Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

Những cái cũ và xưa nhất Saigon - NHỮNG NGƯỜI BẠN

Ngôi trường cổ nhất
Trường Lê Quý Đôn được xây dựng vào năm 1874, hoàn tất năm 1877 do người Pháp quản lý. Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ), rồi đổi thành Collège Chasseluop Laubat. Năm 1954, trường mang tên Jean Jacques Rousseau. Năm 1967, trường được trả cho người Việt quản lý mang tên Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ năm 1975 đến nay đổi tên là trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn. Hơn một thế kỷ qua trường vẫn giữ được kiến trúc ban đầu.

Nhà máy điện xưa nhất

Nhà máy điện Chợ Quán xây dựng năm 1896, máy phát điện chạy bằng hơi nước có 5 lò hơi với 150m2, cung cấp dòng điện 3 pha, công suất chưa tới 120MW. Máy phát điện chính công suất 1000A/h. Hiện nay, nhà máy đã được trang bị hiện đại với 7 máy phát điện, hòa với lưới điện quốc gia cung ứng phần quan trọng cho lưới điện thành phố. Nhà máy toạ lạc tại số 8 Bến Hàm Tử, quận 5.

Bệnh viện cổ nhất
 
Bệnh viện Chợ Quán xây dựng năm 1826 do một số nhà hảo tâm đóng góp, sau đó hiến cho nhà nước. Năm 1954-1957 giao cho Quân đội gọi là Viện bài lao Ngô Quyền. Năm 1974, đổi thành Trung tâm Y tế Hàn Việt có 522 giường. Tháng 9/1975, mang tên Bệnh viện Chợ Quán. Đến ngày 5/9/1989 chuyển thành Trung tâm Bệnh Nhiệt đới. Hiện nay có 610 Cán bộ-Công nhân viên và 550 giường bệnh.

Nhà hát cổ nhất
Nhà hát thành phố do kiến trúc sư người Pháp xây dựng hoàn tất vào ngày 17/1/1900. Các phù điêu bên trong được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ XIX. Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem. Năm 1956, Nhà hát được dùng làm trụ sở Hạ nghị viện chế độ cũ; tháng 5/1975 trở thành Nhà hát thành phố với 750 chỗ ngồi. Kỷ niệm 300 năm Sài Gòn toàn bộ phần kiến trúc bên ngoài Nhà hát được phục chế lại như nguyên mẫu ban đầu.

Khách sạn cổ nhất
Khách sạn Continental tọa lạc tại 132-134 Đồng Khởi, xây dựng năm 1880 do Kiến trúc sư người Pháp thiết kế, tên khách sạn có ngay từ những ngày đầu. Sau ngày cướp được miền Nam bị tụi Bắc Việt đổi thành Hải Âu. Đến năm 1989, khách sạn được nâng cấp, chỉnh trang và lấy lại tên cũ Continental có diện tích 3430m2, cao 3 tầng, nơi đây đã từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng. Ngày nay, khách sạn Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế

Nhà thờ cổ nhất

Nhà thờ Chợ Quán tọa lạc tại số 20 Trần Bình Trọng, P.2, Q.5 xây dựng từ năm 1674 là nhà thờ cổ nhất tại Sài Gòn và cổ nhất ở miền Nam. Ngôi thánh đường nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc kiểu phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1000 người. Ngoài việc sinh hoạt tôn giáo, Họ đạo Chợ Quán tích cực tham gia công tác xã hội giúp đỡ người nghèo. Trải qua hơn 3 thế kỷ Nhà thờ Chợ Quán đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, nơi đây có phòng khám và phát thuốc từ thiện dưới quyền quản lý của Hội Chữ thập đỏ Quận 5.

Ngôi đình cổ nhất
 
Một trong những ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và xưa nhất Nam Bộ là đình Thông Tây Hội, xây dựng vào khoảng năm 1679, là chứng tích còn nguyên vẹn nhất của thời kỳ dân Ngũ Quảng kéo vào khai khẩn vùng Gò đất có nhiều cây Vắp (từ đó trở thành tên địa phương là Gò Vấp). Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông–thôn khởi nguyên của Gò Vấp–sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và thôn An Hội). Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương. Ngôi đình còn giữ được khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu, với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ. Đình Thông Tây Hội thuộc P.11, Gò Vấp.

Nhà văn hóa cổ nhất

Cung Văn hóa Lao Động. Năm 1866, với tên gọi Cèrcle Spertif Saigonnais được xây dựng làm sân thể thao của quan chức người Pháp với những hồ bơi, sân quần vợt, phòng đấu kiếm và phòng nhảy đầm. Thời Mỹ chiếm đóng, sân chơi được mở rộng hơn phục vụ cho cả giới quý tộc. Tháng 11/1975, Ủy ban Quân quản Sài Gòn–Gia Định trao toàn bộ cơ ngơi này cho Liên đoàn Lao động Thành phố để cải tạo xây dựng thành nơi tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao và vui chơi giải trí cho công nhân lao động, lấy tên là Câu lạc bộ Lao Động, sau đổi thành Nhà văn hóa Lao Động, và rồi là Cung Văn hóa Lao Động. Diện tích 2,8ha, với 132 năm hình thành và phát triển, Cung Văn hóa Lao Động là Nhà văn hóa cổ và lớn nhất của Sài Gòn .

Công viên lâu đời nhất 

Thảo Cầm Viên do người Pháp xây dựng năm 1864, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp Louis Pierre làm giám đốc đầu tiên. Mục đích xây dựng Thảo Cầm Viên để ươm cây giống trồng dọc các đại lộ Sài Gòn, đồng thời là nơi nuôi trồng những động thực vật vùng nhiệt đới mà các Thảo Cầm Viên của Pháp chưa có. Năm 1865, chính phủ Nhật đã hỗ trợ khoảng 900 giống cây quý như: Chizgnamat, Goyamtz, Acamatz, Coramatz, Kayanoki, Kayamaki, Enoki, Maiki, Asoumaro, Sengni, Momi, Cashi, Kiaki, Inoki… Động vật của Thảo Cầm Viên khá phong phú như: gà lôi, sếu, cu gáy, hồng hoàng, công, hưu, nai, cọp, khỉ, chồn hương, tắc kè, rùa, cọp xám, đóm đen, gà lôi xanh, chim cú lợn… Đến năm 1989, Thảo Cầm Viên được cải tạo, mở rộng và nhập thêm nhiều giống thú mới, trồng thêm cây quý. Hiện nay, có 600 đầu thú thuộc 120 loài, 1823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại cây kiểng quý trên diện tích 21.352m2. Năm 1990, Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á. Thảo Cầm Viên đã tròn 134 tuổi, số lượng động thực vật ngày càng tăng, nơi đây đã gắn bó với từng bước đi lên của thành phố và là một trong những công viên khoa học lớn nhất Đông Dương.

Ngôi nhà xưa nhất

Ngôi nhà có tuổi thọ lâu đời nhất còn hiện diện tại Sài Gòn nằm trong khuôn viên Toà Tổng Giám Mục Sài Gòn -180 Nguyễn Đình Chiểu, P.6, Q.3. Năm 1790, Vua Gia Long cho cất ngôi nhà này ở gần Rạch Thị Nghè làm nơi ở cho Linh Mục Bá Đa Lộc và làm nơi dạy học cho Hoàng tử Cảnh. Ngôi nhà được xây dựng bên bờ sông Thị Nghè trong địa phận Thảo Cầm Viên bây giờ. Năm 1799, Bá Đa Lộc chết, ngôi nhà được giao cho linh mục khác. Từ năm 1811 đến năm 1864 ngôi nhà bị đóng cửa vì chính sách cấm đạo của triều đình Huế. Sau khi vua Tự Đức ký hòa ước với Pháp, ngôi nhà được trao lại cho Tòa Giám Mục và được di chuyển về vị trí đường Alexandre de Rhodes hiện nay. Sau đó năm 1900 Tòa Giám Mục được xây cất tại 180 đường Richaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) thì ngôi nhà gỗ lại được dời về đây làm nhà thờ của Tòa Giám Mục. Ngôi nhà 3 gian 2 chái, lợp ngói âm dương, sườn, cột bằng gỗ, khung cửa và các khung thờ đều được chạm trỗ công phu hình hoa, lá, chim thú, hoa văn. Trong các di vật còn lại của ngôi nhà có một di vật có giá trị lịch sử lớn, đó là đôi liễn gỗ có tám chữ triện khảm xà cừ là tám chữ vua Gia Long ban tặng giám mục Đá Ba Lộc, một bên là “Tứ Kỳ Thịnh Hy”, một bên là “Thần Chi Cách Tư”. Ngôi nhà được tu sửa vào năm 1980, cách tu sửa có tính chất vá víu, cốt giữ lại những gì có thể giữ được. Trải qua hai thế kỷ ngôi nhà không giữ được nguyên trạng nhưng đây là một di tích kiến trúc mang dấu ấn lịch sử, tôn giáo và văn hóa nghệ thuật. Đây là một tài sản có giá trị mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta, không chỉ là truyền thống- bản sắc dân tộc mà còn là bộ mặt quá khứ mang tính văn hóa kiến trúc, một khía cạnh văn minh tại một vùng đất mới mọc lên từ đầm lầy, kênh rạch.

