Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2015

Sắm Tết - M. ANH


- Má, gần tết rồi má.

- Chưa sơn nhà má.

- Chưa làm mứt má.

- Chưa may đồ má.

Chúng tôi nhao nhao tấn công má. Bà cười với ba tôi:

- Đó, ông coi lũ con ông.

- Chúng đòi hỏi hợp lý chớ bộ.

- Hợp lý, lúc nào cha con ông cũng một phe mà.

Nói xong má tôi đùng đùng bỏ vào bếp. Bảy cái mồm chúng tôi reo lên một lượt:

- Một không! Má thua ba rồi.

- Hoan hô ba.

- Hoan hô.

Ba chúng tôi đang chễm chệ trên ghế đẩu, nhìn theo má tôi cười một mình. Chợt ông quay sang tôi:

- Thảo đi lấy tờ giấy với cây viết coi.

Tôi mang giấy viết ra ngồi cạnh ba. Ông la lên:

- Không được, xuống ván ngồi… Tao không thích bị làm áp lực.

Ô! Hôm nay chắc ba tôi có quyết định gì quan trọng đây. Tôi lấy cái ghế đẩu lật nằm xuống đất xong an tọa lên đó:

- Viết gì đây ba?

- Khoan, để biểu quyết đã. Thế nào, bắt đầu là con Thu thằng Sơn, con Tuyết cho đến con Ánh, tụi bây thích ăn mứt gì?

- Mứt me ba.

- Mứt sen ba.

- Thèo lèo cứt chuột nữa ba.

- …

Sau cùng thì đủ các thứ mứt đều được tụi nó kê khai. Ba tôi phán:

- Thảo ghi vào mỗi thứ một ký. Ánh, con tính coi phải mất bao nhiêu tiền, bao nhiêu nhân công để thực hiện.

Chị Ánh tính tiền từ thứ, nhân công từ thứ. Tôi ghi vào, cộng lại rồi trình lên:

- Thưa ba, thưa chị Ánh, thưa anh Hùng, thưa tàn thể lũ con nít, tổng số tiền dự chi để làm mứt là ba ngàn đồng Việt Nam, và công việc cần bảy người từ bốn đến mười tám tuổi làm trong mười ngày.

- Ải ải, không được, thưa ba…

- Thưa ba…

- Thưa ba…

- Từ từ, con Thu nhỏ nhất nói trước.

- Con âu ó iết àm ba, con ổng èm âu.

Cả nhà cười bò ra vì cái giọng ngọng nghịu của Thu. Ba tôi cười:

- Đúng, đúng, phải miễn công tác cho con gái cưng của ba. Rồi, thằng Sơn.

- Con cũng không biết làm ba.

- Không được, mày lớn rồi phải tập cho quen, cứ con Ánh sai gì thì làm nấy là được. Rồi, Tuyết, nói đi, có phản đối gì không?

Tuyết buồn thiu đáp “không”, vì nó biết không có lý do để từ chối công tác. Tiếp theo thì con Hà và tôi cũng đành miễn cưỡng chuẩn y việc giao phó của chị Ánh. Tới phiên anh Hùng, đang ngồi ở góc ván anh đứng dậy trịnh trọng nói:

- Thưa ba, thưa ba, thưa ba, con thiết nghĩ phải thưa ba ba lần để ba chú ý. Việc phân chia công tác cũng như việc định số tiền dự chi con thấy có nhiều điều vô lý. Trước hết, thưa ba, thưa ba, thưa ba, ba có bao giờ phụ tá bếp núc cho má chưa mà ba bảo tụi con trai tụi con phải lăn vào bếp? Con thiết nghĩ, nam nhi chi chí là phải để làm những việc quan trọng chứ đâu phải để ngửi mùi hành ớt. Hơn nữa, tết đâu phải chỉ ăn mà còn phải trang hoàng nhà cửa, thế mà than ôi! Nhà chưa sơn, sân chưa dọn mà ba là một vị chỉ huy tài ba lẽ nào lại bảo con và Sơn vào bếp (anh xuống giọng). Điều thứ hai là (anh đột ngột la lớn) thưa ba, hình như có âm mưu tham nhũng… tại sao làm có tám ký mứt mà phải tốn đến mười ký đường? Thưa ba, ý kiến con đến đây là hết. Và trong khi chờ đợi sự phán xét công minh của ba, xin ba nhận nơi đây lòng tri ân sâu xa của con.

Anh ngồi xuống bó gối nhìn ba. Anh vẫn được khen là có tài ăn nói, sau này có thể học làm thầy cãi được. Ba tôi suy nghĩ một chút:

- Có đứa nào phản đối lời thằng Hùng không?

Chị Ánh đang ngồi may khăn ở ghế mây đứng dậy:

- Thưa ba, con xin phản kháng lời vu cáo vô căn cứ của Hùng rằng có âm mưu toan tham nhũng.

- Nhưng tại sao chỉ cần tám ký mứt lại phải có mười ký đường? – Ba tôi ngẩn ngơ hỏi.

- Phải cần như thế, con không biết tại sao, con chỉ biết phải cần như thế.

Anh Hùng đứng dậy:

- Ba cho con nói.

