹ mình. Hoà cũng vậy. Bà Năm băn khoăn :

- Sao lạ vậy kìa ? Sao nó không tỉnh kìa ?

Miên đứng dậy :

- Hay là để con qua kêu anh Tú chích cho bác một mũi ?

- Phải ! Phải, tao lú đi chớ ! Đi mau đi, Miên !

Miên bước ra chưa khỏi ngõ thì bỗng mẹ Hoà hắt hơi một cái, bà đã hồi tỉnh.

Tức thì bà Năm kêu giật Miên lại :

- Thôi ! Miên ! Khỏi ! Đừng đi nữa, Miên !

Rồi bà cúi xuống sát mặt mẹ Hoà, giọng bà êm ái, bùi ngùi :

- Mẹ thằng Hoà ! Mày tỉnh rồi phải không ? Đừng có bậy bạ nghe không ? Bộ mày không nghĩ tới lũ con sao ? Không thương lũ con sao ? Bộ mày…

Ba cái miệng cùng kêu lên một loạt :

- Mẹ ơi !

Mẹ Hoà mở bừng mắt, đôi mắt chứa đầy kinh hoàng thống khổ, nhưng rồi bà nhắm lại ngay. Bà muốn ngủ quên, muốn mê lại, không muốn nhớ đến cái tin dữ vừa rồi. Hai bên khoé nước mắt trào ra, đọng lại, bà nghiêng về một phía, và nước mắt bà chảy, chảy rưng rưng, rưng rưng, liên tục không ngừng.

- Tôi còn sống làm chi nữa ? Hở trời ! Tôi sống làm sao được nữa ? Hở trời !

Giọng bà làm mủi lòng lũ con, Miên và cả bà Năm. Những tiếng khóc bị ngăn chặn, bấy giờ được khơi ra như giòng suối mới khai thông.

Rõ là quang cảnh của một nhà có đại tang.

*

Xác cha Hoà quàng trong nhà thương. Bà Năm bàn với mẹ Hoà nên để yên trong đó chờ khâm liệm rồi đem an táng luôn. Bà cương quyết ngăn cái ý muốn của mẹ con Hoà là mang xác về nhà, dù mấy mẹ con đều ưng như vậy.

- Không nên, mẹ thằng Hoà phải nghe tao, tao già cả, không nói bậy bạ đâu. Đừng đem về không nên. Tục lệ ông bà phải nghe theo…

- Tục lệ… tục lệ gì kỳ quái : nhà đây, con đây vợ đây mà phải nằm một mình lạnh lẽo…

Mẹ Hoà ngưng bặt, tấm tức khóc không ra tiếng. Trông mẹ khóc, Hoà đau nhói tận tim. Nó không quen thấy người thân yêu khổ, thà nó khổ, nó chịu hơn. Nó không hiểu rằng khóc được, mẹ nó vơi bớt khổ đau đang chĩu nặng trong lòng.

Em Bé không dám mè nheo vòi vĩnh nữa. Chị Mai nghỉ học may, không buồn chải mớ tóc óng mượt mà chị ấy thường săm soi, vuốt ve mỗi sáng mỗi chiều. Cả nhà rối lên vì người nằm xuống. May sao, có bà Năm, người láng giềng có tuổi, tốt bụng và có Miên giúp cho mọi việc, nếu không chẳng biết ra sao.

Trong mấy ngày đó Hoà như người nửa tỉnh, nửa mê, y như kẻ bị chứng mộng du, cử động nói năng do một sức sai khiến ngoài ý muốn. Ôi chao ! Sao mà chán nản, sao mà đau đớn, sao mà mỏi mệt đến nhường này ? Hoà không nhớ gì, không quan tâm đến cái gì mà cũng không buồn suy nghĩ gì, một thói quen mà Hoà có từ khi cắp sách đến trường. Hình như ngoài những khuôn mặt quen thuộc vừa kể trên, còn thấp thoáng một khuôn mặt nữa, cũng quen thuộc với Hoà : khuôn mặt của thầy giáo Hoà. Song bởi quá đau đớn và xúc động, Hoà không hề tự hỏi tại sao thầy có mặt tại nhà mình.

Thỉnh thoảng đâu đây như văng vẳng tiếng ngâm thơ của cha Hoà :

“Vân Tiên anh hỡi cố tri !

Suối vàng có biết chuyện ni chăng là ?

Tay lau nước mắt trở ra…”

Phải ! Bây giờ thì Vân Tiên đã nằm xuống rồi ! Làm sao ông biết những gì xảy ra ? (Không biết do một liên tưởng nào Hoà lại cho cha mình là Vân Tiên, người trong truyện mà cha thường nhắc đến, người anh hùng giữ tròn trung, hiếu, nghĩa, tình, đã hứng chịu nhiều khổ sở thử thách mà cuối cùng vẫn sống sót, đoàn tụ, yên vui với gia đình) Làm sao ông biết rằng con mình đang khổ ? Hoà gạt nước mắt, cố ru mình bằng cái ý nghĩ : “Biết chừng đâu cũng như Vân Tiên, ông chết giả ? Không phải là chết thật, ông mất tích ít lâu ? – Vì hoạn nạn mà ! -- Rồi lại lừng lững trở về trong một lúc bất ngờ nhất, mang theo không biết bao nhiêu là quà cho mẹ con mình ? Lúc đó thì… phải biết !”

Bà Năm ra lệnh cho Bé ở nhà chơi, không được vô nhà thương. Chỉ hai đứa lớn được đi thôi. Đó là nhờ thầy giáo Hoà nằn nì lắm chớ không thì chưa chắc Hoà được đi. Lạ kỳ quá : từ mấy ngày nay chuyện gì cũng do bà Năm với thầy giáo quyết định, mẹ không có quyền gì hết. Nhưng thỉnh thoảng thầy giáo phải nhường quyền đó cho bà Năm, vả lại, thầy thoạt đó đã mất dạng hồi lâu, chứ không hiện diện thường xuyên như bà Năm. Trên đường vô bệnh viện, Hoà thấy mình tỉnh táo hơn.

Trong nhà thương, một toán người ăn vận nom như lính lệ thời xưa trong sách, áo viền, quần nẹp, sẵn sàng trong công việc liệm xác cha Hoà. Bà Năm thay mặt mẹ Hoà đứng lên nói vài lời cảm ơn và mời từng người một “nâng chén rượu lạt” trước khi bắt tay vào việc. Họ cũng nói phải trái lại vài tiếng rồi uống rượu, rửa tay sạch sẽ bằng rượu nữa. Một người khôi hài :

- Thôi, uống vừa vừa, cha nội ! Chừa lại để tắm rửa cho xác chết, đừng có mềm môi uống quá độ…

Hoà bực lắm, người ta có thể đùa cợt trong trường hợp thế này sao ? Nhưng cũng nhờ vậy mà Hoà biết rằng người ta không tắm rửa xác cha mình bằng nước mà là bằng rượu. Trân trọng như vậy là phải lắm. Hoà Nghĩ.

Mặc dù Miên và bà Năm ngăn lại, khi cửa nhà xác vừa he hé là Hoà chui tọt vô liền. Hoà nhớ cha quá, thương quá nên quên cả sợ. Mà sao phải sợ ? Cha mình chớ phải ai xa lạ chi sao ?

Ghê quá : trong đó không phải chỉ mình cha Hoà thôi. Qua hai lớp cửa dày, phòng trong có nhiều băng ca sắp hàng hàng và trên mỗi cái đều có một xác người. Khí lạnh ập vào mũi Hoà, mùi hôi như thật đậm, thật đặc, nhưng chìm dưới thấp, chắc là tại quạt máy dìm nó xuống, không cho xông lên ? Người ta khiêng băng ca đựng cha Hoà ra phòng ngoài, nghĩa là cách phòng đựng xác một bức tường, chớ cũng trong phạm vi phòng xác. Hoà liếc qua một cái, không dám nhìn kỹ, xác nào cũng được đắp kín từ đầu chí chân. Vậy mà có cái thò chân ra, da tái ngắt và như khô tóp lại, có cái bày đầu ra, tóc phất phơ trông thật hãi !

Cuộc khâm liệm bắt đầu. Người ta giở cái mền đắp trên mình cha Hoà ra, thân mình ông trần trụi không một mảnh vải che (điều đó làm mẹ Hoà đau đớn quá mức, bà hét lên một tiếng và ngất liền khi vừa thấy) Hoà hoa mắt lên, mím môi lại cố hết sức can đảm để nhìn cha nhưng chỉ thấy thoáng qua : cha Hoà mất hẳn đi một bên vai, lủng lấm tấm ở ngực, máu đọng lại, khô trên những vết lấm tấm đó. Từ miệng ông một giòng máu bò ra, đóng khô quánh, in một vệt dài xuống tận cằm. Một mảnh da đầu bay mất, da ông trắng bệch và đặc biệt nhất là ông có vẻ dài hơn nhiều, so với khi còn sống, dài ngoằng. Đôi mắt ông không nhắm kín như khi ngủ, có vẻ trợn trừng và lòng trắng nhiều hơn lòng đen.

Hoà đau lặng, đau tê mà mắt vẫn ráo hoảnh. Tội nghiệp cha mình biết chừng nào ! Chắc cha mình đã phải đau đớn nhiều, nhiều lắm trước khi chết ? Người ta lấy rượu rửa ráy cho ông trong lúc Hoà đứng bất động vì xót đau và sửng sốt… Ông có làm ai đau đớn bao giờ đâu ? Một con chó, con gà ông cũng không nỡ cán, kia mà ?

Cha mình đó sao ? Chết rồi ? Chết thật rồi ? Sao mà dễ dàng vậy ? Mau chóng vậy ? Sao mà tàn nhẫn vậy ? Vô lý thật ! Ông tội lỗi gì ? Ai giết ông ? Sao phải chôn đi ? Ước gì người ta đừng tính đến chuyện đó, cứ để cho Hoà được thấy mặt cha, dù từ nay ông cứ nằm yên, nằm mãi trong dáng bộ im lìm, đau đớn, lặng lẽ đó… Hoà ưng thấy như thế để đau đớn vò xé lòng Hoà. Hoà thích thế. Hoà muốn thế ! Không ! Hoà không dám đòi hỏi chi hơn. Hoà xích lại cho gần xác chết thêm chút nữa. Hoà se sẽ sờ vào tay cha, bàn tay dính be bét máu khô chưa được rửa. Lạ chưa : tay cha Hoà sao mà nhám, cứng và lạnh buốt. Cái cảm giác giá buốt đó như chuyền ngấm vào da Hoà làm thằng bé bàng hoàng lùi lại, bật lên một tiếng kêu thảng thốt.

Không ! Không phải cha Hoà ! Hoà cảm thấy dửng dưng, xa lạ với cái xác kia quá, cái xác mà trước đó một giây, Hoà biết đúng là cha mình, Hoà ao ước được nhìn thấy mãi. Hoà đã nhìn cái xác đó bằng hai mắt thương xót không cùng, trước khi đụng đến. Thôi ! Hết rồi, thật hết rồi ! Hết cả rồi…

Hoà bưng mặt rưng rức khóc, không phải khóc vì thương cha mà vì cảm thấy mình tội lỗi quá, bạc bẽo quá, bất hiếu quá, không muốn nhìn chính cha mình ! Bởi thấy mình xa lạ, dửng dưng trước xác cha mình. Chôn đi là phải ! Chôn đi là phải ! Hoà không muốn nhìn đâu… Hoà cố nén, nếu không, nó đã phải kêu lên như thế.