Ngôi chùa cổ nhất
Ngôi chùa có cảnh trí đẹp nhưng nằm ở địa điểm không tiện đi lại nên được ít người biết đến là chùa Huê Nghiêm, tọa lạc ở 20/8 Đặng Văn Bi, Thủ Đức. Chùa được thành lập năm 1721 do Tổ Thiệt Thùy (Tánh Tường) khai sáng. Tên chùa lấy từ tên bộ kinh Hoa Nghiêm. Đây là chùa cổ xưa nhất trong các chùa ở TP. HCM nên còn gọi là Huê Nghiêm Cổ Tự. Những ngày đầu là một ngôi chùa nhỏ được xây cất trên vùng đất thấp cách địa thế chùa hiện nay khoảng 100m. Sau đó, Phật tử Nguyễn Thị Hiên pháp danh Liễu Đạo hiến đất để xây lại ngôi chùa rộng rãi khang trang như hiện nay. Qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1960, 1969, 1990 mặt tiền chùa ngày nay mang dáng vẻ kiến trúc của chùa hiện đại nhưng các gian phía trong vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ truyền, mái gian mặt tiền được cấu trúc gồm 3 lớp, nhỏ dần về phía trên. Các đường gờ mái chạy dài xuống cuối đầu đăng đều trang trí bằng hoa văn hình cánh sen đối xứng, giữa là hình bánh xe luân pháp, đặt trên hoa sen. Mái lợp ngói ống màu đỏ, đường viền mái ngói màu xanh. Vườn chùa có nhiều cây xanh bóng mát, có 9 ngôi tháp cổ với nhiều kiểu dáng khác nhau như những cánh sen vươn lên. Những hàng cột gỗ trong chùa được khắc nổi các câu đối bằng chữ Hán màu đen kết hợp với việc chạm khắc mô típ “long ẩn vân” dùng trang trí. Chùa Huê Nghiêm là một di tích Phật giáo quan trọng, là nơi dừng chân, sống đạo và hành đạo của nhiều vị danh tăng uyên thâm Phật pháp, có đạo hạnh và có đạo đức. Chùa cũng là bằng chứng về trình độ kiến trúc và phong tục tập quán của người Việt trên vùng đất mới khai phá, mở ra nền văn minh trên vùng đất hoang sơ.

Đường sắt đầu tiên ở thành phố
Tuyến đường sắt đầu tiên ở nước ta là đoạn đừơng sắt Sài Gòn–Mỹ Tho dài 71km, xây dựng năm 1881. Ga chính trước chợ Bến Thành, văn phòng đường sắt là tòa nhà 2 tầng chiếm cả khu đất bao bọc bởi 3 đường Hàm Nghi–Huỳnh Thúc Kháng–Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay là Xí nghiệp Liên hợp đướng sắt khu vực 3. Xe lửa chạy bằng máy hơi nước phải dùng than củi đốt nồi súp-de nên xe chạy khá chậm. Vì không cạnh tranh nổi với xe đò trong việc chuyên chở hàng hóa và hành khách, đường xe lửa Sài Gòn–Mỹ Tho ngưng hoạt động từ lâu. Sau năm 1975, Ga xe lửa Sài Gòn được dời về Ga Hoà Hưng. Trên nền Ga Sài Gòn cũ ngày 8/8/1998, khởi công xây dựng Trung Tâm Văn Hoá Thương Mại Sài Gòn.

Người Việt đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp
Ông Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Năm 1859, Pháo hạm Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng và thành cũ Gia Định, triều đình nhà Nguyễn bắt buộc chấp nhận mở cửa đất nước cho tư bản thực dân Pháp xâm nhập. Trong giai đoạn lịch sử mới, người Việt Nam từng bước tiếp xúc với ngôn ngữ và văn minh mới. Trương Vĩnh Ký là một trong những người sớm tiếp xúc và hấp thụ ngôn ngữ văn hoá phương Tây đã trở thành học giả có nhiều sáng tác nhất bằng cả tiếng Pháp và tiếng Hán–Việt. Ông là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp. Cuốn “Giáo trình lịch sử An Nam” đã được xuất bản gồm hai tập dày 462 trang. Đây thực sự là một công trình bác học biên soạn công phu dưới ánh sáng của một phương pháp luận khoa học tiến bộ so với đương thời.

Tờ báo bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên

Tờ “Gia Định Báo” là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở nước ta ra đời tháng 4/1865. Tờ báo đăng những thông tin nghị định của nhà nước và những tin kinh tế xã hội, lời bàn về thời cuộc, luân lý, lịch sử. Báo ra hằng tháng. Sau 4 năm phát hành, chính quyền thuộc địa cho phép báo phát hành hàng tuần bằng quyết định số 51 ngày 18/3/1869.

Tờ báo đầu tiên của Phụ nữ Việt Nam

Ngày 1/2/1918 tờ báo chuyên về Phụ nữ đầu tiên ra đời là tờ “Nữ Giới Chung” nhằm nâng cao trí thức, khuyến khích công nông thương, đề cao người Phụ nữ trong xã hội, chú trọng đến việc dạy đức hạnh, nữ công, phê phán những ràng buộc đối với Phụ nữ, đánh đổ mê tính dị đoan, động viên Phụ nữ quan tâm đến việc “Nữ quyền”. Muốn có vị trí ngang hàng với nam giới ngoài việc tề gia nôi trợ phải am hiểu “tình trong thế ngoài”. Chủ bút tờ báo là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, vốn có lòng yêu nước, yêu thương đồng bào như thân phụ nên khi làm báo Bà có ý muốn làm diễn đàn để tỉnh thức lòng yêu nước trong dân chúng. Tuy chỉ tồn tại được hơn 6 tháng nhưng “Nữ Giới Chung” cũng đã gióng lên một hồi chuông nữ quyền còn vang mãi đến ngày nay.

Cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên
“Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” là cuốn từ điển tiếng Việt quốc ngữ Latinh của Huỳnh Tịnh Của gồm hai tập: Tập I xuất bản năm 1895, tập II xuất bản 1896 tại Sài Gòn. Bộ từ điển chứa nhiều từ ngữ xưa, thành ngữ, tục ngữ, từ ngữ về thảo mộc, cầm thú của Việt Nam và của miền Nam. Bộ từ điển này trở thành Từ điển Bách khoa toàn thư đầu tiên về Nam Bộ.

Người kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên

Ông Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, ông giỏi chữ Nho, thông hiểu Ngũ Kinh Tứ Thư, học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp với các giáo sĩ. Ông được giám mục Gauthier đưa sang Paris năm 1858. Ông am hiểu chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật. Năm 1861 ông trở về nước, tàu ghé Sài Gòn thì nơi đây đã đổi chủ, ông buộc phải làm phiên dịch cho người Pháp. Trong lúc ở Sài Gòn, ông đã đứng ra xây cất tu viện dòng thánh Phao lô (số 4 Tôn Đức Thắng). Đây là công trình xây dựng theo kiến trúc Châu Âu do người Việt Nam thực hiện tại Sài Gòn. Công trình được xây dựng từ tháng 9/1862 đến 18/7/1864 hoàn thành gồm nhà nguyện với ngọn tháp nổi bật trên cao xây theo kiểu Gôtic, một tu viện, một nhà nuôi trẻ mồ côi và một tháp chuông. Công trình xây dựng này là kết quả nghiên cứu kiến trúc châu Âu của Nguyễn Trường Tộ khi ông ở Hồng Kông. Qua nhiều lần sửa chữa trùng tu, ngày nay tu viện thánh Phao Lô vẫn giữ được đường nét kiến trúc xưa, chứng tỏ tài năng kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ không thua gì các kiến trúc sư người Pháp.

Người Việt Nam đầu tiên vẽ bản đồ địa lý và đồ họa Sài Gòn theo phương pháp phương Tây
Ông Trần Văn Học, sinh quán ở Bình Dương, giỏi Quốc ngữ, Latinh và tiếng Tây Dương, được giới thiệu làm thông ngôn cho Nguyễn Ánh. Ông phụ trách việc dịch sách kỹ thuật phương Tây, đồng thời kiêm việc chế tạo hỏa xa, địa lôi và các loại binh khí. Năm 1790, Nguyễn Ánh xây thành Bát Quái. Trần Văn Học phụ trách “phác họa đường xá và phân khu phố phường”. Ông rất có tài vẽ địa đồ, họa đồ và kỹ thuật bản đồ như: tỉ lệ, trắc địa, và vẽ gần như chính xác các thành trì và công trình. Ông được coi người đầu tiên vẽ bản đồ Sài Gòn - Gia Định theo phương pháp phương Tây.

nguồn: http://nhungnguoibanspsg.blogspot.com/

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

FIFA World Cup 2014 Mascot

Kể từ năm 1966 Football World Cup tại Anh, mỗi World Cup đã có linh vật của riêng mình. Các linh vật được thiết kế theo một cách mà họ đại diện cho bất kỳ tính năng đặc biệt của nước chủ nhà (có thể bao gồm trang phục, thực vật, động vật, vv.) Linh vật đã ký hiệu phổ biến của mỗi World Cup và những người đã yêu thương họ và hàng triệu người đã mua bản sao của chúng.
Linh vật WC 2014 FIFA World Cup 2014 Mascot
Tất cả Mascots 1966-2010 World Cup