- Ừ, nói đi.

- Theo vật lý học, đường là một chất dắn không bay hơi, vậy tại sao đường biến đi?

- Tôi không cần biết đến vật lý học của cậu, tôi chỉ biết làm mứt. Chịu tôi làm, không chịu thì thôi, nhịn đi.

Chị Ánh sắp khóc. Ba tôi gõ gõ lên bàn:

- Im, im hết. Thằng Hùng, mày là con trai, biết gì chuyện mứt mà nói. Nhưng con Ánh phải hỏi lại má cho đàng hoàng đó. Bây giờ thì thằng Hùng và Sơn được miễn công tác bếp núc, nhưng phải làm cỏ, suốt lá mai và sơn nhà.

- Con biết gì mà sơn ba!

Con Tuyết la lên:

- Sao không biết? Tên mày là Sơn mờ.

- Ơ! Ơ! Ba bảo Sơn là núi chớ bộ sơn là quẹt quẹt dầu sơn đó hả?

- Tao không biết, tao chỉ biết Sơn là sơn thôi.

- Thôi, con Hà im. Thằng Sơn, mày quậy dầu sơn với lại xách thùng lấy ghế cho thằng Hùng. Còn gì nữa hết?

- Còn may đồ ba.

- Rồi, ghi đi Thảo. Đứa nào muốn gì nói đi. Nhớ, chỉ mỗi đứa một bộ thôi nghe!

Được cho phép, chúng tôi vội vàng chọn những món đồ mình mơ ước. Chị Ánh cái áo dài soie vừa tiền vải vừa tiền công đến ba ngàn đồng, anh Hùng một bộ đồ và một đôi giày đến mười ngàn đồng, tôi một chiếc áo dài thường thường cũng hết hai ngàn rồi, còn đám nhỏ đứa nào cũng đòi đồ tốt. Có lẽ trong phút chốc chúng tôi cùng quên rằng ba tôi chỉ là một cựu chiến binh “kiêm” nghề thợ mộc.

- Tổng cộng bao nhiêu, Thảo?

- Hai mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi lăm đồng – Tôi run giọng đáp vì chợt nhận ra số tiền quá lớn so với lợi tức của gia đình tôi.

Ba tôi ngạc nhiên cùng cực:

- Hả?

- Hai mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi lăm đồng, ba – tôi dõng dạc đáp.

- Thôi, chuyện quần áo nhiều quá không được, phải xét lại và hỏi ý kiến má bây.

Chúng tôi vùng lên cười. Anh Hùng tuyên bố:

- Một đều! Ba thua má, bất chiến tự nhiên thành. Hoan hô má.

- Hoan hô.


*


Chiều hôm nay là chiều thứ bảy nên bọn tôi vui như tết. Chiều thứ bảy nào cũng vậy, từ chỗ làm ra ba tôi ghé chợ, khi thì mua bánh ngọt, khi thì mua trái cây. Tuần nào có tiền nhiều ba mua măng cụt, chôm chôm hay vải hộp. Tuần nào có ít tiền hơn ba mua kẹo chocolat hay rau câu về cho chị Ánh nấu. Chưa bao giờ chúng tôi không có bánh vào chiều thứ bảy. Ba tôi làm ở một trại cây cách nhà hơn năm cây số. Cứ sáng sáng ba đi, chiều ba về, trưa ăn cơm nhà chủ. Ba rất giỏi, bất kỳ là làm tủ, làm bàn, làm ván ba đều biết hết nên suốt năm ba không hề phải ở không. Số tiền công thì hàng ngày ba kiếm được trên dưới một ngàn. Bao nhiêu đó cộng với số tiền má tôi buôn bán cũng vừa đủ cho cả nhà sống không đến nỗi khắc khổ. Trong cuộc đời, việc làm ba ân hận nhất là chị Ánh đã phải bỏ học khi vừa học xong bậc tiểu học. Ngày đó ba đi lính, má tản cư, tiền bạc thiếu thốn, con lại đông nên đành phải để chị Ánh nghỉ học giúp việc nhà. Bây giờ chị Ánh giúp má làm bánh bán và săn sóc bọn tôi. Sống với bọn em quỉ quái dần dần chị cũng lây tính nghịch ngợm. Để đền bù lại phần nào sự bất hạnh của chị, ba tôi chia thời dụng biểu bắt chúng tôi làm việc phụ để chị có thì giờ đọc sách và học sinh ngữ với anh Thư. Gì chứ dạy chị Ánh học thì anh Thư khoái nhất và chị Ánh cũng thích không kém khi học với anh Thư. Năm nay nếu thi đậu tú tài hai, anh Thư phải đi Saigon học, không biết ai dạy chị Ánh. Tôi phục và mến anh Thư lắm, anh rất chìu bọn tôi chứ không như anh Hùng, và anh học giỏi nữa. Anh đọc được cuốn sách chữ Pháp dày cộm trong khi giáo sư sinh ngữ tôi nói học trò quận lỵ đậu tú tài hai chưa viết suôn được một câu chữ Pháp, chữ Anh.

- Ba dìa, ba dìa.