Hoà run bây bẩy, nó thấy mình vừa đúng vừa sai, nó muốn lại gần nhìn cha lần nữa nhưng như có bàn tay vô hình nào kéo nó lùi ra xa. Hoà mất cả tự chủ… Anh Miên dìu Hoà ra, nó gục đầu vào lòng anh Miên, đau đớn, hối hận, sợ hãi chen lẫn trong lòng nó.

Chắc cha mình đã đau nhiều lắm trước khi tắt thở ? Tội nghiệp cha ! Ông chết khổ sở quá ! Ý nghĩ đó làm tim Hoà lại đau nhói lên, rồi thốt nhiên như ngừng đập.

Hoà đau dội, đau nhói cả lồng ngực.

Thình lình, Hoà có cảm tưởng như nỗi thống khổ xoắn chặt lấy nó, thu hút sạch sức nặng của nó, nâng bổng nó lên làm nó lơ lửng, chơi vơi giữa không trung, không bám víu vào đâu được. Và đột nhiên, sức nặng trở lại cũng bất ngờ như khi bị thu hút vậy – Hoà rơi từ trên cao vút xuống, thẳng tuột với một tốc lực nhanh ghê gớm, tưởng sẽ phải nát ngướu cả xương, da. Hoà chóng mặt, nhắm chặt hai mắt lại, tuyệt vọng chờ đợi phút kinh hoàng đó… Mà rồi không : Hoà rơi trên mặt biển, lập lờ, chao đảo, bập bềnh… Hoà hoang mang không biết mình tỉnh hay mê, mọi điều xảy ra là thực hay mộng, cho đến khi mùi rượu sực nức ập vào hai mũi và tiếng khóc thê thảm của mẹ nó vọng mồn một vào tai làm nó tỉnh hẳn.

Đầu óc trống rỗng, tứ chi rã rời, một nỗi chán chường đè nặng lên Hoà, xâm chiếm lấy Hoà.

Lần đầu trong cái tuổi ngây thơ, sung sướng của mình, Hoà cảm biết, hiểu, hiểu một cách thấm thía thế nào là khổ đau, thiếu thốn. Sự mất mát to lớn quá, choán rợp lấy Hoà. Nó ngơ ngác như một kẻ bị đẩy ra giữa muôn ngàn sắt máu mà không biết cầm khí giới. Như một người chưa được võ trang mà bị xua ra mặt trận…

Trong lặng lẽ, sâu kín của lòng nó, một tiếng nói vọng lên, xót xa thấm thía :

- Tâm ơi ! Bây giờ tao khổ hơn mày rồi đó, hơn nhiều lắm, Tâm ơi

____________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG IV

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2014

CHƯƠNG II_LỬA DẬY TRỜI XUÂN

CHƯƠNG II

Cha Hoà làm tài xế xe vận tải. Ông luôn luôn khoe với mọi người rằng trong đời cầm tay bánh của ông, ông chưa hề cán chết một con chó hay một con gà. Ông hết sức cẩn thận. Quả vậy, ông là tài xế giỏi được chủ xe rất mực quí mến, tin dùng. Ông cưng dưỡng cái xe không khác chi các con ông. Mẹ Hoà thường nửa đùa nửa thật nói rằng không biết con ông với cái xe, ông quí cái nào hơn. Cha Hoà cười xoà, vui vẻ :

- Làm sao lại thương cái xe hơn con mình được, nhưng mà chủ người ta đã tin mình, giao xe cho mình, mình phải giữ gìn cẩn thận, khỏi phụ lòng tin cẩn của người ta.

Dạo trước xe chạy đường Lục Tỉnh. Mỗi lần về đến nhà, người đầy bụi bặm, mệt phờ, song ông vẫn lục xách tay lôi quà ra cho vợ con rồi mới chịu nằm nghỉ trên cái võng trước hiên.

Cha Hoà mua nhiều thứ : chuối khô, cam, ổi, ốc, cua, bánh phồng tôm v.v… thổ sản địa phương có gì, ông mua về thứ ấy. Nằm nghỉ một lát, ông ngồi dậy, ra săm soi cái xe cả đỗi nữa rồi mới đi tắm. Có khi ông rửa xe, có khi chỉ lau qua trước khi đi tắm. Tắm xong, lại lên võng nằm ngâm nga mấy đoạn thơ Lục Vân Tiên :

- Khoan khoan ngồi đó chớ ra.

Đó là phận gái đây (ta) là phận trai.

Tiểu thơ con gái nhà ai ?

Đi đâu nên nỗi mang tai bất kỳ ?

Ông ngừng lại đột ngột, rồi tấm tắc khen :

- Đời xưa có khác, người ta giữ gìn ý tứ như vậy thiệt là hay ! Tao ưa như vậy ! Đúng là (lại ngâm) :

Trai thời trung hiếu làm đầu.

Gái thời tiết hạnh là câu trao mình…

Hoà với chị Mai cười khúc khích. Nghe tiếng con cười, người cha chợt nhớ ra quà mình mua về chưa được các con thưởng thức, liền thôi ngâm, giục vợ :

- Mẹ nó coi luộc ốc cho trẻ ăn đi !

Hay :

- Mẹ nó chiên bánh phồng tôm cho trẻ ăn đi !

Mẹ Hoà không ngừng tay làm việc, bà đang nấu cơm hay giặt gịa chi đó, bà nói vọng lên :

- Ông làm như tụi con ông chết đói tới nơi rồi vậy. Đi đâu mà lật đật ? Ăn uống phải có giờ giấc, chừng mực chớ. Gần tới bữa ăn rồi…

Cha Hoà ngắt lời vợ :

- Biết rồi, người ta có nói chưa tới giờ cơm đâu ? Mà người ta muốn cho con người ta ăn trước mặt người ta, ăn liền cho nó mát con mắt một chút, có sao không ?

- Chẳng có sao hết, trước mặt hay sau lưng gì rồi cũng là ăn, hối hả cái gì ? Ông sợ tôi đem bán, không cho tụi nó ăn chắc ?

- Ai sợ ? Người ta đã nói người ta muốn nhìn con người ta ăn… đàn bà lắm chuyện.

Thật vậy, cha Hoà có thói quen thích nhìn con ăn. Ông nói rằng nhìn các con ăn, ông ngon mắtlắm, muốn no luôn ! Hễ trong túi rủng rỉnh chút tiền là ông lén vợ chở con đi ăn tiệm liền. Lén, nhưng rồi chỉ một buổi, chậm lắm là một ngày sau, chuyện đổ bể ra. Mẹ Hoà không bằng lòng, bà nói :

- Cha con muốn ăn gì, nói, rồi người ta mua làm cho mà ăn, ăn tiệm tốn tiền, mắc mà không ngon.

Mai cũng theo phe mẹ, chê ăn tiệm. Chỉ Hoà với em Bé theo phe cha. Rốt cuộc, ông chê đàn bà con gái hà tiện, ưng khổ thân, không biết chuyện !

Không biết chuyện ? Đó là ba tiếng ông năng dùng để chỉ những ai mà ông có ý chê. Hà tiện, xấu bụng, gian giảo, ích kỷ v.v… đều là không biết chuyện tất !

Từ khi xe chạy ra Trung, ông hay vắng nhà hơn trước. Chừng như để bù vào chỗ thiếu sót đó, mỗi bận về ông đem cho vợ con nhiều quà quí giá hơn : tơ tằm tận Quảng Nam, võng gai ngoài Bình Định, mạch nha của Quảng Ngãi, mực khô ở Nha Trang, nón bài thơ xứ Huế… và ông ở nhà nghỉ cũng lâu hơn. Nhà vui như Tết !

*

Theo lời mẹ kể thì Hoà được biết cha mình vốn quê ở miền Trung. Ông bà nội hiếm hoi sinh có mình ông thôi. Nhà có nhiều ruộng đất, nhưng cha Hoà không ra tỉnh học, cha Hoà được học qua quít chữ quốc ngữ ở trường làng, còn chữ nho thì nhiều hơn, ông bà nội rước thầy về dạy trong nhà. Không phải ông bà nội hà tiện, mà ông bà nói rằng chữ thánh hiền tốt hơn chữ tụi tây u. Mà cần gì phải học nhiều ? Học, theo quan niệm của ông bà, là để biết đạo làm người, xử thế, chớ không phải để kiếm cơm, hay làm quan.

Nối nghiệp nhà, cha Hoà cũng làm ruộng như ông nội. Nhưng phong trào Kháng chiến với những lời kêu gọi đầu tiên vừa hùng hồn vừa thống thiết làm xúc động sâu xa tâm hồn người thanh niên con một, quê mùa và chất phác kia. Người thanh niên hiền lành ấy nhất định ra đi trong sự bằng lòng của cha và rất nhiều nước mắt của mẹ. Anh buông cày, cầm súng, tham dự nhiều trận giao tranh một cách hăng say, tin tưởng. Anh không phải là người được nhồi nhét nhiều kiến thức mới như thanh niên thành phố, anh không quan tâm đến những danh từ lớn. Lòng yêu nước trong anh được bộc lộ một cách tự nhiên, giản dị nhưng không kém nồng nhiệt khi được thức tỉnh, kêu gọi đúng lúc.

Đó là lòng yêu nước của một nông dân, bắt nguồn từ luống cày, bó mạ, từ đồng lúa, vườn rau.

Họ là những kẻ thực thà, nhút nhát, không hề tính toán đến những điều khác lạ, cao xa, người ta có thể cho rằng suốt đời họ không bao giờ rời được lũy tre, đồng ruộng, nhưng bỗng chốc, cảm thấy mình cần phải chiến đấu, thế là họ lăn mình vào chiến đấu. Giản dị thế thôi.

Thỉnh thoảng, cha Hoà ghé về thăm nhà, lại thấy cha vui và mẹ khóc. Tuy chưa biết ai nhiều bằng mẹ anh, anh cũng kết luận rằng “đàn bà rất nhiều nước mắt.”

Cuộc Kháng chiến kéo dài, dài hơn anh tưởng, nó kéo anh đi xa lắc, hết còn dịp nào trở về thăm cha mẹ như buổi ban đầu.

Chính quyền thân Pháp tại địa phương được tái lập và họ kết tội cha mẹ anh, tịch thu hết gia sản, ruộng vườn. Ông bà già quá rồi, không chịu đựng được nỗi thảm nhục và cũng không còn sức lực để lao tác nuôi thân. Nhiều người thương xót nhưng không dám giúp đỡ và sau cùng, song thân anh lần lượt nằm xuống, không có mặt người con trai độc nhất theo sau linh cữu cũng như vuốt mặt cho, hai điều mà họ hết lòng ao ước.

Hay tin dữ, cha Hoà khóc lặng. Từng đêm, từng đêm dài anh băn khoăn tự hỏi mình : “Yêu nước là một tội ư ? Mà tội lây đến cả mẹ cha ư ?” và anh không thể nào tìm được câu giải đáp. Sự việc xảy ra trên sức tưởng tượng của anh. Cha Hoà không mấy tiếc những đất ruộng nay thuộc về tay kẻ khác mà anh xót đau cho cha mẹ, xót đau dai dẳng không nguôi.