FIFA World Cup 2014 Mascot - Fuleco

FIFA đã công bố rằng các linh vật cho World Cup 2014 sẽ được đặt tên Fuleco . Tên Fuleco được xác định bằng một cuộc thăm dò trực tuyến trong đó gần 1,7 triệu người từ Brazil đã tham gia trong khoảng thời gian ba tháng, với 48% số phiếu bầu sẽ Fuleco. Các tên khác trong cuộc thi là "Zuzeco 'và' Amijubi 'đã nhận được 31% và 21% phiếu bầu.

linh vật World Cup 2014 Mascot
Fuleco - Mascot của FIFA World Cup 2014
Fuleco là một armadillo phim hoạt hình, mô hình trên armadillo ba dải. Armadillo, mà đang có nguy cơ tuyệt chủng, cuộn thành hình dạng của một quả bóng khi bị đe dọa. Linh vật mang màu sắc của lá cờ Brazil - armadillo là màu vàng, với quần short màu xanh lá cây và một vỏ màu xanh và đuôi. Nó được mặc một áo sơ mi trắng với dòng chữ "Brazil 2014" được viết trên đó.
110.427 armadillo hmed 314p.grid 6x2 FIFA World Cup 2014 Mascot
Một Armadillo
Fuleco đến từ các từ tiếng Bồ Đào Nha "futebol" (bóng đá) và "ecologia" (sinh thái), và nó đại diện cho cách thức mà FIFA World Cup có thể kết hợp cả hai để khuyến khích mọi người hành xử một cách thân thiện với môi trường.
World Cup Willie , linh vật cho cuộc thi năm 1966, là linh vật World Cup đầu tiên, và một trong những linh vật đầu tiên được kết hợp với một cuộc thi thể thao lớn. World Cup cuối cùng tại Nam Phi đã  Zakumi  là linh vật của nó, mà đại diện cho một báo thường được tìm thấy ở Nam Phi.

Đỉnh "Tình-Thương" - TỈ TỈ

Từ hôm những giọt mưa sắc như kim buồn bã giã từ, từ hôm những cơn gió vần vũ như giận dữ bay về miền bắc xa, mặt trời mới bắt đầu nhú lên ở phía đông, như nụ hoa nhú lên từ đám cỏ non, chói sáng trên mặt biển xanh biêng biếc. Khung trời hết những đám mây đen, dầy, sa thấp như muốn vuốt ve bờ cát sẫm, ướt nước.

Chiếc thuyền bé nhỏ bị bỏ quên từ mùa đông trước, bị vùi chôn xuống bờ cát lặng câm, bây giờ sắp được trở lại nhịp sống lênh đênh.

Sáng hôm nay, đưa tay mở cánh liếp tre trông về biển, người bố đã phải che mắt một lúc. Ánh mặt trời chói chang rực rỡ trên nền biển xanh làm bác choáng váng. Một nỗi vui nhẹ theo chân bác đi dần ra mé biển. Cát vẫn còn ẩm, nhưng mầu đã sáng hơn. Chỉ độ vài giờ nữa thôi, bờ cát sẽ sáng trắng và nóng bỏng cho mà xem. Bác yêu biển, yêu cát nhưng chúng nó không giống bác ở chỗ dễ hòa đồng với không khí chung quanh quá. Những chiều mùa đông bước trên nền cát, nghe da thịt bị mưa quất, bác thấy chân buốt lạnh, những trưa màu hạ, bác tưởng cát muốn làm bỏng chân bác. Sự chóng thay đổi của bờ cát khiến bác không bằng lòng lắm. Bác vẫn thường yêu sự dịu dàng, dù rằng cuộc sống của bác, của những gì liên quan đến bác, chả có thứ nào mang vẻ êm nhẹ như bác hằng mong. Biển thì hay thay đổi bất thần, trời cũng không hơn gì. Bên trong cái vẻ bình lặng của không khí đọng, phía dưới bề mặt phẳng lì của dại dương, vẫn ẩn giấu một cái gì rất sống động, rất ghê gớm.

Người bố ngồi xuống bờ cát duỗi chân đến tận những bọt sóng lao xao, thích thú vốc từng nắm cát đắp lên chân mình. Cát buổi sáng đã trở nóng, khô hơn nên trắng hơn. Bác nhìn ra xa, thấp thoáng những cánh buồm trắng trôi xa dần về phía chân trời. Bác thấy không còn gì êm ả hơn được ngồi trên cát, du chân xuống nước, nhìn biển lặng và thầm đếm những con tàu, những cánh buồm xa. Trời xanh, nắng ấm, thật dễ thương.

Đứa bé vừa dụi mắt, vừa đi về phía người bố. Đến cạnh bác, nó đưa tay bá lấy cổ nũng nịu:

- Sao bố không thức con dậy sớm? Để con xem ông mặt trời ngủ dậy ra làm sao. Nắng ấm quá bố ha.

Người bố mỉm cười, kéo tay con ngồi gần bên. Những tháng mùa đông đủ để lột lớp da đen của đứa con bám lên từ mùa hè trước. Con bác bây giờ trắng hơn, đôi mắt sáng long lanh mầu biển nắng, má nó hồng một cách đáng yêu. Bác thấy con gầy hơn, xinh hơn, nhưng trong tận cùng tâm hồn, bác vẫn mong con mình rắn chắc và có một làn da nâu hồng, mầu đích thực của nắng biển, của gió biển, cát biển, mầu mặn mà thể hiện trọn vẹn tình yêu biển của bác, người thủy thủ già đã đưa tay lên cao đầu hàng thời gian, đầu hàng thiên nhiên muôn đời sống mạnh. Bác nhìn con thương yêu tràn ngập. Đứa con vẫn nhìn về trời xa, nơi những cánh buồm đang lênh đênh như tự ru ngủ.

- Hôm nào bố mới định đi chài như mấy người kia hả bố?

Người con vừa hỏi, vừa đưa tay chỉ về phía xa, nơi mấy người đàn ông đang gắng sức đẩy thuyền xuống bờ nước. Người con hỏi, và người bố không trả lời. Bác nhìn xuống đôi tay gầy khô và thở dài rất nhẹ. Suốt một mùa đông nằm trong nhà thương thí, nhìn những khuôn mặt khổ đau, nghe gió mưa than thở, ngậm nỗi đau đớn của từng mũi kim đưa chất sống vào thân thể héo úa, bác chỉ ao ước mỗi một điều thôi: nhìn lại quê hương biển xanh. Ao ước ấy, người bố đã toại rồi. Bác đã trốn về đây, chờ một ngày mặt trời trở dậy.


Bây giờ bác đã được ngồi trên cát ấm, sưởi nắng đầu mùa, mắt đón mầu sắc rực rỡ, tóc đón gió thơm nồng, và tai hưởng hết mọi âm thanh của sóng, của gió, của ngàn dương. Thế thì còn gì mà ao ước nữa? Lòng bác đáng lẽ phải hân hoan, phải bằng lòng, thế mà bác vẫn buồn. Nỗi buồn nhẹ mà thực dai dẳng. Nó cuốn bác đi ngược lại giòng thời gian, buộc bác ngừng trí tưởng tượng ở mỗi giai đoạn đáng nhớ: nào những ngày lênh đênh trên sóng yên biển lặng, nào những đêm trăng bàng bạc hòa ánh nước lung linh, nào những sáng reo hò khi chuyến tàu cập bến sau những chuyến hải hành dài đằng đẵng. Tất cả đã xa, đã qua…

Người bố đứng lên và kéo người con đứng theo. Hai bố con lững thững trở về lều. Chiếc thuyền của bác được chôn kỹ dưới lớp cát phía sau nhà. Bác sẽ nhờ mấy người hàng xóm sang giúp một tay đem chiếc thuyền ra bờ biển. Sức bác bây giờ chỉ có thể mang nổi lá buồm tam giác trắng, một ít gỗ lót thuyền.

Hai bố con đào cát lên. Chiếc thuyền còn nguyên, chỉ có vẻ cũ kỹ hơn. Người bố vuốt khẽ lên bụng thuyền, nhẹ như vuốt tóc con. Tâm hồn bác xao động nhẹ như giọt nước mắt rưng rưng. Vẻ mặt người con sống động rõ rệt. Nét nôn nao hiện trên đôi mắt, lên nụ cười. Lòng yêu biển của bác, dù biển lặng hay biển động, có lẽ đã ảnh hưởng đến người con. Bác phủi lớp cát bám lên đôi tay, rồi bảo con đứng lên. Thằng nhỏ luyến tiếc ra mặt. Hai cha con trở vào nhà. Nắng đã gay gắt, mặt trời nung lửa xuống bờ cát trắng. Hơi nóng bốc lên từ dải lụa ngà ấy làm biến dạng tất cả những hình thể nào được nhìn qua làn hơi ấy.