Chúng tôi reo lên, chạy ào ra, nhưng tôi bỗng khựng lại. Ba tôi chỉ xách một túi kẹo loại một đồng hai chiếc! Tuy nhiên chưa đứa nào dám phản đối. Có lẽ đọc được tâm trạng ai hoài của chúng tôi, ba cười dịu dàng bảo:

- Rán hà tiện đi các con, để dành tiền may đồ tết chứ.

Sau bữa cơm chiều, chúng tôi ngồi chùm nhum chung quanh ba má. Chúng tôi không sao quên được quần áo tết! Ba móc túi lấy tiền đưa chị Ánh:

- Ba ngàn đây Ánh, lấy mua đồ làm mứt. Còn bao nhiêu đây tôi giao bà. Ủa mà quên, thôi để tôi giữ.

- Chi vậy?

- Bí mật mà.

- Thôi, đưa má đi ba. Bao nhiêu đó may đồ tụi con đâu có đủ – Thằng Sơn chen vào.

- Hả? Còn lâu tao mới may đồ cho tụi bây. Tao giữ dằn túi.

Má tôi ngạc nhiên vô cùng, hồi nào đến giờ ba tôi có đòi giữ tiền dằn túi bao giờ đâu. Rồi không biết nghĩ gì, mắt bà long lanh:

- Trời ơi! Tôi biết rồi, ông có gì với ai rồi.

- Hả? Cái gì? Bà ghen? Ha, ha, ha.

- Ba ơi, má khóc rồi ba ơi!

Má tôi khóc thật, khóc dễ dàng! Ba tôi lúng túng phân bày:

- Có gì đâu, không có gì đâu mà.

Anh Hùng nắm tay ba:

- Lại đây dỗ má đi ba, ba nắm tay má đi.

Nhưng ba tôi đứng im như khúc gỗ:

- Bà, không có gì đâu. Tôi định lấy tiền may cho bà cái áo dài tết vậy mà.

- Hoan hô ba.

- Hoan hô.

Má tôi đỏ mặt lên vội vào bếp nhưng bị anh Hùng kéo lại:

- Việc má đã xong vậy má phải lo việc tụi con chớ.

- Việc gì?

- Quần áo tết.

Má tôi quyết định thật lẹ và thật độc tài:

- Rồi, cho con Ánh ba ngàn may áo dài, thằng Hùng hai ngàn may cái quần mới, quần cũ cái nào cũng chật và cụt hết rồi. Còn con Thảo mới mười ba, mười bốn tuổi mà diện cái gì, ngày mai con Ánh đi chợ lựa món tơ sống nào màu tươi tươi về cắt may cho nó cái áo dài. Mấy đứa nhỏ thì cứ mua vài thước vải trắng, vài thước hàng đen về tao may mỗi đứa một bộ để dành đi học luôn. Như thế cũng tốn mười ngàn bạc, hơn một tuần lương của ba tụi bây rồi.

- Má, cái quần hai ngàn đồng làm sao may má?

- Thứ thằng Kiên may đó, nhớ quần xanh nghe, để mai mốt mặc đi học nữa à.

- Thôi quần nâu đi má, tân thời một chút má.

- Rồi đi học mặc quần cũ à?

- Dạ.

- Má, con không chịu mặc đồ bà ba đâu má, lớn rồi, má may “đồ tây” cho con.

- Thôi cũng được, má may con quần “sọt” nhé!

- Con mặc quần tây.

- Không được. May quần tây con mặc có mươi lần cụt uổng.

- Con không chịu.

- Tao đánh bây giờ chớ cãi hả?

Ba tôi lấy ngón trỏ để lên môi ra hiệu cho Sơn im và cười cười. Sơn hiểu ý im ngay. Ba tôi cười cười là chắc chắn Sơn “có đường” rồi!

- Xong chưa? Tao đi hấp bánh.

- Kể như xong rồi, nhưng chưa thỏa mãn chút nào hết má.

- Trời cũng không làm tụi bây thỏa mãn được.

Má tôi đi vào nhà bếp. Ba tôi chu miệng nói nhỏ, thật nhỏ:

- Bà già bây hà tiện… mai mốt tao cho thêm tiền mày Hùng…

Chẳng may má tôi nghe lõm bõm được vài tiếng:

- Ông nói gì thế? Cái gì tiện? Cái gì thêm?

- À! À! Tôi nói bà làm vậy mà tiện, tôi khỏi cần có ý kiến thêm.

Cơn tức cười bị dằn xuống làm tôi muốn bể bụng. Má vừa khuất thì có tiếng trọng tài Hùng vang lên:

- Hai một! Má dứt ba một bàn thắng vẻ vang. Hoan hô má!

- Hoan hô…

- Hoan hô…

M. ANH 

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa Xuân Quý Sửu, 1973)

Vào Xuân - Đ.T.



Trên con đường đất mòn, từng toán kẻ gồng người gánh cười nói huyên thuyên. Câu chuyện nổ như bắp rang xoay quanh vấn đề buôn bán trong năm. Khi qua chiếc cầu bắc ngang con rạch, họ rẽ vào chợ. Hôm nay là phiên chợ cuối, nhóm lác đác người.