Nếu ngay lúc đó mà anh được trở về thì anh sẽ chĩa mũi súng vào ngực kẻ đã làm tan nát gia đình anh rồi nhắm mắt bóp cò, rồi anh mở mắt ra nhìn kẻ ấy quằn quại trên vũng máu mới hả lòng căm tức. Anh sẽ không biết thương hại là gì đâu, trời ạ ! Nhưng anh không về được, phải nén lòng chờ. “Ta sẽ về ! Ta sẽ về, tụi bây phải đền tội, rồi coi !” Anh hậm hực giơ quả đấm về phía trước, thì thào trong bóng tối.

Song, than ôi ! Đó chỉ là lời doạ suông thôi. Kể từ sau gia biến, anh không bao giờ còn được trở lại gia hương.

Trong một trận giao tranh, anh bị thương, bị bắt, bị giam giữ suốt hai năm ròng. Khi được thả ra, anh lạc lõng giữa một đô thị xa lạ và xa hoa đáng sợ : Sài Gòn ! Sài Gòn mà từ thuở bé anh chỉ nghe thoang thoáng như một địa danh xa lạ, không ngờ rằng có ngày mình lại có mặt ở đây. Một thân đau ốm, quanh mình không một ai là thân thuộc họ hàng.

May sao, anh gặp ông ngoại của Hoà. Trong con mắt ông thì cha Hoà là hình ảnh của người con trai ông, người con trai đã xả thân vì yêu nước năm nào.

Ông đưa anh về nhà, tận tình thuốc men chạy chữa. Mỗi lần nhìn cha Hoà, ông lại mang máng nhớ đến cánh thư cuối cùng của con trai ông, anh viết rằng : “…Cha hãy coi như không có con, như con không còn trên đời nữa, vì con không biết chắc có ngày về không. Nếu con được trở về thì vui, còn không thì em con sẽ thay con mà phụng dưỡng cha. Con cam tội bất hiếu. Trên đời này có những mối tình lớn, những nghĩa vụ lớn hơn tình nghĩa gia đình. Con không thể nào một mình hoàn tất cùng một lượt nhiều nghĩa vụ. Con mong cha hiểu mà tha tội cho…”

Không ! Ông không thể hiểu và cũng chẳng cần tìm hiểu. Ông cảm thấy rằng ông sắp mất con ông, đứa con trai ông chắt chiu từ khi còn tấm bé, một mình ông còm cọm gà trống nuôi hai con – nhưng mẹ Hoà là gái rồi sẽ theo chồng -- từ khi mẹ chúng nằm yên vào lòng đất. Ông không nuôi con cho nước. Tại sao đến lúc con ông trưởng thành thì nước lại cướp mất con ông ? Mặc con ông nói gì thì nói, ông không cần biết, ông chỉ biết một điều ghê gớm : ông sắp mất nó, thế thôi !

Quả như ông nơm nớp lo sợ : đó là cánh thư chót mà người con ông có thể gửi về. Sau đó, ông không nhận được chữ nào. Ông nhớ con quay quắt thiết tha nhưng ông ngụy trang lòng nhớ thương sâu đậm đó, phủ nhận niềm mất mát lớn lao đó bằng cách không bao giờ giở cánh thư cũ ra đọc lại, cũng không bao giờ nhắc đến tên con. Nào nó có thương ông mà ông thương nó ?

“Con bạc bẽo thì thôi” ông thốt câu trên bằng giọng hờn dỗi, buồn rầu.

Rồi tin dữ đến. Ông đón nó một cách trầm tĩnh, thản nhiên đến độ làm cho mẹ Hoà hoảng sợ, cô gái vừa lau nước mắt, vừa nghẹn ngào van xin cha tha thứ cho anh cô vì anh cô đã chết rồi.

Ông quay đi, giọng chìm xuống, mơ hồ như từ cõi xa xăm nào vọng lại :

- Không, cha có giận nó đâu, cha thương nó lắm… nhưng mà…

Đôi vài gầy run run qua lần lụa mỏng, ông che mặt khóc, khóc thảm thiết, khóc tức tưởi, tưởng như bao nhiêu khổ sở, nhớ thương, mong đợi, dồn nén lâu nay tan hoà trong nước mắt ông.

Đó là lần đầu mà cũng là lần cuối, mẹ Hoà thấy ông nhắc đến anh mình, tỏ lòng nhớ tiếc anh mình.

Ông thu gói tình thương đó lại, kín đáo, lặng lẽ cũng như ông lặng lẽ kín đáo thu thập di vật của người con trai ngắn số cất vào một chỗ, một chỗ sâu kín của lòng ông.

*

Năm ấy mẹ Hoà mười chín tuổi. Cô từ chối những lời cầu thân của nhiều người vì cô chưa nghĩ đến tình yêu, song có lẽ phần lớn cô do dự bởi ngại nỗi về nhà chồng thì cha già hiu quạnh một mình. Cứ lần lữa đến đâu hay đó. Mỗi bận cha cô bàn đến chuyện chồng con thì cô lại thưa cha hãy thong thả, rằng cô muốn được gần cha ngày nào hay ngày ấy, rằng sớm muộn gì mà cô không phải lấy chồng ?

Cô rất cảm tình với người thanh niên nghèo khổ xa lạ mà cha cô đưa về. Từ cảm tình đến tình yêu thật không xa cách mấy, nhưng mỗi lúc nghĩ đến miền Trung xa tít tắp nào đó mà mình sẽ phải đi theo, để cha già còm cọm, thui thủi lẻ loi sớm chiều trong gian nhà vắng lặng thì lửa tình cô tắt biến. Mãi cho đến khi cô thú thật điều lo ngại của mình, thì cha Hoà thổ lộ hết chuyện gia đình và bằng giọng xót xa, anh nói :

- Tôi còn về đó làm chi ? Đau lòng quá lắm ! Tôi sẽ lấy quê em làm quê tôi, cha em làm cha tôi…

Trầm ngâm một lát, anh tiếp :

- Mà dù có tính đến chuyện về cũng còn lâu lắm, chừng nào cha em…

Thế là họ thành hôn. Ông ngoại Hoà vui vẻ, vuốt râu chờ bế cháu. Ông chờ có hơi lâu, vì mẹ Hoà chậm sinh, mãi đến ba năm mới có tin mừng.

Ông nhắc đi nhắc lại một câu ông đã nói nhiều lần, mỗi lần bế cháu trên tay :

- Vậy mà ông cứ lo cháu đợi ông chết rồi mới ra đời chứ !

Hết sức mãn nguyện vì rể tốt, cháu ngoan, ông ngoại Hoà nói rằng ông sẵn sàng chờ chết. Và ông mất trong một giấc ngủ yên lành.

*

Khi cái cớ duy nhất ngăn cản ý định về quê của cha Hoà không còn nữa, thì chiến tranh lại tái diễn đến mức không ngờ. Tái diễn một cách khốc liệt, dữ dội. Riêng đối với cha Hoà thì càng vô lý, khó hiểu. Ông tưởng rằng cởi bỏ ách thống trị, dân tộc mình có thể sống trong sự tương thân…

Dù không muốn, gia đình cha Hoà đã mặc nhiên trở thành thị dân và nghề tài xế dù không phải là một nghề ông vừa ý, song ít nhất nó cũng là một nghề đủ nuôi sống gia đình.

Như hoa hướng dương luôn luôn quay về hướng mặt trời, cha Hoà cũng vậy, tình quê dào dạt trong lòng ông. Ông thường nhắc đến ước mơ được về quê cầm lại cái cày, cán cuốc. Nhưng điều ao ước tầm thường, nhỏ nhặt đó cũng mịt mùng, xa xôi, cũng thăm thẳm khó đạt, khó với tới như cái hy vọng được thấy hoà bình vãn hồi trên mảnh đất thân yêu.

Cha Hoà ngạc nhiên thấy thù hận bây giờ nhạt nhoà hẳn trong trí nhớ, mối thù mà ông từng nghiến răng thề sẽ trả cho bằng được, ngày đêm ôm ấp đợi chờ từng phút từng giờ đó, sao bây giờ tan biến như sương buổi sớm, như khói lam chiều, không để lại dấu vết nào. Thù oán làm chi nữa ? Cha mẹ mình có sống lại được đâu ? Mà chắc gì kẻ gây tội ác được sung sướng ? Chưa biết chừng ruộng đất đó đã đổi chủ cũng nên ? Chao ! Cuộc đời dâu bể…

Cha Hoà không mong muốn được làm giàu. Giàu có thì sung sướng chi ? Ông cho rằng dù giàu có đến bao nhiêu đi nữa, người ta vẫn ngủ một đêm bảy hay tám giờ, mỗi lần chỉ mặc một bộ quần áo và ban đêm không thể choán chỗ trên hai chiếc giường. Ông tỏ ý thương hại những người giàu có khư khư khổ sở chắt bóp để có thêm mà không dám tiêu dùng chuyện đáng tiêu, như vậy có sung sướng chi đâu ? Mình làm chủ của cải chớ của cải sao làm chủ được mình ?

- Chuyện gì gọi là chuyện đáng tiêu đâu ? Làm sao anh biết ?

Mẹ Hoà cười, gặng hỏi. Cha Hoà nghiêm trang :

- Sao tôi lại không biết chuyện đáng tiêu ? Như tôi đây này, tôi mà có tiền nhiều thì tôi cất trường học, xây nhà thương, làm những việc có ích…

- Nhưng anh thì làm gì có nhiều tiền để làm nổi những chuyện có ích ? Còn nói thí dụ như anh có tiền, biết chừng đâu lúc ấy anh lại đổi tính nghĩ khác cũng nên…

- Khác làm sao đâu ?

- Nghĩa là anh cũng nghĩ như những người mà anh chê hiện nay đó : khư khư ky cóp kiếm thêm…

Cha Hoà kêu lên, vẻ phật ý :

- Trời ơi ! Mẹ thằng Hoà ! Mình cho tôi là hạng người gì chớ ? Tôi này, cha thằng Hoà, cha con Mai này mà lại không biết chuyện như vậy hay sao ? Không đời nào !

Hai người cười vang lên. Các con cũng cười theo. Chúng vui vì thấy cha mẹ vui.

Những lúc vắng nhà lâu, cha Hoà gửi thư về. Ông cũng là tay văn chương có hạng.

Ông viết như sau : “… Anh nhớ mình với các con lắm, cho đến nỗi nhiều khi anh muốn từ bỏ quách cái nghề tài xế này đi. Anh biết là mình cũng muốn vậy, song nghĩ lại anh thấy không thể nào ngồi không, chờ mình chạy gạo cho cả nhà được.

Mình đáng được sung sướng hơn. Các con cần học hành tới nơi, tới chốn. Chuyện con Mai thôi học tôi buồn lắm đó, tôi không muốn vậy, nhưng bởi mình nghèo, phải chịu thôi. Con Mai nay học may đã khá chưa ? Chừng nào thì ba khỏi đem vải ra cho thợ ? Còn Hoà, con mà đậu tiểu học thì ba sẽ cho con cái xe đạp. Gắng lên ! Con Mai sẽ có máy may. Chịu không ? Còn Bé nữa, ba không quên đứa nào đâu. Kỳ này ba đi xa, khó nhọc nên ba có nhiều tiền hơn.