*

Buổi chiều khi đoàn đánh cá đã trở về, bác khẩn khoản nhờ họ giúp bác đem chiếc thuyền ra tận bờ biển. Khi đáy thuyền bắt đầu chạm nước, người bố cảm động đến nghẹn ngào. Cảm ơn những người tốt bụng kia xong, bác bắt đầu dựng buồm. Cánh buồm trắng vươn mình lên bầu trời chiều tím. Bác đứng nhìn con thuyền, nhìn khung trời xa rộng, thấy mình cô đơn, lẻ loi không cùng. Bác biết bác sẽ không sống được lâu. Nhưng nếu chết, bác không muốn chết trên căn giường nhà thương, trong cơn bệnh vật vã giữa những người khốn cùng. Đã là một thủy thủ, bác phải tan vào lòng biển, thân thể bác phải ngấm làn muối mặn, phải được chôn vào bụng những con vật kỳ dị của đại dương. Bác muốn chìm xuống, chìm xuống làn biển xanh kia, ngay tức khắc.

Đứa con vẫn đứng bên cạnh, chờ đợi. Đôi mắt trẻ thơ xao xuyến nhìn tia nắng rớt khuất dần về phía đồi xa, len lỏi qua khóm dương rung động. Nó muốn giục bác bước lên thuyền kẻo chiều mất, nhưng nó không dám, đúng hơn nó không muốn phá tan cơn mơ mộng của người bố già nua.

Khi hai bố con tự cảm thấy mình tách rời khỏi nếp sống lao xao của lục địa, họ bắt đầu cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Chung quanh họ chỉ có nước biển đen thăm thẳm, trời cao, xám, và vì sao hôm le lói đàng xa. Nỗi cô đơn thật êm đềm. Người con nằm gối đầu lên chân bố, nhìn trời cao. Nó vẫn thường thắc mắc tự hỏi, bố nó yêu gì ở biển. Nếu quả thật biển chỉ có trời nước như thế thì lòng yêu biển của ông quả là kỳ dị. Nó ngước mắt nhìn lên người bố:

- Biển chỉ có thế này thôi sao bố?

Người bố cảm thấy lâng lâng sung sướng, không muốn giải thích nhiều. Bác chỉ muốn ngậm nghe cái yên lặng êm đềm của trời cao biển rộng. Bác lơ đãng ừ với con, mắt không nhìn thấy vẻ thất vọng của đứa nhỏ. Suốt giờ không nhìn thấy gì khác hơn là mặt biển lặng, trời mênh mông, và những đóa hoa trời lấp lánh sáng trên cao, đứa bé muốn ngủ. Bác cúi xuống, hỏi con:

- Con không yêu biển sao? Đây chỉ mới là một trong muôn ngàn bộ mặt của nó, rồi con sẽ thấy nó có nhiều vẻ quyến rũ con ghê lắm. Con không cảm thấy tâm hồn êm ả khi nhìn mặt biển câm lời sao? Biển sẽ cho con sống thực sự, sống từ nỗi bình thản, đến lo sợ không cùng. Con sẽ gan dạ mà chiến đấu với nó, cũng như sẽ có lúc con chán chường cực độ. Những hôm biển lặng, những buổi sóng dồi, những cơn bão tố sẽ giúp con nhìn rõ chính con hơn, giúp con cải thiện con hơn, con không tin sao?

Người bố nhìn đôi mi cong khép hờ của con. Thằng bé không trả lời. Nó ngẫm nghĩ một lát, nhớ đến những khuôn mặt quen thân, nhớ không khí vui nhộn của phố phường. Hai khung trời, hai thái cực. Tuổi của nó là phải hoạt động, nó không thích vẻ bình lặng này. Nó thích nhảy chân sáo trên con đường phố, thấy chân mình đi những bước vững chắc mà thuyền thì bồng bềnh. Nó muốn nghe tiếng của muôn ngàn người xôn xao chung quanh, dù tiếng chửi bới đi nữa, mà ở đây thì yên lặng quá. Nó muốn ngắm những cửa hàng đủ màu sắc lộng lẫy, muốn đứng hàng giờ để so sánh vật này vật kia bầy trong các tủ kính, ở đây chỉ có trời xanh, biển xanh, dương xanh, và cát trắng. Những màu sắc nhẹ nhàng đó chỉ quyến rũ được nó trong phút chốc. Nó mệt mỏi vì tình yêu biển của người bố. Nhưng, là một người con ngoan, nó chỉ nói nhỏ:


- Lớn lên, con sẽ làm thủy thủ như bố, bố nhé.

Người bố cười yên lặng, lồng tay vào mái tóc mềm của con. Tay bác chạm những hạt cát bé bỏng nằm yên ngủ dưới làn da đầu. Bác nói nhẹ:

- Thôi, ngủ đi con.

Thằng bé dường như chỉ chờ thế, mắt nó khép lại, khuôn mặt bình thản, hơi thở điều hòa. Người bố muốn cất lên tiếng hát, như ngày xưa mỗi lúc trăng lên, bác đã cất lên giữa những khuôn mặt bạn bè. Bây giờ không còn gì. Những người thân yêu đó đã xa, đã tan. Cả tiếng hát nữa, nó cũng theo thời gian mà úa héo, nẩy mầm cho sự chết. Chính lúc bác cảm thấy bác không còn gì, cũng chính là lúc bác biết bác còn một kho tàng vô giá: đứa con. Thằng bé nầy đây, với thân thể bé nhỏ, với tâm hồn sạch trong, là cả cuộc đời bác, là cả chiếc lồng vĩ đại nhốt tình thương của bác. Xa nó bác xót xa. Nhưng làm sao được. Có hợp thì có tan, cũng như biển động rồi biển lặng. Bác ngắm nhìn khuôn mặt thân yêu ấy không biết chán, chỉ thấy càng lúc càng yêu con hơn bao giờ hết. Chỉ còn đêm nay là bác còn được con gối đầu lên chân, chỉ còn đêm nay là bác còn được vuốt mái tóc mềm mại thơm mùi nắng. Bác muốn khóc nhưng đôi mắt cũng héo tàn như cuộc đời bác. Bác chỉ còn có tình thương là sống mãnh liệt. Tình thương ấy bác để dành cho người con, giúp nó cái ước vọng nhỏ nhoi mà con bác đã từng nói: Mai lớn, con sẽ làm thủy thủ như bố, bố nhé.

Con thuyền quay về bến lúc trời còn tối. Người bố nhẹ đánh thức con. Thằng bé còn ngái ngủ, mắt cay nồng. Bác kéo thuyền gần bờ hơn, khi lườn thuyền chạm vào lòng cát, bác đưa tay đỡ con. Nước biển làm thằng bé tỉnh táo. Nó định giúp bố một tay kéo thuyền lên bãi, nhưng người bố đã cản tay nó lại. Bác ôm lấy con nhìn sâu vào mắt con, bác hỏi:

- Mai lớn con có làm thủy thủ như bố không?

- Có, bố ạ.

Bác mỉm cười, buông con ra. Thằng bé thấy bố nó có vẻ kỳ dị khiến nó sợ. Người bố bảo con:

- Thôi con lên lều trước đi. Sửa soạn mà về phố. Tiền bố để trong chiếc gối ấy. Trưa nay nếu bố không về, con cứ lên xe về trước. Con nhớ đến ở đằng nhà cô dượng Phụng ấy, đừng về nhà mình. Nhớ ngoan, đừng làm cô dượng buồn lòng nha con.

Thằng bé ngạc nhiên:

- Sao vậy, bố không cùng về với con sao? Hay con chờ bố về một thể. Con sợ lắm.

Người bố vỗ về:

- Sợ gì con? Bố còn phải làm nhiều việc. Con cứ lên phố với chú Sáu bên cạnh nhà mình ấy. Thủy thủ của bố đừng sợ. Sóng to biển lớn còn chưa sợ nữa là chỉ một chuyến xe ngắn ngủi. Đi con. Ngoan, bố về bố đem sò biển về cho.

Thằng bé rươm rướm nước mắt. Nó ngồi xuống bờ cát đẫm sương.

- Vâng, bố đi. Con ngồi đây đợi bố.

Người đàn ông thương cảm nhìn dáng vẻ cô đơn của người con bé bỏng. Ông quay đi, kéo thuyền ra xa, rồi nhảy lên. Đưa tay vẫy con lần cuối người bố thương con dạt dào. Thằng bé đâu có ngờ, hình ảnh mờ mờ của buổi sáng mù sương ấy là hình ảnh cuối cùng nó nhận từ ông bố yêu dấu. Thân thể ông sẽ tan vào trùng khơi, sẽ xa nó mãi mãi. Nó sẽ buồn, sẽ cô đơn. Thằng bé chưa nhận thức được điều ấy. Nó mỏi mệt nằm dài trên bãi cát chờ đợi.

Mặt trời lên, tia nắng trải rộng, sáng chói, mơn man trên mái tóc, trên làn môi thằng bé như muốn đánh thức nó dậy mà không nỡ. Một lát, sức nóng khiến thằng bé tỉnh giấc. Nó ngồi vụt dậy, nhìn quanh. Không có người đàn ông, không có con thuyền, chỉ có những kẻ xa lạ, và nếp sống buổi mai của ngư dân. Thằng bé đứng lên, nhìn đăm đăm ra phía xa. Nó nhón gót, như thể vài phân cao ấy giúp nó nhìn ra xa hơn chút nữa. Không có gì. Thằng bé bắt đầu lo lắng. Nó quên cả bụng đói, quên cả cát bỏng. Nó ngồi sững nhìn đại dương bát ngát, mồ chôn bố nó đấy.