Nơi đường dẫn vào làng, mái tranh nhà tôi nằm khuất sau rặng tre. Trước sân nắng chiều như còn vương nhẹ trên giàn mướp. Dáng mẹ tôi lúi cúi bên hông nhà, cạnh nồi bánh chưng hừng hực lửa. Gần đấy có nhiều lá dong và đậu, nếp. Ngước thấy tôi, bà nhắc:

- Con coi cho mẹ vại dưa hành nhé!

Tôi cười:

- … Nhưng sao không nấu lá trước khi gói hở mẹ?

Gạt bớt tro ở lò, mẹ vừa giải thích:

- Lá chín dễ gói nhưng bánh bóc mất xanh con ạ. À, Hạnh ra sau xem gà làm chưa? Tối rồi đấy.

Tôi vòng ra sau thì thấy chị Dung loay hoay xếp gà trên đĩa. Thấy có thớt thịt tôi hỏi chị:

- Lợn ở đâu thế này?

Ngoại tôi đang đánh bóng các đồ thờ, đỡ lời:

- Mình chung bên thím Hai, ông Tư đó con.

Chị Dung đã chu tất mâm cúng, quay sang hỏi tôi:

- Đã dán liễn và tranh chưa, Hạnh?

Tôi phác tay:

- Ngoài cổng, trên tường. Đủ cả.

Mọi việc xong xuôi khi tiếng pháo từ đầu làng vẳng lại. Lập tức pháo khắp nơi thi nổ giòn tan. Chị Dung, bấy giờ xinh xắn trong chiếc áo lụa ngà, ghé bảo em tôi:

- Đức châm ngòi pháo đi.

Thằng em trai lên chín chững chạc với bộ quần áo thẳng nếp, cầm mấy bánh pháo chạy ra cửa. Có tiếng mẹ gọi chúng tôi. Theo thứ bậc, cả nhà kính cẩn lần lượt khấn vái trước bàn thờ tổ tiên. Hương nhang lẫn cùng mùi pháo bốc ra làm tăng vẻ ấm cúng của gia đình. Ngoài cổng, pháo vẫn nổ giòn, xác thắm tung bay phô đầy sân.

Lễ ở nhà xong, mẹ dẫn chúng tôi ra đình cầu phúc và xin xăm. Trong đình, khách hành hương đến thật đông. Khói nhang trầm tỏa từ chính điện càng thêm sự tôn nghiêm cho ngôi đình.

Trước đình cành lá đa rườm rà. Mỗi người thường bẻ một nhánh với tin tưởng lộc hái trong đêm giao thừa sẽ mong may mắn quanh năm. Nhành lộc được đem cắm ở bàn thờ cho đến khi khô héo.

Khi lễ xong, đã sang năm mới. Chị Dung có tiếng là “dễ vía” được chọn xông nhà, mang về cho gia đình sự tốt đẹp suốt năm.

Vào nhà, mọi người thu dọn các thức lại để đi nghỉ. Và gia đình tôi bắt đầu thiếp đi trong tiếng nhộn nhịp ồn ào của đám người đi lễ muộn.

Tờ mờ sớm, tôi đã ra đứng ngoài bờ giậu. Chị em tôi săm soi chăm sóc cành đào Tết. Hoa đào màu đỏ nhạt, giữa những lá mơn mởn rất hợp với tiết cảnh tháng giêng. Xa xa đã có tiếng gà gáy sáng. Chị Dung dắt tôi đi dần ra đầu làng. Nhiều nhà đã thức dậy. Từ xa, tôi thấy bóng tàng cổ thụ im lìm in rõ đậm trên nền trời hơi mờ sương. Quanh ngôi đền cổ, cỏ non trải một màu xanh ngát. Một làn gió thoảng nhẹ, làm rơi mấy cánh mai còn đọng sương lóng lánh…

Mặt trời hé dạng! Những tia sắc đỏ chói tủa rộng dần ra như những sợi chỉ hồng rực rỡ. Dưới nắng ấm vạn vật bừng chỗi dậy sau thời gian dài ủ dột. Người người rộn rã niềm vui, vẻ sung sướng hân hoan lộ trên mặt. Trên cành, tiếng chim ríu ra ríu rít như chào đón ngày xuân đén, mang sắc xuân về trên đất tổ.

Đ.T. 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Nhâm Tý, 1972)

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2015

Chợ Tết - NGUYỄN TRÚC


Con ngõ nhỏ bò trông như con rắn,
Một đoàn người đang nối gót theo nhau
Tiếng cười vang như trộn với áo mầu,
Trông tươi hẳn dưới khung trời đang xuống.

Đám mây trắng bay đi về một hướng,
Đám mây cam còn tíu tít dưới chân trời.
Đám mây hồng không xa lắm hơi hơi,
Gió thổi mạnh từ đồng không mát rượi.

Tre với trúc đầu cành châu lá cọ,
Con đường vang lên vui lẫn âu lo.
Một chốc nữa cả đoàn ra đến chợ,
Tản nhau ra lẫn với kẻ đi vô.