Mưa dữ quá, lại lạnh nữa. May nhờ mẹ con phòng xa bỏ trong xách ba cái áo len chớ không thì phải biết. Mẹ con là người biết chuyện. Ba cảm ơn mẹ con nhiều lắm đó. Chắc vài tuần nữa ba về. Chỉ tại cái xe nó già rồi, hay làm nũng, nằm vạ luôn, thật khó chìu, khó dỗ. Tức cười không ? Ba cũng già mà không làm nũng, cái xe thì trái lại. Đi xa thì dỗ xe, về nhà thì dỗ các con. Coi chừng kẻo mẹ đánh, không có ba, không ai dỗ đâu, nghe không ?

Thôi, ba ngừng nơi đây. Thăm các con với mẹ, nghe không…”

Buồn cười thay : mẹ con Hoà ít khi có dịp thưởng thức được cái tài văn chương của ông trong khi ông vắng mặt vì một điều giản dị là thư luôn luôn về đến sau người viết ! Mẹ Hoà phàn nàn dữ lắm, nhưng Hoà thì không. Thằng con trai ưng đọc thư cha trước mặt cha : nó có dịp thấy cha đỏ mặt lên ngượng nghịu vì những lời lẽ âu yếm do chính tay mình viết, do ý nghĩ thành thực của mình. Nó làm sao ấy… nó kỳ cục… nó tiểu thuyết, chịu không được.

Người cha nhoài tới, giằng lấy lá thư, song Hoà nhanh chân chạy biến ra đường. Khi Hoà trở vô, ông làm bộ giận, kêu lên :

- Đưa cái thơ đây, thằng nhỏ !

- Ủa, ba gởi cho mẹ với tụi con thì để con đọc chớ, ba gởi làm chi mà không cho con đọc ?

Ông chịu thua, xuống giọng :

- Thì đọc đi, mà đừng có đọc to, thằng nhỏ rắn mắt !

Nhưng thằng nhỏ rắn mắt không đọc nhỏ như lời cha bảo, nó đọc to cốt để trêu cha, sau cùng mẹ nó can thiệp, đòi phết cho mấy roi vào mông, nó mới thôi.

Sau những chuyến đi xa và lâu, cha Hoà trở về với rất nhiều quà, có nhiều chuyện kể cho các con nghe và cũng nghỉ ngơi lâu hơn.

Nằm trên võng, ông nghêu ngao cất giọng ngâm một đoạn Lục Vân Tiên – vì ông không biết gì khác hơn :

- Làm con đâu dám cãi cha,

Dẫu cho muôn dặm đường xa cũng đành.

Chẳng qua là sự bất (ớ ớ… ớ) bình.

Hay vầy (ơ ơ… ơ) tôi chẳng (có) đăng trình làm chi.

Lâm nguy chẳng gặp giải (ơ… ơ ơ) nguy,

Tiết trăm năm cũng (a a… a) bỏ đi…

Thình lình, ông ngồi bật dậy như cái lò xo, gọi mẹ Hoà giật giọng :

- Mẹ nó đâu ? Mẹ nó ơi !

- Chuyện gì vậy ?

- Mình nướng bánh chưa ?

- Chưa, chi gấp vậy ?

- Thì nướng để kéo mạch nha cho lũ nhỏ ăn chớ chi gấp ? Người ta mua về mà không cho con người ta ăn…

Và rồi, ông nói hoài, lằng nhằng dai dẳng cho đến chừng mẹ Hoà phải ngừng công việc khác, bỏ dở đó đi nướng bánh, ông mới bằng lòng.

Nằm xuống võng, ông quên béng đoạn tiếp theo. Cũng chẳng hại gì. Ông bắt sang đoạn khác, giọng ông trầm xuống cho hợp với tâm tình người trong truyện :

- Đã đành đá nát vàng phai.

Đã đành xuống chốn tuyền đài gặp (á á… á) nhau…

Ngồi thì tim lụn dầu hao.

Hỡi (a a) người trong tượng trầu cau đây này !

Cách nhau đã mấy năm chầy.

Không ai hơn thiệt cho khuây…

Đang nằm trong lòng cha, lim dim mắt, bỗng Bé ngồi lên, vùng vằng :

- Con không chịu, con không chịu ba hát cái đó.

- Mày quyền thế dữ há ? Ba muốn hát cái nào ba hát chớ, ăn thua gì mày mà không chịu ? Làm trời hả ? Muốn đòn không ?

Mai quát em. Người cha vội vàng ngăn :

- Thôi, kệ em, con ! (Ông dịu dàng hỏi Bé) Sao con không chịu ? Tại cái đó buồn quá phải không ?

- Con không biết (Bé càng phụng phịu) con không ưng ba hát cái đó…

- Thôi, ba hát cái hay hơn nghe không ? Ba hát hay lắm chớ không phải thứ hát rên rên như chị Mai với anh Hoà con đâu.

Và ông dặng hắng lấy giọng, hát to :

- Thanh niên Việt-nam mau bồng súng ra sa trường. Thanh niên Việt-nam không lùi bước trước làn gươm. Tay phất cao lá cờ…

- Hay ghê ! Ba hát hay ghê !

Bé vỗ tay tán thưởng, nhưng đúng lúc ấy người cha lại quên đoạn tiếp. Ông quên mất cái bài hát mà năm 45, 46 ông thuộc nằm lòng, bài hát đã lôi cuốn ông cùng vô số người trẻ tuổi. Trí nhớ mình tệ thật, ông nghĩ thầm. Bé giục :

- Hát đi ba ! Con ưng ba hát cái đó !

Để con vừa ý, ông xoay qua điệu cải lương :

- Nối ngôi trời sửa trị, Trẫm tước hiệu Minh Vương, ra oai phong bủa khắp bốn phương, rưới nước đức thấm nhuần muôn họ, nhưng mà, Trẫm nghĩ lại Trẫm giận thay cho (ca lớn lên) các loài Tây phiên, chẳng nể, không kiêng, rất…

Lại bí. Bé dãy lên, oà khóc. Chị Mai trừng mắt một cái, xông lại bên em :

- Đi chỗ khác cho ba nằm. Đừng có làm rộn…

- Thôi, Mai ! Con sao có được cái tài ăn hiếp em là nhứt. Để nó nằm với ba. Cha con tao làm gì mặc kệ cha con tao. Mày lo theo mẹ mày đi ! Lôi thôi, tháng tới tao không mua máy may cho đâu.

Mai lườm em một cái, doạ :

- Còn làm rầy ba, coi chừng đó !

Rồi Mai xuống bếp. Tiếng võng lại kẽo kẹt, cha Hoà nằm xuống, trở lại đoạn thơ Lục Vân Tiên dang dở vừa chợt nhớ ra.

Cha Hoà như thế đó : cưng con, quí vợ, vui vẻ, hiền lành, tận tâm, chăm việc.

Cho đến nỗi bà Năm bán quán vẫn nói với mẹ Hoà :

- Mày thiệt là có phước ! Có thằng chồng sao mà tốt nết quá chừng ! Từ hồi về đây tới nay hai năm, tao chưa bán cho nó được một đồng bạc rượu, gói thuốc lá cũng không.

___________________________________________________________________________
Xem tiếp CHƯƠNG III

CHƯƠNG I_LỬA DẬY TRỜI XUÂN

CHƯƠNG I

Ai bảo cứ hễ giàu là sướng và nghèo thì khổ ? Hoà không tin vậy. Bằng cớ là nó thấy thằng Tâm, bạn thân của nó, con nhà giàu thật sự, giàu ghê gớm, giàu nhất trong số những nhà giàu mà nó được biết, cứ luôn miệng kêu khổ không ngừng.

Ngay cả Hoà, nó cũng tin là bạn mình khổ thật chứ không phải giả vờ. Kể ra, thoạt nghe qua người ta khó mà tin được, thì vẫn… xưa nay ai người ta cũng nghe, cũng nói tiếng nghèo đi kèm bên tiếng khổ : nghèo khổ ! Chứ có ai mà lại đi nói ngược đời giàu khổ bao giờ ?

Lửa dậy trời Xuân - MINH QUÂN


Truyện : MINH QUÂN
Bìa của Vi Vi
Loại hoa Tím
Nhà sách Minh Đăng - 1972

PHẦN V_CÂY ĐÀN HUYỀN DIỆU

Nhưng những thành công càng lớn lao thì bên cạnh đó Pa-ga-ni-ni lại phải đương đầu với một dư luận của những kẻ thù cố tình bôi nhọ tài năng của chàng. Tất cả những kẻ ít có tài năng nhưng lại giàu lòng đố kỵ, cũng như phần đông bất tài thường cảm thấy người mình nhỏ bé trước cái thiên tài vĩ đại Pa-ga-ni-ni, tìm bằng mọi cách phao vu rằng chàng không phải là một người thường, mà chỉ là con đẻ của loài quỉ, không có cha mẹ đích thực. Nhiều người nhất định là khi chàng đàn thì chính quỉ sứ điều khiển cây cung kéo đàn của chàng, còn chàng chỉ là một cái xác chết mà thôi. Người ta nhất quyết bảo rằng : “Một đứa trẻ cũng có thể biết dễ dàng Pa-ga-ni-ni không phải là người bằng xương bằng thịt như mọi người khác. Đó chỉ là loài quỉ sứ trá hình để cố lừa phỉnh cảm giác chúng ta bằng những xảo thuật huyền bí”. 

Một sự phao truyền như thế vẫn làm xúc động được khá nhiều người. Quần chúng vẫn ưa những chuyện gay cấn, quái đản, nên tin vào lời đồn đãi một cách dễ dàng.. Hơn nữa tài năng quá đỗi phi thường cùng cái hình dạng xấu xí bên ngoài của chàng dễ làm cho một số người nông nổi tin theo sự phao vu ấy. Cuối cùng Pa-ga-ni-ni buộc lòng phải nhờ vả đến mẹ mình viết một bức thư chứng nhận rằng chàng chính là con đẻ của bà và cho đăng tải bức thư lên báo, bức thư đầy lòng thương yêu, trìu mến của chính mẹ chàng. Nhưng sự đăng tải ấy vẫn không cách nào ngăn cản được vu khống càng ngày càng mạnh và từ khâm phục, quần chúng bắt đầu có người thấy ghê sợ chàng. Nhà vua cùng với một số quý tộc mến yêu tài nghệ của chàng đứng ra bảo trợ, cam kết rằng chàng chính là người thực, mà cuối cùng vẫn không sao dẹp được dư luận quái ác cố tình phủ nhận tài năng đích thực của chàng. Rồi trên mặt báo, nhiều người bắt đầu gọi chàng bằng cái danh hiệu “nhạc sĩ vĩ cầm của quỷ sứ”, hoặc “quỷ sứ biết đàn”, và cho rằng nghệ thuật của chàng không có chút gì bình thường và tự nhiên cả. 

Tất cả những sự vu khống phao truyền như thế ban đầu không có tác động đáng kể đến tâm hồn chàng, nhưng trong sự mệt mỏi của một con người sống nhiều bằng sự hoạt động, cuối cùng Pa-ga-ni-ni cảm thấy bất lực, và chàng tìm sự an ủi những nỗi đau khổ của mình trong sự chăm sóc thằng bé A-si-li-nô, đứa con duy nhất của chàng.. 