Đến trưa, thằng bé thất thểu trở về lều, ôm áo quần trở về thành phố. Trong thâm tâm thầm hứa không bao giờ còn giáp mặt với biển xanh. Thằng bé không muốn giữ lời với bố nó nữa, nó không còn một chút ao ước trở thành thủy thủ. Nó ghét biển, dù biển hiền hòa. Nó thù biển, biển đã cướp đi bố nó, nguồn thương yêu độc nhất của muôn đời.

*

Nếu chết là hết thì trường hợp này không đúng cho cái chết của người bố. Thân thể bác đã tan, đã chìm xuống lòng biển. Phần vật chất của bác biến đi, mất dấu, nhưng linh hồn bao la của bác, tình thương ngọt ngào của bác thì vẫn còn. Không, linh hồn bác không mang một dáng vẻ, một hình thức nào, khác với những oan hồn vẫn còn mang hình dáng con người lúc sống, linh hồn bác mênh mang hòa với dòng nước, trải rộng trên mặt biển bao la. Bác vẫn ngóng về nơi bãi cát xưa, chờ khuôn mặt của đứa con yêu. Bác vẫn mong, vẫn hy vọng con bác sẽ có một ngày trở về chốn cũ. Nó sẽ bước xuống làn nước mặn, sẽ nghĩ về bác với bao trìu mến. Bác sẽ choàng tình thương quanh nó, sẽ mơn man bờ mi, đôi má, sẽ vuốt mái tóc mềm mại ngày nào. Một ngày qua, tháng qua, năm qua, linh hồn bác mỏi mòn trông ngóng. Dáng người con chưa thấy về. Bác hàng ngày lang thang tìm kiếm, linh hồn bác đã lướt qua bao nhiêu bờ cát, đã thấy hàng trăm nghìn khuôn mặt, bác đã từng nâng giấc cho hàng vạn chuyến tàu được trở về bến bình an. Nhưng con bác, thằng bé vẫn thường mong được trở thành thủy thủ, không có mặt bất cứ nơi nào có biển.

Đã có lúc bác nghĩ con bác đã phản bội tình thương của bác, và linh hồn người bố giận dữ tung sóng lên cao, xoáy tròn dòng nước. Nhưng rồi lòng thương không bờ lại ngăn cản bác, những cơn giận dữ như thế biết đâu sẽ không làm đắm một con tàu nào đó, mà trên boong con bác đang đăm đăm tìm những kỷ niệm xưa. Bác nguôi ngay, bắt đầu nhen lên một nguồn hy vọng mới.

Thời gian qua dần. Ngày nào người bố cũng theo làn sóng xô vào bờ, ôm cả lục địa, vào lòng trìu mến. Lục địa, con của người bố đang sống, đang thở, đang nhớ. Bác nhờ gió chuyển lời thăm hỏi đi khắp bốn phương trời, bác nhờ dương liễu xao động hỏi khắp ngàn cây, bác nhờ đồi núi vang động tiếng gọi nhớ thương của bác đến người con bé bỏng, mà hôm nay bác tin nó đã lớn, đã đủ sức để trở thành một thủy thủ thực thụ.

Không một tin tức nào đáp lại lòng mong mỏi của bác. Ngàn gió lắc đầu, ngàn liễu cúi mặt, ngàn núi đồi im tiếng. Linh hồn người đàn ông đau đớn đến điên cuồng. Linh hồn bác sở dĩ không tan biến được chỉ vì nỗi mong ước được nhìn thấy đứa con đạt được cái mộng bé nhỏ: làm thủy thủ. Linh hồn bác giờ lại càng như rắn lại vì sự biệt tích của đứa con. Tình thương mênh mang, bao la của bác càng đậm, nỗi đau đớn của bác càng tăng, và tính giận dữ càng dai dẳng. Bác đã gây bao nhiêu gió bão, bác đã tàn phá bao nhiêu làng xóm bằng những lần dâng nước ngập bờ…

Sau một đêm khóc than vật vã, linh hồn người bố yên tĩnh trở lại. Bác trả lại vẻ hiền hòa cho mặt biển xanh. Linh hồn bác thu nhỏ lại, theo hơi nước bốc lên dưới sức nóng ánh sáng mặt trời, tụ lại thành mây trời trôi lang thang khắp địa cầu.

Đám mây trắng, linh hồn của người bố ấy, lênh đênh suốt ngày đêm, qua những phố thị sầm uất, đến những cánh đồng hẻo lánh, chỉ để tìm một dáng quen thuộc của đứa con.

Cho đến một hôm, khi đang đi qua một khu rừng già, đám mây trời ấy chợt nghe tiếng hót của một loài chim sơn ca, tiếng hót ca tụng tình người cha, nỗi nhớ thương của đứa con đối với người cha chết nơi lòng biển. Tâm hồn đám mây trắng rung động nghẹn ngào như hôm nào người bố nhìn lườn thuyền chạm nước lần đầu. 

Đám mây cúi mình xuống, nhẹ nhàng hỏi Sơn Ca:

- Cô Sơn Ca xinh xắn ơi. Cô hát bản ca gì thế?

Nàng chim bé nhỏ ngẩng đầu nhìn vầng mây trắng, thỏ thẻ:

- Trên núi cao kia có một chàng tuổi trẻ nhờ chim chóc, suối rừng chuyển lời nhớ thương của chàng ta đến người cha cậu ấy.

- Chàng tuổi trẻ đó ở đâu vậy? Mây trắng hỏi vội vàng.

Chim Sơn Ca đưa cánh chỉ về phía ngọn núi cao nhất, mắt nàng chim chợt long lanh:

- Ở trên kia, bên xác máy bay. Nhanh lên đi, mây trắng. Rồi nhớ trở về cho tôi biết tin chàng với nhé. Núi cao quá, tôi không đủ sức lên đó nữa đâu.

Không trả lời, mây trắng trôi về phía núi cao. Giữa những ngọn núi trùng điệp, ngọn núi chàng tuổi trẻ sa xuống trông như anh cả giữa đàn em. Từ xa, mây trắng đã thấy chàng thanh niên. Cái dáng người quen thuộc với mây trắng biết bao nhiêu. Mái tóc đã đổi khác nhưng vẫn mềm mại, đôi mắt xa vời nhưng chân thật biết bao nhiêu. Mây trắng tỏa rộng bao quanh lấy chàng tuổi trẻ, ngọn núi, bao quanh lấy. Như trong cơn mơ, người con sống lại trọn vẹn cái cảm giác êm đềm thuở bé, lúc nằm gối đầu lên chân bố để bố vuốt tóc mình. Người con lại thấy thân thể bồng bềnh như đang nằm trên mặt biển xanh. Khẽ nhắm mắt, người con yên lòng ngủ.

Ngọn núi ấy không tên, không thấy trên bản đồ, nhưng muôn đời có mây trắng bao phủ, quanh năm có tiếng chim ca hót, có tiếng suối reo. Ngọn núi ấy không tên, với con người, với những kẻ xa lạ, nhưng đối với gió ngàn, với muôn sinh vật sống trên đó ngọn núi đã có một cái tên êm dịu vô cùng, núi TÌNH THƯƠNG. Chính ở đây là mốc lôi kéo muôn loài sống gần nhau, tìm hiểu nhau trong bềnh bồng của biển, của mây trời. Chính đây là màn lưới lọc hết mọi ghen ghét, hận thù, chính nơi đây dây xích cầm tù hết mọi khổ đau, chua xót. Sống ở đây không lo nghèo đói, không sợ cô đơn.

Có người nghi ngờ hỏi tìm đến núi ấy ở đâu, và làm sao tìm đến được. Những người biết chuyện mỉm cười:

- Hãy gạn lọc hết những hận thù ganh ghét trong Anh, thì dù không tìm đến, Anh cũng đã ở trên đỉnh TÌNH THƯƠNG rồi đó.

Tỉ Tỉ 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 72, ra ngày 1-7-1967)

Qua Mấy Ngõ Hoa - MƯỜNG MÁN


Chim vỗ cánh nắng phai rồi đó
Về đi thôi O nớ, chiều rồi
Ngó làm chi mây trắng xa xôi
Mắt buồn quá chao ơi là tội

Tay nhớ ai mà tay bối rối
Áo thương ai mà lồng lộng đôi tà
Ðường về nhà qua mấy ngõ hoa
Ðừng có liếc mắt nhìn hoa bướm

Có chi mô mà chân luống cuống
Cứ tà tà ta bước song đôi
Ði một mình tim sẽ mồ côi
Tóc sẽ lệch đường ngôi không đẹp

Ðể tóc rối cần chi đến kẹp
Nắng sẽ chia nghìn sợi tơ huyền
Buộc hồn O vào những cánh chim
Bay lên đỉnh hồn anh ngủ đậu

Cứ mím môi rứa là rất xấu
O cười tươi duyên dáng vô cùng
Cho anh nhìn những hạt răng xinh
Anh sẽ đổi nghìn ngày thơ dại

Mi khẽ chớp nghĩa là sắp háy
Háy nguýt đi giận dỗi càng vui
Gót chân đưa gót mộng bồi hồi
Anh chợt thấy trần gian rất chật

Không ngó anh răng nhìn xuống đất
Ðất có chi đẹp đẽ mô nờ
Theo nhau từ hôm nớ hôm tê
Anh hỏi mãi răng O không nói?