                        *

Cả một khúc đường dùng làm chỗ họp,
Những thức ăn trái quả được bày ra.
Nơi đầu này một chị gái đang ca,
Mời quý khách lại xem hàng dưa hấu.

Ngay bên cạnh hai bà đang đấu khẩu,
Khăn trên đầu được tháo xuống ngang vai.
Lũ trẻ con vui vẻ đứng bên ngoài,
Một cụ lớn bước vào can tất cả.

Bà hàng thịt đang mỉm cười ra giá,
Chú ba tàu vui vẻ nói bô bô.
Bà cụ già xếp chiếc bánh chưng khô,
Đứa cháu cũng rao lên vang một góc.

Bỗng có tiếng trẻ con òa lên khóc,
Miệng chu lên đòi chị ẵm lên xem
Hàng đồ chơi mỗi lúc lại đông thêm,
Anh tuổi trẻ đứng lên khoe các món.

Dăm hàng pháo cũng không tẻ mọn,
Lũ thanh niên xúm lại nói nhau nghe
Pháo “Điện Quang” kia mới thật là ghê,
Như chúng tớ đốt ầm vang mới thích.

Mấy hàng mứt ôi thôi chật ních,
Lũ trẻ con chỉ trỏ hộp đựng sen.
Miếng mứt dừa cong lại ở sát bên
Gừng, khoai, mãng, món nào cũng có.

Thằng bé chỉ chị mua em món đó,
Chị lắc đầu nói nhỏ lại đằng kia.
Thằng bé con thì nước mắt đầm đìa,
Chị vội ẵm không quên cho một đét.

Cứ sóng lượn người người quên cái rét…

Xe mực khô than hồng lên trong bếp,
Khô bỏ vào sực nức mũi mùi thơm.
Chít khăn đen bà cả đang mua nếp,
Chị người làm rỗi rảnh đứng trông nom.

Cụ đồ nho thì giang san một góc,
Người bu quanh nhờ viết hộ đôi câu
Dăm câu đối máng ngay vào nóc,
Cụ gật gù hạ bút viết “sống lâu”

Tiếng heo kêu người nhìn ra anh lái
Vật kêu to, người miệng cũng oang oang
Mùi phân xông lên mọi người ngài ngại
Nhất cụ già giàu mặc áo Tây sang.

                            *

Tôi đi một vòng chép lại thành thơ,
Từ chiều đến tối chưa dứt tiếng cười.
Tôi muốn viết nhiều như lòng tôi mở,
Nhưng vụng quá trời nên đến đây thôi.

                                                         NGUYỄN TRÚC
                                                           (Tết ngày xưa) 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 120, ra ngày 1-2-1974)

Chiếc Vòng Hoa Của Thế Vân - CAM LI N.T.M.THANH


1

Đến bây giờ Mỵ mới tin là cô giáo lớp mình dữ thật, tụi bạn đồn không sai. Mỵ cứ tưởng là đứa nào lười biếng, hư đốn thì cô mới đánh, đó là chuyện tự nhiên rồi. Nhưng cả lúc sáng nay, lúc tập múa, Mỵ đã thấy cô quất cây thước kẻ vào chân của Thùy Mai, lúc nó múa sai nhịp. Trời ơi, Mỵ sợ quá! Thùy Mai dễ thương như vậy mà còn bị đòn, thì chắc cô cũng không tha gì Mỵ, hay Hương, hay Vũ. Lúc Thùy Mai mếu xệch miệng sắp khóc, cô giáo dịu giọng lại:

- Cô nói thì phải nghe, đừng đùa giỡn trong khi tập. Cô muốn các em đoạt được giải nhất trong kỳ thi văn nghệ này, nên cô mới nghiêm khắc như thế. Ráng tập đi, cô thương! Nào, bắt đầu lại!

Mỵ run run múa theo các bạn. Lời dịu dàng của cô làm Mỵ an tâm. Nhưng cái đôi mắt của Thùy Mai đỏ, đôi môi của Thùy Mai mếu máo, cứ làm cho Mỵ thấy nao nao trong lòng. Ráng tập đi, cô thương. Nhưng … cây thước kẻ của cô, eo ơi, Mỵ sợ quá! Mỵ len lén nhìn cô. Cô đã trở lại vẻ hiền dịu cũ. Cô vẫn hiền dịu mà! Cô tận tâm với học trò lắm, ai cũng khen như vậy. Nhưng cũng không ai chối cãi rằng cô đánh học trò đau ghê lắm, đau thấu… trời xanh lận. Mỵ mới đổi trường, nên không được chứng kiến những lần trước. Nhưng sáng hôm qua, cô cho Quốc Hùng năm thước kẻ vào tay. Nó đau điếng, không khóc mà chỉ… ứa nước mắt, rồi về chỗ ngồi, xuýt xoa mãi như ăn phải ớt. Mỵ thì tái xanh mặt mày, còn nhỏ Vũ thì nói nhỏ bên tai Mỵ:

- Đó là nhẹ đấy! Có khi đứa nào phá phách lắm cô còn bắt nằm dài ra cho cô đánh nữa.