Một hôm, trong số những người chờ đợi trình diễn có một nhạc sĩ trẻ tuổi đứng ở hàng đầu là Phrăng Lit. Đến khi Pa-ga-ni-ni hiện ra ở trước thính giả thì Lit có cảm tưởng rằng người ấy bay đến chứ không phải đi như là người thường. Khi cuộc trình diễn bắt đầu thì Lit hoàn toàn ngơ ngác vì chàng nghĩ rằng không phải là mình nghe nhạc mà đang lạc loài giữa cơn bão táp, nghe những tiếng gió đích thực, tiếng biển ồn ào sôi động đích thực, diễn tiếp quanh mình. Không, chiếc đàn vĩ cầm không sao diễn đạt được những âm thanh như vậy. Lit nghe tiếng những giọt nước mưa rơi tan thành bụi nhỏ, tưởng như thấy những chớp nhoáng sáng loà ở giữa bầu trời u tối. Thần kinh của chàng xúc động tột độ. Bàn tay của “tên quỷ sứ” ở trên sân khấu không phải chỉ cò năm ngón mà có đến năm mươi ngón.. Những ngón tay ấy bay vút lên những dây đàn tạo ra chớp nhoáng, gây ra sấm sét. 

Pa-ga-ni-ni cúi gập mình xuống gần như cọ sát mái đầu xuống dưới đôi gối khẳng khiu và bỗng thình lình ngẩng hẳn người lên như chiếc lò xo. Người ta còn nghe thêm một lần nữa tiếng hú kinh hoàng của cơn bão tố. Rồi mây tan, gió tạnh, mặt trời bừng chói, vài giọt nước mưa vẫn còn rơi rụng lác đác, rồi cả điệu nhạc tan dần như một hơi thở lặng im. 

Sự thành công của Pa-ga-ni-ni thực là khủng khiếp nhưng hình như chàng không cảm thấy nỗi vui lòng. Lit tưởng như nhìn thấy nét cau có và giận dữ của người nghệ sĩ, khi người nghệ sĩ gục đầu xuống chào thính giả rồi ngẩng lên, đôi vai cùng nhún trong một điệu bộ tuyệt vọng và đôi mắt sáng vẫn nhìn chăm chú chiếc đàn. 

Đêm ấy, sau khi lang thang hết các đường phố hoang vắng vì bị ám ảnh bởi những điệu nhạc nghe thấy, Lit về nhà rất khuya, ngồi với chiếc đàn dương cầm và chàng thấy rằng tất cả những gì mà mình hài lòng từ trước đến giờ không còn giá trị gì nữa. Nghệ thuật của chàng phải được đổi mới, phải được đổi mới hoàn toàn. Từ trước đến giờ tiếng đàn của chàng không bày tỏ được một tình ý nào cụ thể, và chỉ diễn tả toàn những xúc động mơ hồ. Chàng phải làm sao nói lên cho được rõ ràng như thấy ở trước mắt mình từng tiếng chim kêu, gió thổi, từng nỗi si mê, từng những cảnh đời. Dày vò trong những suy tưởng như vậy chàng ngủ một giấc đầy sự khuấy động mệt mỏi. Sau khi tỉnh dậy chàng vội sửa soạn áo quần, và điểm tâm xong đến xin yết kiến Pa-ga-ni-ni. 

Sau khi chào hỏi lễ phép, chàng tự giới thiệu : 

- Thưa ngài tôi là Lit. Tôi… Tôi… 

- Tôi đã nghe người ta nói rất nhiều về ông, nhưng tôi thú thật là chưa được đến dự một phiên hòa nhạc nào của ông cả. Bây giờ, chúng ta có thể cùng nhau chuyện trò. 

Pa-ga-ni-ni dắt tay người nhạc sĩ trẻ đưa vào phòng khách. Lit lúng túng nói : 

- Tôi được hân hạnh xem ngài trình diễn hôm qua và tôi cảm thấy những lời tử tế của ngài vừa rồi thật làm cho tôi hết sức băn khoăn. Ngài thực ở trên… 

Pa-ga-ni-ni ngắt lời : 

- Bạn hãy còn trẻ, chúng ta nói chuyện về bạn thì hơn. Bạn có điều gì muốn cùng trao đổi và để tôi được chia xẻ hay không ? 

Lit không nén được cảm động, dừng lại một lát mới hỏi : 

- Tôi muốn diễn tả trên đàn dương cầm những gì mà ngài diễn tả trên đàn vĩ cầm, điều ấy có thể thực hiện được không ? 

- Không, bạn à. Tôi tưởng rằng điều đó thật khó lòng. Mỗi nhạc cụ có những đặc tính của nó, nhưng bốn dây đàn của chiếc vĩ cầm có một khả năng phong phú hơn nhiều. 

- Thưa ngài, tôi đã bắt đầu học nhạc như ngài từ lúc năm tuổi. Vượt qua bao nhiêu tháng năm, tôi không ngừng nghỉ luyện tập một cách nhiệt tình. Tôi tự nguyện rằng tôi sẽ trở thành Pa- ga-ni-ni của đàn dương cầm. 

Pa-ga-ni-ni mỉm cười thân mật rồi nói : 

- Như thế có lẽ dễ dàng thành đạt hơn là trở thành Pa-ga-ni-ni của đàn vĩ cầm. Tất cả những sự khó khăn của đàn dương cầm nếu đem so sánh với một số điệu nghệ thuật của đàn vĩ cầm thì chỉ đáng xem như trò đùa con trẻ mà thôi. Này bạn, tôi chỉ nói lên một điều mà ai cũng có thể thấy ở trên thực tế : một người sử dụng dương cầm không sao kích động quần chúng như tôi đã từng thực hiện. 

Những lời Pa-ga-ni-ni vừa nói không có chút gì kiêu hãnh, khoe khoang, mà được phát biểu một cách giản dị, chân thực. 

Lit không ngăn được thất vọng, nhưng chàng thành kính trả lời : 

- Thưa ngài, tôi cảm tạ ngài hết sức. Tôi sẽ không bao giờ cho phép mình được nghỉ ngơi nếu tôi chưa thành người đàn dương cầm số một của Âu Châu này. Ngài đã chỉ giúp cho tôi con đường mà tôi phải theo, tôi xin cảm tạ ơn ngài. 

Pa-ga-ni-ni nhìn thẳng vào mặt người nhạc sĩ trẻ, không giấu được sự ngạc nhiên. Nhưng người này đã lặp lại bằng một giọng điệu cương quyết lạ lùng : 

- Tôi sẽ đạt đến những gì mà nhiều người không thể nào đạt được. Nhất định tôi sẽ phải có những gì không thể có được. Dưới những ngón tay của tôi, cây đàn dương cầm sẽ nói lên được ngôn ngữ mà chưa có ai nghe thấy bao giờ. Thưa ngài, hôm qua ngài đã chỉ rõ con đường mà tôi phải theo. 

Pa-ga-ni-ni bèn nói : 

- Nếu có một người thành công trong sự nghiệp này, thì chắc hẳn rằng người đó là bạn. 

Rồi chàng đặt tay lên vai của người bạn trẻ, một tay đặt lên mái tóc người ấy. Lit nhắm mắt lại, cảm thấy được sự vỗ về, một sự khuyến khích vô biên. Đồng thời trong giây phút ấy chàng có niềm tin dứt khoát rằng mình sẽ thành công. 

Pa-ga-ni-ni bèn sang trình diễn ở Anh. Người dân xứ này từ lâu được xem như là những kẻ lạnh nhạt, nhưng giữa các cuộc trình diễn đã la hét vang dội, hoan hô, vỗ tay, tung mũ, múa gậy như những người điên. Giá vé trong cuộc trình diễn tăng lên theo một nhịp điệu không ngờ và Pa-ga-ni-ni mỗi lần ra phố khó lòng di chuyển giữa những đám người hiếu kỳ ngưỡng mộ tài chàng, bao vây chung quanh. Ngoài những ngày giờ trình diễn chàng còn lưu trú trong một nhà thờ vắng vẻ để tránh những sự quấy rầy. Mặc dầu báo chí không còn ủng hộ chàng như trước nữa, nhưng mối nhiệt tình của lớp thính giả vẫn còn hết sức nồng nàn. Triều đình nước Anh mời chàng trình diễn ở tại cung điện Bơt-kin-gam. Pa-ga-ni-ni đòi phải trả đúng món tiền là một ngàn quan. Hoàng đế nước Anh, nổi tiếng là người tiết kiệm, trả lời cho chàng hay là triều đình chỉ có thể trả cho chàng phân nửa tiền ấy mà thôi. Pa-ga-ni-ni trả lời cho vị đại diện triều đình như sau : “Hoàng đế có thể đến nghe tôi trình diễn nhạc với một giá rẻ nhiều hơn như vậy ở tại hí trường, nhưng tôi không thể nào đồng ý rằng nghệ thuật của tôi phải bị mặc cả”. Và chàng không chịu trình diễn ở tại đền vua. Sau đó, Pa-ga-ni-ni qua Ái-nhĩ-lan. Chàng được một số quần chúng nhiệt thành kéo chàng dạo khắp phố phường vừa hoan hô rất sôi nổi. Gần như mỗi ngày, suốt liền trong hai tháng trời, chàng đều có trình diễn nhạc ở Ái-nhĩ-lan. Khi chàng đến Măng-sét-tơ thì nghe tin mẹ của mình qua đời. Suốt hai ngày liền, chàng nằm lỳ trong khách sạn không ăn, không uống. Tất cả nỗi đau khổ ấy chàng chỉ còn nhờ cây đàn của mình diễn tả hộ mình. Con người duy nhất trên cuộc đời này đã thương yêu chàng với một tấm tình quảng đại của sự hy sinh, vĩnh viễn đã giã từ chàng. 

Trong thời gian ấy, bịnh dịch tả hoành hành trong khắp phố phường Ba-Lê. Một sự hốt hoảng càng ngày càng lan rộng khắp nơi. Pa-ga-ni-ni vẫn không sợ hãi sự chết và chàng cạnh tranh với nó để lôi kéo dân Ba-Lê về mình. Chàng vẫn mời mọc họ đến dự đông đảo những buổi tấu nhạc và mỗi thính giả bước ra khỏi nhà vẫn có cặp kè một hộp thuốc trừ dịch khí. Nhưng mỗi ngày dịch tả càng hoành hành hơn và cảnh chết chóc trở thành hiện tượng phổ biến. Tầng lớp quý tộc ban đầu cứ tưởng rằng bịnh thời khí chỉ có quyền năng đối với dân nghèo, nay đâm hoảng lên vì thấy chỉ trong vòng một tuần lễ dịch tả đã lôi về hẳn bên kia thế giới tám quý tộc, năm vị sứ thần và vô số bọn thượng lưu. Từ đấy ở đâu cũng chỉ có một đề tài thảo luận : cái chết. Tất cả giáo đường đều phủ dạ đen. Đàn ông cũng như đàn bà đều mặc tang chế, xe cộ phủ đầy vải vóc tang ma và cả thành phố chỉ còn là vở bi kịch mênh mông. 