Tình im lặng là tình cao vời vợi
Hay nói ra sợ dế giun cười
Sợ phố ghen đổ lá me rơi
Sợ chân bước sai hồi tim đập

Cứ khoan thai rồi ra cũng kịp
Vạn ngày xuân chờ đón chung quanh
Vạn buổi chiều anh vẫn lang thang
Vẫn theo O về giờ tan học

Từ bốn cửa đông tây nam bắc
Tới bốn mùa xuân hạ thu đông
Theo nhau về như sáo sang sông
Như chuồn chuồn có đôi có cặp

Chim chìa vôi chuyền cành múa hát
Trên hư không ve cưới mùa hè
O có nghe suốt dọc đường về
Sỏi đá gọi tên người yêu dấu?

Hoa tầm xuân tím hoang bờ dậu
Lòng anh buồn chi lạ rứa thê
Nón nghiêng vành nắng chết đê mê
Anh mê sảng theo chiều tắt chậm

Chiều đang rụng vì tình vừa ngấm
Hai hàng cây thương nhớ mặt trời
Chiều ni về O nhớ thương ai
Chiều ni về chắc anh nhuốm bịnh

Thuyền xuôi dòng ngẩn ngơ những bến
Anh như là phố đứng trong mưa
Anh như là quế nhớ trầm xưa
Sợ một mai O qua mất bóng

Một mai rồi tháng năm sẽ lớn
O nguôi quên những thoáng trời trong
O sẽ quên có một người mong
Một kẻ đứng dọc đời trông đợi

Còn nhớ chi ngôi trường con gái
Lớp học sầu, khung cửa, giờ chơi
Cặp sách quăng mô đó mất rồi
Vì O bận tay bồng tay bế…

Chuyện hôm nay sẽ thành chuyện kể
Những lúc chiều đem nắng sang sông
O bâng khuâng nhè nhẹ hỏi lòng
Mình nhớ ai mà buồn chi lạ ? !

Chim vỗ cánh nắng phai rồi đó
Về đi thôi O nớ chiều rồi
Ngó làm chi mấy trắng xa xôi
Mắt buồn quá chao ơi là tội ! …
                                                        MƯỜNG MÁN
Mường Mán sinh năm 1947 tại Làng Chuồn, tên tục của làng An Truyền, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên, còn biệt danh là Sao Khuê, Quỳ Lê, Ca Dao, Tiểu Kiều. Trước 75, ông là cựu phóng viên chiến trường miền Nam. Hiện còn ở Sàigòn. Ngoài thơ, Mường Mán còn viết rất nhiều truyện ngắn và hầu hết viết về Huế.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tuần báo Tuổi Ngọc số 50 tại Saigon, đầu thập niên 1970, do Duyên Anh Vũ Mộng Long chủ trương 

Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Bậc Vĩ Nhân Nhất Thế Giới - MAURICE PONS


MAURICE PONS 
Nguyễn Hiến Lê (dịch)

Tôi để cho các học sinh của tôi vô lớp và lặng lẽ ngồi xuống, trước mặt tôi, em nào vào chỗ nấy. Tôi bắt các em ngồi im một lát như vậy, và ngó lén các em, thích thú về cái uy của tôi lắm. Còn chúng thì đã bắt đầu ngài ngại rồi. Chúng đã đoán được hôm nay tôi tính “trác” chúng cái gì chăng?

Khi đã áp chế được chúng rồi, tôi mới bảo:

- Lấy một tờ giấy ra!

Chúng nhao nhao lên phản đối:

- Thưa thày đừng! Để hôm khác, thày.

Tôi yêu chúng lắm, như bày con của tôi! Tôi yêu cái tánh hay phản đối, ranh mãnh, dại dột, làm biếng của chúng. Tôi yêu em Robert mập lù kia, cứ ba ngày thì hai ngày quên không mang sách ; tôi yêu em Annette nhỏ xíu không lần nào nộp bài mà không có vết mực ; yêu em Hervé nữa không làm sao nhớ được những lỗi chánh tả dễ dàng nhất ; và em Philippe nữa mà không có sức mạnh nào trên đời này có thể ngăn em viết leo ra ngoài lề được. Tôi yêu hết thảy các em và các em biết như vậy lắm. Đã nhiều lần tôi xuýt mềm lòng, chiều các em năn nỉ, đòi cái này cái nọ!

- Nào mau lên chứ! Chép đầu đề tác văn.

Thấy các em vội vàng lấy giấy, tôi hiểu rằng lúc nãy, các em ngại tôi ra bài ám tả. Có vài em càu nhàu đấy, nhưng rồi giấy trắng, giấy chặm và viết máy đã hiện đủ trên mặt bàn. Rồi hết thảy đều ngước mắt nhìn tôi, và trong cặp mắt chúng, tôi chỉ thấy vẻ lo ngại, đợi đầu đề.

Tôi sẽ bỏ suốt ngày chủ nhật tới để chấm bài tụi con nít này đây, còn chúng thì chúng sẽ chỉ bỏ ra một phút để phê phán tôi tùy đầu đề tôi sắp ra. Tôi hồi hộp, lo ngại cũng gần như chúng.

- Trò phục vĩ nhân nào nhất, bất kì là vĩ nhân trong lịch sử, trong thời này hoặc trong truyền thuyết. Cho biết tại sao lại lựa vĩ nhân đó.

Bao nhiêu cái đầu cúi xuống đều ngửng lên cả. Hầu hết đều toét miệng ra cười, chắc chắn chúng sẽ chăm chú làm bài. Chúng thích đầu đề đó, và tôi khoái lắm : trong thâm tâm chúng, thế nào chúng chẳng phê cho tôi một điểm tốt.

- Thôi bây giờ làm bài đi… Hễ chuông đổ là thầy thu bài đấy…

Chúng lại cúi đầu xuống. Có em ngậm đầu một cây viết chì, có em vẽ nguệch ngoạc lên giấy để suy nghĩ, rán nhớ lại những danh nhân đã được biết. Rồi bỗng có mấy em đưa ngón tay lên xin hỏi:

- Thưa thầy, con lựa Chúa Ki Tô được không ạ?

A! Có biết bao ý nghĩ kì dị trong đầu óc những em nhỏ đó! Mà chúng làm cho mình nhiều khi lúng túng chứ, chịu chúng thật!

- Ờ… được chứ, dĩ nhiên. Nhưng thày ngại rằng lựa vĩ nhân đó, con sẽ khó viết đấy…

- Thưa thày, bà Jeanne d’Arc phải là một vĩ nhân không ạ?

- Thưa thày, lựa một con vật nổi danh, có được không ạ?...

Tôi đành để cho mỗi em tự lãnh lấy trách nhiệm và bảo chúng thôi đừng hỏi nữa, làm bài đi. Một lát sau, viết chì và viết mực bắt đầu đưa tít trên giấy và trong cảnh im lặng của lớp học, chỉ thỉnh thoảng còn nghe thấy tiếng vò một bản nháp hoặc tiếng một cây thước kẻ rơi xuống sàn.

Nhưng tôi nhận ngay ra rằng trong khi các em khác đã viết hết hàng này tới hàng khác thì em Benoit Trévol vẫn để tờ giấy trắng. Em có vẻ do dự lung. Em rất siêng năng. Không phải là hạng giỏi nhất trong lớp nhưng nhiều lần thấy em chuyên cần mà tôi cảm động. Có ý tứ, và thiện chí thì tôi chắc là không em nào bằng. Đầu đề như vậy mà em có vẻ lúng túng, hoang mang, thì nhất định là có lí do gì quan trọng đây. Thấy em ngơ ngác ngó tôi, tôi ra dấu bảo em lên. Em đứng dậy, rón rén đi qua lớp học rồi bước lên bục, lại sát ghế của tôi. Em đăm đăm ngó tôi, muốn nói mà vẫn còn do dự.

Tôi nói nho nhỏ để em kể lể nỗi lòng:

- Sao Benoit, tại sao con không làm bài? Có cái gì khó khăn không?

Em thu hết can đảm lại, mặt đỏ bừng, đỏ hơn chiếc áo lạnh em đang bận nữa, ghé sát tai tôi, hỏi:

- Thưa thày, con có thể lựa ba con được không?

Nghề giáo viên quèn của chúng tôi chẳng có danh vọng gì mà gần như vô vọng nữa. Nhưng có lúc chúng tôi được hưởng những niềm vui thầm kín, nhờ vậy mà quên được hết thảy mọi nỗi chán nản : một em nhỏ mười tuổi nhón chân lên tin cậy mình, thì thầm hỏi mình có quyền được nhắc tới ba của em không, cái đó đủ an ủi mười năm âm thầm tận tụy với nghề rồi! Thử hỏi trên đời này, có ông lớn nào, có bậc thiên tài nào, bậc vua chúa nào được nhận bảo vật đó không : những ánh sáng đầu tiên lóe trong óc một em nhỏ, sự nảy nở của một tình cảm mới mẻ! Tôi cảm động vô cùng, và phải gắng bình tĩnh lắm mới khỏi để lộ cho em thấy:

- Con tin rằng ba con thực là một vĩ nhân sao?