Mỵ nhắm mắt. Bây giờ điệu múa đang đến lúc dồn dập, hân hoan. Cả bọn tám đứa răm rắp theo lời cô, bước tới, bước lui. Mỵ tưởng tượng quang cảnh sân khấu tất niên của trường, đèn đuốc chói lọi, màu sắc rực rỡ. Còn khán giả bên dưới thì đông vô kể. Trong đó có ba má Mỵ, có ông Hiệu trưởng, có các thầy cô. Liệu Mỵ có đủ bình tĩnh để múa cho ăn khớp không? Lúc ấy nếu nhỡ có đứa nào quên mất phải làm gì, đứng quê mặt giữa sân khấu, chắc là khôi hài lắm. Đứa đó chắc sẽ được cô thưởng cho… mười cái thước kẻ. Bỗng nhiên Mỵ muốn rút lui khỏi ban vũ này. Mỵ cảm thấy một nỗi lo âu xâm chiếm lòng mình. Mỵ muốn về lớp.

- Các em ngừng lại, nghỉ.

Tám đứa con gái tản ra làm hai nhóm. Cô giáo nói:

- Khá lắm! Chỉ còn vài chỗ lỗi lầm nhỏ. Cô tin tưởng các em sẽ được hạng nhất về vũ. Bây giờ các em về lớp học. Cô sẽ giao cho các trò trai làm cho các em tám cái vòng hoa để múa.

Bọn học trò con gái vừa bàn tán xôn xao vừa trở về lớp học. Tiếng líu lo trong trẻo ấy nhập chung với những âm thanh lao nhao trong lớp thành một đám chợ. Rồi im bặt, khi cô giáo xuất hiện sau cùng ở cửa lớp.

- Im lặng, nghe cô nói đây. Dịp tất niên này, các em gái của lớp mình sẽ múa một bài vũ. Các em ấy sẽ mặc áo đầm trắng và cầm một vòng hoa. Cô muốn có tám em trai nhận về làm tám cái vòng hoa để cho các em gái múa. Tám em trai đó sẽ được thêm điểm hạnh kiểm cuối tháng, miễn là làm cho thật đẹp.

Phiên chợ lại họp. Cả con trai con gái đều xôn xao. Lũ con trai chỉ trỏ nhau, rốt cuộc cũng có sáu đứa nhận lời. Cô chia công việc cho từng đứa:

- Mỗi em mua một khoanh dây kẽm, cuộn tròn lại bằng chu vi một cái nón lá, cột chặt và quấn giấy xung quanh cho bít kín sợi kẽm. Cắt giấy màu xanh làm lá, giấy màu đỏ làm hoa. Lá thì dễ, các em tự kết lấy, còn hoa, em nào không biết làm thì vào lớp cô chỉ cho. À, xem nào… Có sáu trò. Vậy Dũng làm vòng hoa cho Thủy, Sơn làm cho Thu, Toán làm cho Thùy Mai, Anh làm cho Cúc, Đạt làm cho Hương, Lâm làm cho Tuyền. Còn hai trò nữa, ai sẽ làm cho Vũ và Mỵ đây?

Vũ nói:

- Thưa cô, chị em học bên lớp năm, chị ấy biết làm hoa, để em nói chị em làm cho em.

Cô gật đầu:

- Vậy phần Vũ đã xong. Cô cần một em nữa làm vòng hoa cho Mỵ.

Mỵ đưa mắt cầu cứu tụi học trò gái. Nhưng các bạn đều đã có phận sự của cô giáo giao cho hết rồi. Mỵ là học trò mới, chưa quen ai nhiều, làm sao đây?

Cô gọi một bạn:

- Thế Vân! Em làm được không?

Có một đôi mắt bối rối. Và một đứa con trai đứng lên, nói giọng miễn cưỡng:

- Thưa cô… được ạ.

- Sao em không giơ tay nhận làm giúp?

- Thưa cô… em…

- Thế Vân trốn trách nhiệm nhé! Thôi, còn vòng hoa của Mỵ cô giao Vân làm, nhớ phải xong cho ngày mốt tập lại.

Đứa con trai “dạ” rồi ngồi xuống. Mỵ len lén nhìn qua. Biết Thế Vân là đứa ngồi ngang với mình ở dãy bên kia. Biết Thế Vân là đứa con trai học giỏi nhất lớp. Biết Thế Vân là kẻ thường bày cho bạn bè nhiều trò chơi thú vị. Nay biết thêm Thế Vân là kẻ kiêu hãnh, khinh người…“một cây”. Thế Vân biết làm vòng hoa mà không nhận làm, để Mỵ phải đứng bơ vơ, để cô giáo phải chỉ định rồi mới “ậm ừ”. Ghét quá! Ghét quá! Người đâu mà hách dịch quá! Tự nhiên nước mắt lưng tròng. Mỵ muốn khóc. Mỵ muốn đi về nhà.