Pa-ga-ni-ni vững tin rằng bịnh dịch tả không thể xúc phạm được mình. Tuy vậy chàng vẫn hết sức phòng ngừa, gìn giữ trong sự ăn uống tiếp xúc, và hăng hái tổ chức những cuộc trình diễn để giúp đỡ các gia đình nạn nhân. Tờ công báo của chính phủ đã ghi nghĩa cử ấy như sau : “Cuộc tổ chức được diễn ra trong một không khí hân hoan khó tả. Nhà ảo thuật thiên thần ấy của đàn vĩ cầm tiếp nhận những sự hoan hô với sự xúc động đặc biệt”.. Ở tại Ba-lê chàng còn trình diễn liên tiếp tám đêm và đêm nào cũng tràn ngập người dự. 

Ngày 16 tháng 5 năm 1835 Pa-ga-ni-ni có một niềm vui hết sức lớn lao : thành phố Giê-nơ, quê hương của chàng, trao tặng cho chàng chiếc mề đay vàng, là phần thưởng vinh dự nhất, rồi bốn tuần sau hầu tước Cát-lô-đi-nơ-rô là người đã từng đỡ đầu cho chàng khi chàng còn nhỏ, gởi giấy mời chàng dự buổi khánh thành bức tượng bằng đá cẩm thạch của chàng. Ngày 25 tháng 7 chàng về quê hương và không nén được cảm động khi thấy hầu tước Nơ-rô bây giờ đã bảy mươi tuổi vẫn còn chăm sóc đến danh vọng chàng như ngày thơ ấu chàng được ông ta săn sóc nghệ thuật. Đứng trước bức tượng của mình, Pa-ga-ni-ni không thể ngăn được nước mắt và sự nức nở trong niềm xúc động chứa chan. Chàng có cảm tưởng như đó là một giấc mơ, một thứ ảo tưởng mà khi giật mình tỉnh dậy chàng sẽ đối diện với những sự thực não nề. Chàng ôm thằng bé A-si-li-nô vào lòng như tìm lấy một điểm tựa. 

Sau cuộc khánh thành, nhiều cuộc vui khác được trình diễn để mừng chàng. Một ban kịch đã tập sẵn để diễn lại những cảnh sống mà chàng trải qua từ khi còn bé cho đến bây giờ. 

Đến năm sau, Pa-ga-ni-ni bắt đầu tiếp tục trình diễn nhưng chàng bị bịnh ung thư cuống họng phải nằm liệt giường hằng tháng. Tuy vậy những chức vị danh dự tiếp tục ban phát cho chàng đến từ khắp nơi và ở Ý, ở Pháp, ở Anh, ở Nga, người ta thỉnh cầu chàng đến trình diễn nhưng chàng phải nằm lì trên giường bịnh. 

Nhiều triệu chứng u tối ám ảnh tâm hồn nhạc sĩ khiến chàng như nhìn thấy trước cái chết gần kề. Ngày 27 tháng 4 năm 1837 chàng soạn thảo chúc thư để hết gia sản cho đứa con trai độc nhất, một cái gia sản lớn lao vô cùng. Về phần người vợ bạc bẽo đã rời bỏ chàng, chàng cũng chia một ngân khoản lợi tức hàng năm. 

Ngày 16 tháng 12 năm 1838 thì người nhạc sĩ nổi danh Béc-li-ô tổ chức một cuộc tấu nhạc rất lớn để trình bày các soạn phẩm mới mẻ của mình. Xong buổi trình diễn, nhạc sĩ mệt mỏi, đầm đìa mồ hôi chỉ được thính giả vỗ tay một cách rời rạc. Vừa bước ra khỏi sân khấu chàng gặp một người làm nhiều điệu bộ tiến tới gần mình. Đó là Pa-ga-ni-ni, bây giờ đã bị bịnh đau cuống họng làm cho tắt hẳn tiếng nói. Chỉ có thằng bé A-si-li-nô nhờ bản năng của tình thương cảm thông được hết tình ý cha mình. Pa-ga-ni-ni đưa tay ra dấu cho con và đứa bé leo lên chiếc ghế kê tai gần sát miệng chàng. Đoạn nó kêu lớn : 

- Ông Béc-li-ô ! Ông Béc-li-ô ! Ông đừng đi vội ! 

Đoạn nó leo vội xuống ghế chạy đến kéo áo người nhạc sĩ này nó nói : 

- Cha tôi bảo tôi đến thưa với ông rằng suốt quãng đời của người chưa bao giờ người cảm thấy xúc động sâu xa như buổi trình diễn hôm nay. Âm nhạc của ngài đã làm tinh thần của người rối loạn. Nếu không dằn lòng lại được có lẽ người sẽ quỳ xuống để cảm tạ ông. 

Béc-li-ô không hiểu rằng mình đang mê, hay là đang tỉnh. Pa-ga-ni-ni, người khổng lồ giữa những khổng lồ về thiên tài nhạc, lại nói với chàng những lời tán tụng đến thế hay sao ? Chàng chỉ là một nhạc sĩ khốn khổ, luôn luôn bị coi thường, đả đảo, đã chịu biết bao hành hạ hơn bất cứ là nhạc sĩ nào ở tại thủ đô Ba-lê trong khi chàng cố giới thiệu một cách diễn tả âm nhạc hoàn toàn mới mẻ, trong một tinh thần cách mạng. 

Khi chàng quay lại thì Pa-ga-ni-ni đã ở sau chàng. Người này đặt tay lên vai Béc-li-ô, đẩy nhẹ chàng vào sân khấu còn có một số nhạc sĩ đang còn ngồi đấy. Nước mắt chan hoà, Pa- ga-ni-ni quỳ xuống và cầm bàn tay Béc-li-ô đưa lên môi mình. Nhưng Béc-li-ô vội kéo chàng dậy và ôm chặt lấy vào lòng. 

Trở về nhà khá lâu, và đứa bé đã ngủ say mà người nhạc sĩ vĩ cầm vẫn nghe những bản nhạc của Béc-li-ô kích động sâu xa tâm hồn của mình. Trước khi đi ngủ, chàng dự định sẽ tìm cách giúp đỡ nhà soạn nhạc tài năng đang sống trong cảnh khốn cùng. Nhưng lúc tỉnh dậy qua sáng hôm sau, chàng thấy mình suy yếu quá và cơn bịnh lại dày vò cơ thể của chàng. 

Đến khi thằng bé A-si-li-nô đến để thăm hỏi, chàng mới bảo nó lấy bút mực lại để chàng viết một bức thư cho người nhạc sĩ đêm qua. 

Trong khi ấy, Béc-li-ô cũng nằm lỳ trên giường. Chàng thấy khốn khổ đến muốn lìa đời. Mặc dầu buổi trình diễn vừa qua không đến nỗi thất bại nhưng sự cố gắng từ lâu đã khiến cho chàng suy nhược hoàn toàn. Tất cả tiền của hết sạch, chàng chưa biết rằng phải xoay sở ra sao để trả tiền nhà vào lúc đầu tháng. Chàng tự bảo : “Thà là dứt hẳn nợ đời cho được nhẹ nhàng”. Rồi như muốn tách biệt hẳn cõi đời bên ngoài, chàng nằm co quắp trên giường, kéo mền trùm kín lấy đầu.

Gian phòng thật là lạnh lẽo. Không thể nào mua than củi sưởi ấm và mỗi ý nghĩ ngồi dậy đủ làm run rẩy toàn thân chàng rồi. Bỗng có tiếng ai gõ cửa bên ngoài. Chàng không trả lời. Có lẽ một người chủ nợ nào đó muốn đến khủng bố chàng nữa. “Gõ đi ! Đồ khốn ! Tao không còn ở đây nữa”, nhạc sĩ nghĩ thầm như thế khi nghe tiếng gõ mỗi lúc càng mạnh. 

Rồi giọng một đứa trẻ con vang lên : 

- Ông Béc-li-ô ! Tôi đây, tôi là A-si-li-nô. 

Người nhạc sĩ cố gắng bước ra khỏi giường, tròng vội áo khoác, chiếc áo mốc meo, sờn rách mà Ha-ri-ê, vợ chàng, đã tặng cho chàng từ lâu. Chàng nghĩ : “Quái quỷ cho thằng bé này, nó muốn hỏi han gì mình lúc này”. Rồi chàng mở cửa : 

- A-si-li-nô, cháu đấy phải không ? Cháu xem, chú đau liệt giường cho nên… 

- Cha cháu sẽ lấy làm buồn hết sức nếu biết rằng chú đau ốm thế này. 

Đứa bé nói xong vừa nhìn gian phòng tiều tụy và cái khuôn mặt xương xẩu, ốm o cùng mớ tóc rối của nhà soạn nhạc. Đoạn nó nói tiếp : 

- Cha cháu hôm nay cũng nằm liệt giường. Người bảo cháu mang thư này đến chú. 

Béc-li-ô làm một cử chỉ định mở phong thư để xem, nhưng đứa bé đã ngăn lại : 

- Chú không cần phải trả lời. Cha cháu bảo rằng chú chỉ đọc thư khi nào chú ở một mình thì hơn. 

Không đợi cho nhà soạn nhạc trả lời, A-si-li-nô cúi chào lễ phép, rồi bước vội ra ngoài cửa. 

Béc-li-ô vỗ vào trán mình. Chàng có cảm tưởng trong giây phút ấy rằng mình là kẻ bội bạc : người nghệ sĩ lớn nhất của thời đại là Pa-ga-ni-ni, bậc thiên tài số một của vĩ cầm hôm qua đã cho chàng một ân huệ vô cùng lớn lao và không dễ gì những kẻ còn sống có được, vậy mà Béc-li-ô, chàng lại tuyệt vọng đến mức muốn giã từ đời! Chàng nghĩ có lẽ bậc thiên tài ấy viết thư để khen ngợi chàng, và chàng trân trọng mở bức thư ra. Đây là nội dung của lá thư ấy : 

Bạn thân thiết, 

“Chỉ mỗi mình bạn mới có thể làm sống lại được Bết-Hô-phân (Bethoven). Tôi được thưởng thức tài nghệ của bạn, tài nghệ xứng đáng của một thiên tài sáng tạo, tôi tự thấy mình có cái nhiệm vụ gởi đến tặng bạn hai mươi ngàn quan. Tôi mong bạn hãy nhận lấy, do lòng ngưỡng mộ sâu xa của tôi. 

Bá tước Rốt-Sin là người mà tôi gởi gắm bạc tiền, sẽ trao cho bạn đủ số, khi bạn trao đến bức thư đính kèm sau đây. 

Mong bạn tin tưởng nơi mối cảm tình chân thành của tôi.” 

Pa-ga-ni-ni 
Ba-lê, 18 tháng 12 – 1838 

Bức thư đính kèm gởi cho bá tước Rốt-Sin được viết như sau : 

“Kính thưa bá tước. Tôi xin trân trọng kính nhờ bá tước trao lại cho ông Béc-li-ô số tiền hai mươi ngàn quan mà tôi vừa gởi đến cho bá tước. Xin bá tước nhận nơi đây sự cảm tạ chân thành của tôi.” 

Pa-ga-ni-ni 

Ban đầu Béc-li-ô tưởng rằng mình đã đọc lầm. Nhưng không, chàng không lầm một tí nào : những con số còn nguyên đấy rõ ràng ở trên giấy trắng mực đen. 

Hai mươi ngàn quan ! Số tiền to lớn biết là chừng nào ! Chỉ trong thoáng chốc tất cả phương tiện để mà thanh toán nợ nần. Hai chục ngàn quan ! Béc-li-ô tưởng mình bị choáng váng, đôi tay của chàng run rẩy. 