Benoit thốt lên, giọng tràn trề quyết tín:

- Dạ!

- Vậy thì làm bài mau lên và coi chừng chánh tả đấy nhé!

Một lát sau, ngọn bút của Benoit cũng đưa lia lịa trên giấy như chúng bạn. Lưỡi thè ra, em chăm chú làm bài cho tới hết giờ.

Trong thị trấn nhỏ này, ai cũng biết rõ ông Trévol, thân phụ của em, nhưng chắc chắn là danh vọng của ông không bao giờ vượt ra khỏi quận. Vừa xúc động, vừa ngài ngại nữa, tôi thắc mắc tự hỏi không hiểu ông có cái gì mà con trai ông coi ông là bậc vĩ nhân. Ông trạc tứ tuần, chẳng có nét nào giống Tyrone Power, Fernandel (1).

Từ khi lại ở thị trấn này, ông làm kĩ sư trong một hãng thuộc da nhỏ ở ngoại ô. Theo tôi biết thì chức vụ của ông trong hãng chẳng có gì quan trọng đặc biệt, và ngày nào ông cũng đi xe điện lại hãng như hầu hết các nhân viên khác. Ông ở tầng dưới một biệt thự có đủ tiện nghi, nhưng chẳng có gì sang trọng, cùng với bà vợ và hai đứa con. Thỉnh thoảng bà Trévol và nhà tôi gặp nhau ở ngoài phố hoặc ở chợ. Cũng như mọi các bà nội trợ khác, họ hỏi nhau ít câu về giá của cải hoa hoặc bơ nhập cảng. Chính tôi cũng đôi khi trò chuyện với ông Trévol. Ông hỏi thăm tôi về sự học, khả năng, sự gắng sức của Benoit. Tôi khen em, nên ông và tôi tử tế với nhau, buổi chiều thứ bảy, ở trong rạp hát bóng ra, hễ thấy nhau là nhã nhặn chào nhau. Tôi không nghe ai nói rằng ông có làm chính trị, các công tác xã hội, hoặc ở trong một đoàn văn nghệ, thể thao nào cả. Cũng như mọi người, ông bị động viên năm 1939, nhưng được làm ở tại hãng vì hãng ông cung cấp cho quân đội. Hồi bị quân địch chiếm đóng, ông không hợp tác với địch mà cũng không gia nhập kháng chiến. Ông quả là một người lương thiện, dễ thương, nhưng nói cho ngay, tôi chẳng thấy ông có một chút xíu gì là “vĩ nhân”, hiểu theo cái nghĩa tầm thường nhất của tiếng này. Tôi mong được con trai ông phát giác cho tôi biết cái phong độ vĩ nhân của ông ra sao.

Vì vậy buổi tối hôm đó, về nhà, tôi vội vàng lật lật xấp bài tác văn để tìm bài của Benoit Trévol. Tôi coi sơ sơ các bài khác để xem học sinh của tôi đã lựa những vĩ nhân nào. Vercingétorix, Mermoz, Robin de Bois, Tarzan, Lyautey, Charlot, De Gaulle được nhiều em lựa hơn cả. Tôi nhận thấy có một bài viết về Staline, một bài viết về Thánh Francois ở Assise. Bài của em Annette lại bị lem một vết mực bự, còn Philippe thì cũng lại viết leo ra ngoài lề nữa. Sau cùng tôi gặp được bài của Benoit, và tôi đọc liền, thích thú lạ lùng. Bài đó như sau:

“Vĩ nhân bậc nhất thế giới mà con được biết là ba con. Chủ nhật, khi gia đình chúng con dạo mát trong công viên, mọi người luôn luôn chào : “Chào ông Trévol”. Và con lấy làm hãnh diện. Ba con nắm tay con. Ba can đảm. Buổi tối, tới giờ đi ngủ, ba ra ngoài khép cửa rào lại. Ba không bao giờ biết sợ. Ba cũng rất mạnh nữa : có khi ba bồng má trong tay mà leo cầu thang. Ba cũng rất thông thái. Con thấy cái gì ba cũng biết, biết cả tên các ngôi sao, cũng biết các động cơ chạy ra sao nữa. Hôm nọ máy may gẫy, ba đã sửa lại. Ba cũng biết trồng bông trong vườn nữa, và tới mùa xuân, bông nở. Ở hãng, ba chế tạo thứ da tốt nhất thế giới. Vậy mà không bao giờ ba khoe cả : ba không diễn thuyết trong ra-dô, không đăng hình mình lên báo như những người khác. Nhưng chắc chắn là không có bậc vĩ nhân nào hơn ba, cả ở Paris hay ở Mỹ cũng không có”

Có vài ba lỗi chánh tả nhẹ. Nhưng bài đáng được 18 điểm trên 20. Tuần đó, Benoit đứng đầu sổ. Dĩ nhiên, bài của em, chỉ hai thày trò chúng tôi biết với nhau thôi.

-------------------------
(1) Những nhân vật nổi danh trên màn ảnh.

(Bài này trích trong cuốn TÌNH CAO Ý ĐẸP do học giả Nguyễn Hiến Lê tuyển và dịch, với sự cho phép của dịch giả)

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 88, ra ngày 6-5-1973)
Tranh bìa của Vi Vi : Hoa Phượng

Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2014

Ngày Xuân Trong Tháng Hạ - ÁI THƠ


Để nhớ về quê Ngoại 

Phượng bó gối ngồi im nhìn ra màn mưa trắng xóa. Nó chép miệng, kể ra chị em nó cũng hên thật. Về tới nhà ngoại là trời bắt đầu lâm râm! Ngoại đón bầy cháu với tất cả sự hân hoan, trìu mến. Không khí đồng nội làm lũ nó thấy khoan khoái hẳn ra và bữa cơm trưa của ngoại cho, được chúng chiếu cố tận tình. Cơm no, trời lạnh, thêm vào cuộc hành trình từ sáng sớm, mấy đứa em Phượng đều lăn quay ra ngủ. Từ sáng đến giờ mưa cứ lất phất rồi dần dần nặng hột. Mưa dai thật!

Vườn cây quanh nhà ngoại cúi mình tắm dưới mưa. Chúng ngả nghiêng theo chiều gió như say sưa theo một điệu luân vũ. Phượng với tay, vặn nút chiếc radio. Một giọng hát trầm ấm thoát ra“… Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi… Trời lắng u buồn…” Một sự tình cờ lý thú! Nhưng đây lại là mưa hè chứ nào phải mưa thu! Phượng cười nụ với ý nghĩ đó. Hè nào cũng thế, chỉ thấy toàn là những ngày mưa hoặc những ngày thật buồn, u ám với những đám mây xám nặng trĩu trên bầu trời. Suốt ba tháng nghỉ hè, thật hiếm có những ngày mang đúng ý nghĩa của nó. Giá ba tháng nghỉ hè nối tiếp với kỳ nghỉ Tết nhỉ? Thế có phải là hợp tình hợp lý không? Phượng nghĩ lẩn thẩn. Nhưng trời mưa mà ngồi thu mình hoặc nằm chùm chăn nghe nhạc như thế này, kể ra chẳng có gì đáng phàn nàn…

Ngủ trưa dậy, trời cũng đã quang đãng tự bao giờ. Bầu trời xanh màu ngọc bích với vài đám mây trắng nhàn nhã trôi lững lờ. Mặt trời soi vừa đủ ấm. Cây cối tươi mát hẳn ra, lá xanh đu đưa theo làn gió nhẹ vẫn còn long lanh những giọt nước mưa sót lại. Có tiếng chim ríu rít gọi nhau. Phượng thú vị trong cảm giác lười biếng. Lũ em nó cũng đã thức dậy tự bao giờ, đang nằm tán gẫu.

Tiếng dép lẹp xẹp rõ dần, tiếp theo là giọng quen thuộc của ngoại:

- Dậy rồi hả bây? Xuống ăn khoai với chuối xào dừa đi. Con hai nó múc sẵn mỗi đứa một dĩa rồi đó.

Bầy cháu của ngoại dạ ran. Chúng, một lũ sáu đứa, đứa lớn chỉ hơn đứa nhỏ một tuổi, lục tục kéo nhau xuống nhà bếp.

Chị hai vui vẻ:

- Mấy em ngồi chờ chút. Nước dừa gần được rồi.

Trên chiếc bàn ăn, xếp hàng một dãy mấy chiếc dĩa sứ. Chuối xiêm vừa chín tới, hãy còn cưng cứng, deo dẻo được nấu chín bóc vỏ, xắt thành lát dày dày. Lát nào cũng ửng hồng với một màu vàng óng. Chuối này chắc ngọt và dẻo! Ở Sàigòn, mỗi dĩa 50đ không được đấy! Mấy chị em Phượng kháo nhau làm chị hai phải mỉm cười.

Chị bưng soong nước dừa đến bên bàn. Nước dừa này béo phải biết! Chả là chị làm đến hai quả, chỉ lấy nước cốt. Vườn dừa mà lị!