2

Mỵ đến lớp trễ. Nhưng cô giáo đi đâu vắng. Mỵ tìm Vũ. Nó cũng đã đi ăn quà với bạn. Mỵ nhìn thấy trên bàn cô giáo mấy cái vòng hoa xơ xác. Mỵ đến gần để xem. Chỉ có bảy cái vòng hoa. Nhưng nào phải là vòng hoa! Có cái là một khoanh dây kẽm trơ vơ. Có cái đã được dán giấy… nhật trình. Có cái được kết lơ thơ vài cái lá. Mỵ nghĩ thầm: Bọn con trai chỉ biết ăn hại, làm vòng hoa thế này ai mà dám cầm để múa. Chỉ có duy nhất một cái vòng hoa xinh xắn, tròn trịa, dán giấy xanh thật chắc chắn xung quanh, kết tám cái lá răng cưa thật đều, xen kẽ với tám cụm hoa màu đỏ thật dễ thương. Ai là tác giả của vòng hoa này? Mỵ đếm kỹ lại. Vẫn chỉ có bảy chiếc vòng hoa. Vậy thì chắc chắn cái vòng hoa xinh xắn này là của chị Vũ làm cho Vũ rồi! Sáu cái kia là do sáu đứa con trai “có thiện chí” làm. Và một cái không có mặt trên bàn cô giáo là của Thế Vân. Nó đã trốn trách nhiệm, không làm cho Mỵ rồi! Mỵ quay mặt đi. Mỵ nghẹn ngào. Biết thế Mỵ đã xin cô cho Mỵ tự làm lấy vòng hoa, khỏi nhờ đến Thế Vân. Thằng nhỏ phách lối, khó thương ấy, sao Mỵ ghét nó quá!

Bảy cái vòng hoa! Thiếu một vòng hoa của Thế Vân! Thiếu một vòng hoa của Mỵ!!!

Thùy Mai cầm một cây kem đi đến gần Mỵ, nói:

- Cô cho nghỉ giờ Công Dân. Cô đi họp ở văn phòng. Mỵ đi chơi đi!

Mỵ buồn bã:

- Đi đâu?

- Đi ăn quà. Đi đâu cũng được, nhưng cô cấm đến gần mấy lớp khác.

Thùy Mai lại cặp tay đứa bạn chạy đi. Mỵ lững thững bước ra sân. Mỵ cảm thấy lẻ loi, cô độc quá! Tụi bạn vui vẻ ghê, sao chẳng có ai để cho Mỵ chơi? Mỵ muốn về trường cũ. Trường cũ bây giờ chỉ còn là một tòa nhà ủ rũ dưới đám lá âm u. Mỵ muốn tìm vui ở đây. Nhưng Thế Vân! Chính Thế Vân đã làm cho Mỵ biết rằng không có ai muốn vui với Mỵ.

Mỵ bỏ xa đám bạn bè đang chơi đùa với nhau ở sân gạch. Nơi hành lang trước các lớp học, Mỵ dừng lại và tìm thấy có một sự yên lặng. Mỵ đứng yên ở đó. Cô giáo cấm không cho đến gần trong khi các lớp khác đang học. Nhưng Mỵ cũng biết kia là lớp nhất, kế đó là lớp luyện thi đệ thất. Mỵ nhìn thấy những mái đầu chăm chỉ, những đôi mắt lo âu. Họ là các anh chị lớn nhất trường đấy. Sắp Tết đến nơi rồi mà cô thầy cũng bắt học thật nhiều. Ít thấy họ tập dợt múa hát. Mỵ mỉm cười. Màn vũ của lớp mình có hy vọng chiếm hạng nhất.


3

A! Cái bóng của ai như là Thế Vân. Từ bên hông lớp nhất, Thế Vân rón rén bước chân đi ra, tiến về phía Mỵ. Mỵ lùi lại. Thế Vân chắc không thấy Mỵ. Nó chạy biến ra sân. Mỵ nhìn theo, ngơ ngác. Sao cô đã cấm, mà Thế Vân dám chạy qua lớp người ta? Để làm gì? Thế Vân nghịch ngợm có tiếng đấy! Chắc sắp có chuyện gì xảy ra rồi!

Mỵ quay lại, nhìn theo cái bóng Thế Vân biến mất trong bọn con trai đang chuyền banh ở đàng xa. Và ở đó, có hai cái nơ đỏ hí hửng của Vũ đang chạy lại. Vũ cười khi vừa thấy Mỵ:

- A! Mỵ! Lại nói cho nghe cái này!

- Gì vậy?

Vũ chìa cho Mỵ một cái kẹo, khoe:

- Chị của Vũ làm cho Vũ một cái vòng hoa đẹp lắm!

- Biết rồi!

- Ai nói cho Mỵ biết?

Mỵ buồn bã:

- Biết chứ! Chị của Vũ khéo tay có tiếng.

Chợt… “Đùng ! Đùng! Đùng!”. Ba tiếng nổ làm Mỵ và Vũ hét lên. Cả trường xôn xao như chợ vỡ. Tiếng nổ phát ra từ phía lớp nhất. Vũ run run nói:

- Tiếng pháo! Đứa nào đốt pháo!...

Cô giáo xuất hiện trên sân, nói lớn:

- Các em về lớp hết.

Lũ trẻ líu ríu nối đuôi nhau về lớp, im thin thít. Cô bước lên bục, nghiêm sắc mặt:

- Các em ngồi yên đó, cô ra coi tại sao lại có tiếng pháo.