Ha-ri-ê bước vào trong phòng đúng vào lúc ấy và thấy chồng cầm mảnh giấy trong tay với một vẻ mặt rối loạn, bèn hỏi : 

- Gì đấy ? Lại một tai nạn nào nữa hay sao ? Anh nhận tin gì mà khổ tâm vậy ? Hay là chủ nhà đuổi gấp ra khỏi nơi này ? 

- Không, không, không phải như vậy… 

- Không phải như vậy ? 

- Pa-ga-ni-ni… 

- Thế nào ? 

- Ông ấy gởi đến cho mình hai mươi ngàn quan. 

- Trời ơi ! 

Trong sự bối rối, bà Béc-li-ô chỉ biết kêu lên và sau khi đọc lá thư trên tay của chồng, bà quỳ hẳn xuống, chắp đôi tay lại trong khi nước mắt trào ra chan hoà. 

Chẳng mấy chốc khắp thành phố Ba-lê đều hay việc làm cao thượng của Pa-ga-ni-ni. Trong nhiều ngày liền các nghệ sĩ kéo ùa đến nhà Béc-li-ô. Mọi người đều muốn nhìn thấy bức thư để được thoả mãn. Trong các tiệm ăn, tiệm uống, phòng khách, đường phố người ta bàn tán về chuyện hai mươi ngàn quan. Những kẻ thù của Béc-li-ô càng tức giận hơn, cố gắng xuyên tạc việc ấy, rêu rao trên báo chí rằng bức thư và hai mươi ngàn quan chỉ là câu chuyện bịa đặt cốt để đề cao lẫn nhau giữa hai nhạc sĩ. Tuy vậy, một số báo khác hết lời ca ngợi Pa-ga-ni-ni, xem chàng có một cá tính cao thượng đặc biệt, khó lòng tìm thấy ở giữa thủ đô Ba-lê. 

Về phần Béc-li-ô thì chàng hết sức nôn nóng ra khỏi giường bịnh. Nhưng nếu những sự lo buồn từ trước đã làm cho chàng suy nhược thì niềm vui khá lớn lao này cũng không làm chàng khoẻ mạnh mau chóng hơn lên. Mãi sáu ngày sau, chàng mới gượng ngồi dậy được và đến cám ơn Pa-ga-ni-ni trong một quán ăn. Không kịp nói một lời nào, chàng ôm nhạc sĩ trong đôi cánh tay siết chặt của mình. Khi chàng ấp úng nói được đôi lời cảm tạ thì Pa-ga-ni-ni đã ngăn chàng lại vào bảo bằng một giọng nói gần như không có âm thanh : 

- Đừng nói về chuyện ấy nữa, bạn ạ. Ở đây không có ân huệ nào hết. Nếu bạn biết rằng trong bao năm rồi tôi chưa hề được nghe một âm nhạc nào tuyệt vời như là của bạn, thì bạn sẽ hiểu nỗi lòng của tôi với bạn thể nào. 

Đoạn người nhạc sĩ cố gắng nói tiếp rất là khó nhọc : 

- Từ đây, những kẻ âm mưu bôi nhọ tài năng của bạn sẽ không dễ gì kiếm cách để mà gây rối bạn nữa, vì chúng ít nhất cũng phải hiểu rằng trong chuyện âm nhạc tôi đã đứng về phía bạn, mà chúng phải biết coi chừng nếu làm đụng chạm đến tôi. 

Đầu năm sau đó, Pa-ga-ni-ni rời khỏi Ba-lê và không bao giờ chàng trở lại nữa. Bịnh tình của chàng càng ngày càng nặng đến nỗi chàng nằm liệt giường và luôn thấy những cơn mơ kỳ dị. Bao nhiêu kỷ niệm của ngày đã qua dần dần hiện về trong đầu óc chàng. Niềm vui, nỗi buồn xen lẫn chan hoà khiến tâm hồn chàng khắc khoải không yên. Nếu không có đứa con chàng bên cạnh thì những giây phút cuối cùng của cuộc đời chàng sẽ là sầu thảm vô cùng. Đến ngày 27 tháng 5, Pa-ga-ni-ni cố gắng ngồi dậy vào lúc giữa trưa để nhìn một trận mưa giông ngoài trời. A-si-li-nô muốn cản cha mình, và khuyên ông ta nằm nghỉ, nhưng Pa-ga-ni-ni từ chối, nhất định mở rèm cửa trông ra. Thình lình một giây lát sau, bóng tối bỗng nhiên bao phủ như trời sập xuống. Biển cả từ mấy tuần nay vẫn nằm yên lặng bỗng chồm hẳn dậy trong tiếng sôi động ồn ào, đồng thời chớp nhoáng sáng loà trên một bầu trời âm u. Pa-ga-ni-ni tưởng chừng như trong mạch máu của mình cũng sáng loé lên những tia chớp ấy. Chàng đứng vụt dậy nhưng ngã quỵ xuống trên giường và nằm thiếp trong tình trạng mê man. Một giây lát sau, A-si-li-nô nghe tiếng cha mình rên rỉ. Rồi những tiếng ấy tắt dần. Bao nhiêu cảm giác trần gian bây giờ tan biến mất rồi, Pa-ga-ni-ni có lẽ chỉ còn là một hơi nhạc bay vút lên cao để tan biến mãi trong cõi vô cùng bất tận. 



VŨ HẠNH 
Theo tài liệu của C. Waldémar
__________________________________________________________________
CÂY ĐÀN HUYỀN DIỆU

Trong Yêu Thương - HUỲNH CHÚC


  (Kính thương cho ba má của con)

Thuở sinh con bằng nhọc nhằn đau đớn
Mẹ mừng vui khi con khóc chào đời
Hơi sức mỏn mẹ vẫn thầm sung sướng
Môi mỉm cười dù trán đượm mồ hôi

Gió Thương Yêu - TRẦN NGỌC HƯỞNG


Đêm ngủ con nằm mơ gặp mẹ,
Mười năm từ lúc bước rời quê.
Mệt nhoài đất khách tìm cơm áo,
Quanh quẩn trong tâm một nẻo về.


Chao chát đâu dòng sông vỗ sóng,
Cơn triều ròng lớn mãi khôn nguôi.
Mẹ còn tóc bạc như mây trắng,
Cửa Tiểu buồn riêng một góc trời

 

Rợp bóng dừa xanh che trước ngõ,
Ánh chiều rụng nắng xuống bờ cau.
Hoàng hôn đổ bóng lên vai mẹ
Cho mảnh lưng còng trĩu nỗi đau


Mái lá một vuông hiu quạnh mãi,
Trông ra ruộng lúa mộ phần ba.
Cội mai lão cỗi còn hoa nở,
Mẹ vẫn thường ra đếm tuổi già.


Con mơ ngắm lại bên vườn cũ,
Tóc bạc mẹ bay dưới nắng chiều.
Đợi bước con về đầu ngõ vắng,
Thổi tràn lai láng gió thương yêu


                        TRẦN NGỌC HƯỞNG

Nguồn : http://mainhatho.blogspot.com

Lễ Vu Lan - THẢO ĐIỀU


Đã gần hai ngàn năm nay, dân Việt Nam ta đều biết đến lễ Vu Lan và hành lễ Vu Lan. Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày rằm tháng bảy âm lịch (15-7 âl), không ai bảo ai cả, mọi người đều tự nhiên tưởng nhớ đến Tổ Tiên, đến Cha Mẹ, đến những người đã khuất. Những kẻ ly hương, xa gia đình, xa cha mẹ lại cảm thấy lòng tưởng nhớ ấy tăng lên gấp bội phần. Các hành động thờ cúng Tổ Tiên, tưởng nhớ cha mẹ có lẽ đã biến thành một đạo : Đó là đạo Hiếu Nghĩa.

Ngày lễ Vu Lan đến, người ly hương cũng như kẻ vẫn còn an sống nơi quê Cha đất Tổ đều có lòng tưởng nhớ. Tháng bảy là tháng nhớ ơn, là mùa báo hiếu, là nguồn đạo hạnh…

Ngày lễ Vu Lan, rằm tháng bảy, là ngày báo hiếu, ngày Phật hoan hỷ, ngày Tăng tự tứ và cũng gọi là ngày xá tội vong nhân. Theo trong đạo Phật thì đến ngày này, tất cả những ai là đạo Phật đều quy tụ trước bàn Phật thật trang nghiêm, cầu an cho cha mẹ hiện tiền và cầu siêu cho thân bằng quyến thuộc đã thoát trần.

Sau đây là phần trình bày quan niệm chữ Hiếu trong đạo Phật và ý nghĩa thiết thực nhất của ngày lễ Vu Lan:

Trong kinh Phật có nói rằng:

“Hiếu vi vạn hạnh chi tiên”.

Nghĩa là trong muôn đức hạnh của con người thì hiếu đứng đầu. Và kinh Phật còn dạy rằng: “Ra đời không gặp Phật, theo thờ Cha Mẹ tức là thờ Phật”.

Sự thật, Cha Mẹ đối với con vô cùng cao cả, hy sinh tất cả đời sống của mình để nuôi con, và con là nguồn hạnh phúc của cha mẹ. Nhất là mẹ, một người suốt đời khổ sở vì con. Như : chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm chẳng rời.

Và chính vì thế mà người ta thường ví : “Đặt con vào dạ là mạ phải đi tu” quả không sai vậy. Biết bao nhiêu khổ cực trong lúc con còn trong bào thai, nâng niu, không làm việc nặng, không ăn loại thức ăn sợ ảnh hưởng đến bào thai. Cũng như lúc sinh ra, bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn những khi trở trời trái gió, con cái nhát chơi biếng ăn, thì mẹ lại lo rầu bối rối, ngồi đứng không yên, nghỉ cả ăn chơi làm lụng để săn sóc thuốc thang, chăm nom cho con mau lành bệnh. Mỗi một tiếng rên của con là một mũi tên nhọn đâm sâu vào tim cha mẹ, và ngược lại, một tiếng cười của con biến thành liều thuốc bổ của cha mẹ. Lúc còn nhỏ thì tập ăn tập nói, tập ngồi tập đi. Khi lớn khôn cho vào trường ăn học, bao nhiêu ước ao, kỳ vọng đều ký thác nơi con tất cả. Cho đến khi trưởng thành cũng vẫn còn lo. Nào là : Tạo nghề nghiệp, lập gia đình. Hơn thế nữa, mỗi khi người con đi làm ăn xa, thì cha mẹ ngày thường ngóng trông tin tức. Bởi thế, một ngày con lớn lên thì một ngày cha mẹ già yếu thêm. Già yếu với chuỗi ngày đầy lo, buồn, vui, sợ. Chỉ đến khi nào tắt thở thì mới không còn lo cho con nữa.

Việt Nam có câu:

“Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.”

Là một câu ca dao rất đầy ý vị, để cho tất cả mọi người đời đều biết công ơn cha mẹ trong lúc đang nhọc nhằn săn sóc con cái mình.

“Cha mẹ nuôi con như biển hồ lai láng,
Công ơn cha mẹ như biển rộng trời cao.”

“Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con.”

Lấy gì báo đáp cho vừa? Bởi vậy, đạo làm con phải lo đền đáp công ơn cha mẹ.