Chị hai nhẹ nhàng múc từng muỗng nước cốt trắng đục chan lên từng dĩa chuối. Hơi nóng tỏa ra mang theo một mùi béo ngậy. Chị em Phượng hít mạnh, buột miệng: “Thơm quá ta!”. Chúng dặn dò: “Chan cho em nhiều ấy, chị hai, nhiều mới ngon”.

Chị hai dễ dãi cười:

- Được mà! Thiếu gì đây! Tha hồ cho mấy em!

Mấy dĩa chuối trông hấp dẫn tệ! Màu chuối hồng chen lẫn với màu trắng đục của nước dừa, lại thêm màu xanh xanh của của hành lá xắt nhỏ. Cây xiên được cắm thẳng đứng trên mỗi dĩa.

Phượng lễ phép thay em:

- Ngoại ăn với tụi con, ngoại. Ăn với tụi em, chị hai.

Ngoại cười đôn hậu:

- Bây ăn đi. Ngoại thèm khát gì. Hai, ăn với tụi nó đi con.

Chị em Phượng ngồi dài trên băng đá đặt ở hiên nhà sau, vừa ăn vừa húp nước dừa. Đứa nào cũng suýt soa:

- Ngon quá! Béo quá!

Thằng cu Tí bé nhất, 8 tuổi, mồm miệng chàm nhàm:

- Tí ăn nữa!

Hai ba đứa khác cũng phụ họa:

- Tao nữa!

- Tao cũng vậy!

Ngoại cười, nhìn bầy cháu háu ăn:

- Mặc sức cho bây ăn! Ngoại biểu chị hai nấu một quày đấy…

Phượng bày khôn đám em:

- Tụi bây ăn nhiều quá mất ngon. Chiều rồi mình ăn nữa, lo gì!

- Mà mau ngán thật! Tại nước dừa béo quá! – Một đứa tiếp lời chị.

Ánh nắng nhảy múa lung linh qua kẽ lá. Buổi trưa nhà quê thật vắng lặng. Đám lá tre lào xào trò chuyện trong gió, thân chúng cọ vào nhau kẽo kẹt. Một con chim sãi cánh bay ngang:

- Khanh khách, khanh khách…

Chị hai nói vu vơ:

- Nước lớn rồi!

Bầy em trai của Phượng thích chí:

- Tắm chơi! Sướng quá!

Chúng bỏ ngay dĩa xuống băng đá, cởi phăng áo thi nhau chạy, chỉ kịp ngoái lại:

- Chị hai, dẹp dùm tụi em!

Bà ngoại gọi với theo:

- Tắm bến sau nghe hôn? Một lát thôi đấy.

Quay sang cháu gái, ngoại thúc giục:

- Xong chưa con? Ra coi chừng tụi nó.

Phượng thu gọn mấy chiếc dĩa đem xuống bếp rồi bỏ dép, đi dần ra bến rạch phía sau. Nước mưa hãy còn đọng từng vũng nhỏ trên mặt đất. Phượng bấm nhẹ mấy ngón chân theo mỗi bước đi, chỉ sợ ngã. Nó chợt nhớ đến một câu đối đã từng đọc ở đâu:

“Đi đất nạc, đường trơn như mỡ”.

Phượng thấy sao đúng đến thế? Không cẩn thận chắc là sẽ “chụp ếch”.

Một tiếng động khẽ khiến Phượng giật mình, đưa mắt tìm kiếm. Trên cành dừa thấp gần đấy, một con sóc nhỏ đang tròn mắt nhìn Phượng. Con sóc thật xinh! Đôi mắt đen long lanh, nổi bật trên bộ lông xù mướt màu xam xám. Phượng thân thiện đưa tay vẫy làm quen. Con vật hốt hoảng, chạy vụt, mất dạng sau mấy bẹ dừa.

Tiếng lội bì bõm, nước tóe và đùa giỡn của mấy đứa em Phượng vẳng lại.

Mấy đứa lớn đã biết lội đang thi nhau lội đua sang bờ lạch bên kia rồi quay trở về. Hai đứa nhỏ tìm đâu được mấy bẹ dừa nước, ôm chặt, chập chững đập chân đùng đùng xuống nước.

Cây đa bên bờ rạch năm ngoái hãy còn nhỏ xíu nay đã cao gần bằng ngọn dừa, cũng đang nghiêng mình ngắm lũ trẻ. Những chiếc rễ phụ lòng thòng xuống tận mặt nước, đu đưa theo gió. Phượng ngồi dựa vào gốc đa, nhìn dòng nước đục vẩn màu hồng của phù sa đang trôi lững lờ, êm ả. Phượng thốt nhiên cảm thấy tình yêu quê hương tràn ngập trong lòng! Quê hương xinh đẹp, quê hương hiền hoa, đầy trái ngọt cây lành! Quê hương thật đáng yêu với bà ngoại tóc bạc phơ, phúc hậu. Cầu trời cho ngoại Phượng được luôn khỏe mạnh, sống lâu, để mỗi năm, Phượng được vài lần về quê thăm ngoại…

- Phượng à! Phượng! Kêu em lên con…

Phượng giật mình, dạ thật to. Quay xuống đám em, Phượng vẫy:

- Lên tụi bây ơi! Vô nhà tắm lại đi! Ngoại kêu kìa!

Mấy đứa em kỳ kèo:

- Chút nữa, chị Phượng.

Hơi cau mày, Phượng lắc đầu:

- Đã bảo ngoại kêu lên mà!

Đám em tiếc rẻ tóe nước thêm vài cái, mới lục tục kéo vào nhà. Gió thổi nhè nhẹ khiến chúng co ro, môi xam xám. Một đứa kêu lên:

- Gió lạnh quá! Sao ở dưới nước ấm quá, tụi bây hén?

Tắm vào, nồi khoai và chuối ban trưa được chúng chiếu cố gần hết.

Ngoại cẩn thận:

- Hai ơi! Ra hái cho tụi nó giỏ mận đi con. Lát ăn cơm rồi, cho tụi nó ăn.

Mấy đứa em nó lại ùa theo chị hai, đứa xách giỏ, đứa cầm lồng.

Bữa cơm chiều, ngoại cho tụi nó ăn vịt xiêm luộc, chấm mấm gừng. Con vịt thật to, mập hơn ba ký lô được luộc cả, chặt ra bày đầy trên bốn chiếc dĩa bàn lớn. Gan vịt thật độc đáo, to bằng bàn tay Phượng.

Chị hai đâm một nhánh gừng già, thật nhuyễn chung với củ xả non. Nước mắm mằn mặn, chua chua, ngòn ngọt, cay cay màu xanh, đặc sánh với gừng và xả, càng hấp dẫn khi thả vào thêm một quả ớt hiểm nho nhỏ màu đỏ tươi. Loại ớt này thật đặc biệt, thật nhỏ nhưng thật cay, một thứ cay làm ta thú vị…

Chiều nhà quê, màn đêm hình như buông nhanh hơn ở thành thị. Chưa đến sáu giờ chiều mà nhà ngoại đã phải lên đèn.

Chiếc đèn “manchon” được treo cao trên cái đà ngang kêu “khè khè”, cố sức chọc thủng bóng tối đang dần xâm chiếm gian nhà bếp. Mấy bà cháu Phượng ấm cúng vây quanh chiếc bàn ăn. Chị hai thỉnh thoảng rời bàn, đứng lên múc thêm tô cháo.

Bà ngoại ân cần:

- Ăn đi các con! Thằng Tí thủng thẳng ăn, cháo còn nóng hổi đó!

Thằng Thới suýt soa:

- Trời lành lạnh mà ăn cháo nóng vầy, ngon quá ngoại!

Thằng Bình cãi lại:

- Thịt vịt mắm gừng mới ngon. Có cháo mà hỏng có thịt làm gì ngon?

Ngoại mỉm cười:

- Ờ! Ngon thì ăn đi. Tao tính ở Sàigòn thiệt cực! Ba má bây đi làm chỉ đủ cho bây ăn!

Tí chen vào:

- Con thích về ngoại nè ngoại…

Cứ thế, ngày này sang ngày nọ, trôi qua thật nhanh chóng. Mỗi ngày với một món ăn khác nhau, một thứ tiêu khiển khác. Nào bánh xèo, gỏi cuốn, mì xào, cà ry, gà hầm măng non… bánh ít, bánh men, đậu hủ… Ngoại cho chúng ăn thả cửa. Tụi nhóc con tha hồ được lũ bạn miền quê dẫn đi bắt dế, đào trùn câu cá, bắn chim… Thật là những ngày thần tiên, kỳ thú…

Chỉ còn đêm nay nữa thôi, sáng mai chị em Phượng lại trở về Sàigòn với ba mẹ. Chỉ còn bà ngoại với chị giúp việc ở lại trong ngôi nhà rộng, khu vườn xanh. Chóng thật! Phượng nhớ đến 2 câu trong một bài học thuộc lòng thuở tiểu học:

“Chín mươi ngày nhảy nhót ở đồng quê,
Ôi! Tất cả mùa xuân trong mùa hạ!”

Và Phượng tự đổi lại:

“Bảy ngày hè nhảy nhót ở đồng quê,
Ôi! Tất cả ngày xuân trong tháng hạ.”

ÁI THƠ 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 114, ra ngày 12-11-1973)