Việt Nam là dân tộc Hiếu Nghĩa làm đầu. Nên có câu:

“Điều thiện cùng tột không gì hơn Hiếu. Điều ác cùng tột không gì hơn Bất Hiếu”.

Vì vậy, đã làm người mà không biết đem lòng hiếu để đền đáp ơn sinh dưỡng thì không những mất cả nhân cách con người mà còn phản lại tinh thần dân tộc, là tinh thần hiếu nghĩa thảo thuận.

“Thờ Trời Đất Quỉ Thần không bằng có hiếu với cha mẹ, vì cha mẹ là vị thần minh cao hơn tất cả các vị thần minh”

Thật công đức hiếu hạnh không thể nghĩ tận cùng được.

Và muốn thành tựu tốt đẹp nhân cách của con người trên đời thì không thể không nghĩ đến “Báo hiếu”.

Câu chuyện xưa dẫn chứng sau đây sẽ nói lên lòng hiếu thuận là quý trọng hơn hết. Không những loài người mà loài vật cũng vậy.

*
*     *

CON VOI HIẾU NGHĨA

Ngày xưa, Vua xứ Ba-la-Nại, một hôm cùng đoàn tùy tùng vào rừng săn thú. Đang lúc đi lùng bắt, bỗng nhà vua bắt gặp một con voi trắng như tuyết, có sáu ngà, trông đẹp vô cùng. Vua truyền bắt sống, rồi đem về triều phú thác cho tên Quản Tượng trông coi. Từ khi bị bắt, con voi rất buồn rầu, ngày này sang ngày khác, không ăn, không uống, chỉ đầm đìa nước mắt. Tên Quản Tượng sợ voi chết nên vào tâu mọi sự cho vua hay. Vua liền tự mình đến chuồng hỏi rằng:

- Tại sao ngươi nhịn ăn, nhịn uống, khóc lóc cả ngày thế?

Voi lễ phép quỳ xuống tâu bằng tiếng người (thuở đó, loài vật cũng nói được tiếng người) rằng:

- Tâu Đại vương tôi còn cha mẹ già ở tại rừng xanh, sức lực yếu kém rồi không thể đi tìm thức ăn được, chỉ cậy có mình tôi nuôi dưỡng. Nay tôi bị bắt, cha mẹ tôi không ai nuôi dưỡng, chắc chết mất! Tôi sầu khổ vô cùng, thà chết còn hơn là sống mà không trọn phần hiếu đạo. Vậy, xin Đại vương mở lòng từ bi tha cho tôi trở về nuôi dưỡng mẹ cha đến ngày nào cha mẹ tôi qua đời rồi, tôi sẽ xin trở lại để hầu cận, đền đáp ơn Đại vương.

Nhà vua nghe nói bùi ngùi cảm động mà phán rằng:

- Ngươi là loài muôn thú mà biết thương yêu cha mẹ, lo tròn bổn phận làm con, thì ta đây sao nỡ hẹp lòng mà chẳng cho ngươi về.

Nói rồi, ngài truyền thả voi ra. Voi được thả, mừng rỡ đến trước mặt vua, từ tạ rồi chạy thẳng vào rừng cũ nơi cha mẹ ở.

Mười hai năm sau, một bữa vua đang ngủ tại triều, bỗng thấy con voi lúc trước chạy về, mình mẩy gầy ốm hơn xưa. Nó đến quỳ lạy nhà vua và tâu rằng:

- Tâu Đại vương, cha mẹ tôi bây giờ đã quá vãng cả, công cuộc phụng dưỡng cha mẹ tôi nay đã xong, tôi nhớ lời hứa cũ, xin nguyện từ đây hầu hạ Đại vương.

Vua mừng rỡ, khen voi có hiếu nghĩa và biết giữ lời hứa. Rồi sai người trông nom rất chu đáo con voi này cho đến khi già chết.

Ấy! Chúng ta thấy rằng : Loài vật mà còn biết hiếu nghĩa với cha mẹ huống chi là loài người.

Với tinh thần trên, Thiếu Nhi chúng ta cần xác nhận rằng : “Hiếu thuận báo ân, là một tinh thần căn bản”.

THẢO ĐIỀU
(Bảo Lộc) 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 102, ra ngày 10-8-1973)

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

Cây Đàn Nhỏ - NGUYỄN TƯỜNG VŨ


(Viết cho con bé TH thơ ngây)

Cô bé sung sướng mở cặp giở cây đàn nhỏ ra ngắm. Đó là quà Sinh Nhật của ba tặng cô bé đấy!... Vốn biết cô bé có dòng máu… nghệ sĩ, ưa đàn hát, nên đến ngày Sinh Nhật của cô bé ba liền mua tặng cô bé cái cây đàn này để làm kỷ niệm. Mà các bạn biết không? Cô bé đàn giỏi lắm cơ! Ai nghe cũng thích hết đó!... À, sở dĩ mà cô bé biết đánh đàn là nhờ kỳ Tết vừa rồi, cô Tiên – em của ba cô bé – ở Saigon về chơi và dạy cho cô bé, nên cô bé mới biết đấy chứ!...

Cô bé đưa tay đánh nhè nhẹ vào mấy dây đàn, nó vang lên những âm thanh dìu dịu nghe thật êm tai… Cô bé cao hứng đánh mạnh hơn và bắt đầu hát bài “Hè Về” mà cô giáo của cô bé mới dạy ngày hôm qua:

- Trời hồng hồng, sáng trong trong. Ngàn phượng rung nắng ngoài song. Cành mềm mềm, gió ru êm. Lọc màu mây bích ngọc qua màu duyên… Đàn nhịp nhàng, hát vang vang. Nhạc hòa thơ đón Hè sang… Hè về…”

Cô bé chưa hát dứt câu thì một giọng nói vang lên làm cô bé giật mình:

- Ối giời ơi! Hát với hỏng gì lớn quá “dzậy”? Hỏng để cho ai học hết!!...

Cô bé quay lại thì thấy cu Bi – em cô bé – đang ôm tập đứng nhìn. Cô bé la nó:

- Đi chỗ khác chơi đi, để cho người ta làm… “diệc”!

Cu Bi cãi lại:

- Chị làm việc cái gì? Hát hỏng không thì có!

Cô bé vênh mặt:

- Ừ, ta “hát hỏng” đấy. Có sao “hông”?!

Cu Bi trợn mắt nhìn cô bé:

- Sao lại không? Chị hát làm em học không được!

- Không được thì thôi, ráng chịu! Ra sau… chuồng gà mà ngồi học. Ở đó, chả ai thèm làm ồn. Còn ở đây là chỗ người ta… làm “văn nghệ”!!!

Cu Bi mặt đỏ gay. Hắn ta bắt đầu nổi cáu rồi đó. Cô bé run quá, muốn “giảng hòa” với hắn mà không biết làm sao. Hơn nữa, “danh giá” của cô bé không cho phép cô bé làm vậy. Xin lỗi hắn tức là… khiếp nhược, hèn nhát! Mà cô giáo của cô bé vẫn thường khuyên tụi bé rằng : “Các em phải tập lấy đức tự chủ và can đảm. Các em không nên hèn nhát, vì hèn nhát làm cho phẩm giá của con người mất đi, để làm cho giống nói đi đến chỗ suy vong…”

Nghĩ đến lời cô khuyên, cô bé liền lấy hết can đảm, đứng nghiến răng đợi chờ. Cô bé nhất quyết… giữ vũng “danh giá” để thực hành lời cô dạy đấy mà!...

Cu Bi “đằng hắng” một cái rồi bắt đầu lên tiếng, sau những giây phút im lặng sặc mùi… chiến tranh ngầm:

- Bây giờ, yêu cầu chị hãy để yên lặng cho cu Bi học bài. Bằng không! (cu Bi gằn giọng)… “đây” sẽ dùng “biện pháp mạnh”!!

Cô bé biết cái “biện pháp mạnh” của hắn ta rồi. Dùng cái “biện pháp mạnh” này thì thế nào cũng phải có màn… “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”. Cô bé đâu có sợ, “nữ nhi chi chí” mà lị! Cứ để cho hắn dùng xem sao…

Nghĩ vậy, cô bé liền lên giọng khiêu khích:

- Dùng thì dùng, ai ngán mi!?

- A, ngoan cố nhỉ?

- Chứ “siêu”!

Cô bé chưa nói dứt chữ “siêu” thì “chát” một tiếng, cô bé lãnh ngay một cái đánh đau điếng của cu Bi vào người.

Thế là… chiến tranh tay chân bùng nổ!!!

Cô bé nổi giận xông vào… véo cu Bi một cái thật đau. Cái véo của cô bé làm cu Bi nhăn mặt. Hắn nổi nóng liền “phản công” cô bé tới tấp. Rồi cả hai ôm nhau giằng co. Sau một hồi, thì cô bé vì yếu thế hơn nên bị cu Bi xô ngã xuống đất đập đầu vào tường đau điếng người… Nhưng như thế cô bé vẫn chưa đau đớn bằng khi thấy cây đàn nhỏ của cô bé bị rớt xuống đất và bị cu Bi dẫm lên làm đứt hết mấy sợi dây đàn. Cô bé ức quá, bèn… ca bản “mít ướt” lên rầm nhà. Khi ấy, mẹ đi ra bắt gặp bèn gạn hỏi nguyên do. Nghe cô bé kể lại mẹ bèn phát vào mông cu Bi ba cái thật đau và bắt hắn quì gối giữa nhà. Xong, mẹ cầm cây đàn nhỏ của cô bé đem cất lên nóc tủ bảo đợi ba về nhờ ba đem đi thay dây…

Cu Bi bây giờ trông mới thật là thảm hại! Hắn quì ủ rũ giữa nhà, xem chừng hắn có vẻ hối hận ghê lắm về chuyện vừa qua. Hình như hắn muốn xin lỗi cô bé, nhưng ngượng ngập ấp úng mãi không ra lời, cô bé biết vậy bèn ngỏ lời an ủi hắn và hứa lát nữa ba về sẽ xin ba nói với mẹ tha cho hắn. Nghe vậy, cu Bi mừng rơn nắm chặt tay cô bé cám ơn rối rít làm cô bé… cảm động quá xá!!

Chiều hôm đó, ba đem về cho cô bé cây đàn đã được thay lớp dây mới. Cô bé vui mừng đem vào nhà khoe mẹ và rủ cu Bi ra vườn chơi. Cô bé và cu Bi lựa một chỗ có bóng mát ngồi xuống và giở đàn ra để đàn. Cô bé và cu Bi cùng hát bài “Hè Về” một cách vui vẻ:

- Trời hồng hồng, sáng trong trong. Ngàn phượng rung nắng ngoài song. Cành mềm mềm, gió ru êm. Lọc màu mây bích ngọc qua màu duyên… Đàn nhịp nhàng, hát vang vang. Nhạc hòa thơ đón Hè sang. Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ. Hè về trong tiếng sáo diều dật dờ. Hè về gieo ánh tơ…!

… Cô bé có cảm nghĩ như ông Thần Hồn Nhiên của Tuổi Thơ đang đứng mỉm cười đâu đây, mừng cho sự hòa thuận của chị em cô bé…

NG. TƯỜNG VŨ
(28-5-1974) 

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 225, ra ngày 1-8-1974)