Nhưng một cái bóng con gái xuất hiện trước cửa lớp khiến cô ngạc nhiên. Cô hỏi:

- Em nào đó?

- Thưa cô, em là Chi, học ở lớp nhất ạ.

- Có chuyện gì vậy?

Đứa con gái e dè bước vào, vừa đi lại bàn cô giáo, vừa nói run run:

- Thưa cô, em muốn thưa cô là… có trò bên này lén qua lớp em đốt pháo rồi bỏ chạy.

- Ai vậy?

- Thưa cô, trò Thế Vân.

Cô giáo sửng sốt:

- Thế Vân?... Có lý nào!

- Thưa cô, chính mắt em thấy trò ấy lui cui cột cái gì đo đỏ ở kẹt cửa rồi chạy ra xa đốt cái ngòi. Rồi trò chạy. Kế đó là ba tiếng nổ.

Thế Vân đứng lên, cãi:

- Đâu có! Thưa cô, em không hề đi ngang qua lớp nhất bao giờ.

- Thưa cô, chính trò Thế Vân này cũng hay qua lớp em bắn bì… Mà trò ấy bắn vào tụi em… đau lắm ạ!

Cô giáo nhăn mặt:

- Thế Vân nhiều tội thế? Thế Vân dám phá phách cả với các anh chị lớp nhất à?

Thế Vân đáp:

- Chị ấy nói dối đó cô! Em không hề phá lớp nhất.

- Thưa cô em thấy rõ ràng…

- Để cô suy nghĩ coi… một mình em nói làm sao cô tin được? Nếu chính Thế Vân đã đốt pháo, thì cô sẽ trừng phạt nó để làm gương. Nhưng ngoài em này ra, ai đã thấy Thế Vân đến trước cửa lớp nhất?

Đôi mắt cô giáo nhìn khắp lớp học, bén như dao. Mỵ cúi xuống tránh tia mắt đó. Không khí rờn rợn chờ đợi một câu trả lời.

Bỗng cô giáo quát lớn:

- Ai?

Đồng lúc đó, cô lại gõ mạnh cây thước kẻ lên bàn. “Rầm!”. Cả lớp giật bắn mình. Mỵ hoảng hồn thốt lên:

- Dạ em!...

Lưỡi Mỵ quíu lại. Nhưng cô đã nghe mất rồi! Trời Phật ơi! Mỵ biết phải làm sao?

Cô giáo ra lệnh:

- Mỵ đứng dậy!

Mỵ làm theo, sợ sệt nhìn cô. Cô hỏi:

- Em thấy Thế Vân làm gì?

- Thưa cô, em chỉ thấy Thế Vân chạy từ bên hông lớp nhất ra sân.

- Vậy là đúng rồi! Thế Vân có chối cãi nữa không?

Thế Vân cúi đầu. Nhưng Mỵ thấy có cả một ánh mắt trách hờn nhìn qua. Cô cho đứa học trò lớp nhất đi về. 

Vài tiếng xôn xao nhỏ phải im khi cô bắt đầu từ trên bục bước xuống. Không nói, cô cầm cây thước chỉ vào những quyển vở để trên bàn đầu. Ba đứa con gái líu ríu đứng dậy, thu xếp sách vở bút mực và ôm xuống bàn dưới. Cô gọi Thế Vân:

- Thế Vân! Lại đây.

Cô chỉ lên cái mặt bàn nhẵn bóng:

- Nằm lên!

Mỵ ngơ ngác nhìn cô, nhìn Thế Vân, nhìn Vũ... Những gương mặt học trò như cứng ngắc, chờ đợi. Mỵ cắn chặt môi khi thấy Thế Vân leo lên nằm trên bàn. Cô truyền lệnh:

- Quốc Hùng! Đi bẻ một cành cây chắc.

Thời gian Quốc Hùng đi bẻ cây là thời gian tê điếng lòng Mỵ. Mỵ nhìn thấy sự tàn nhẫn của mình, dù là sự tàn nhẫn vô tình vì sợ sệt. Nhưng có phải đó là do sự việc Thế Vân không làm cho Mỵ một chiếc vòng hoa? Thế Vân ơi! Mỵ không ghét Thế Vân một tí ti nào. Mỵ mến Thế Vân lắm. Vì Thế Vân học giỏi, vì Thế Vân thường bày trò chơi cho các bạn, vì Thế Vân hay mở cái hộp vuông màu đỏ cho cả lớp nghe có tiếng nhạc thánh thót, thánh thót. Mà Mỵ thì cũng ham học, cũng ham trò chơi, và cũng ham nghe nhạc nữa. Nhưng sao Thế Vân lại nghịch? Nhưng sao Thế Vân lại khinh khi Mỵ để chẳng làm cho Mỵ một cái vòng hoa, dù chỉ là một khoanh kẽm? 

Quốc Hùng đem vào một cành cây đưa cho cô. Cô uốn thử trong tay. Cành cây chắc, dẻo. Cô nói với cả lớp:

- Cô muốn lần này là lần chót các em thấy cô trừng phạt Thế Vân. Cô không muốn một em nào trong lớp của cô có những hành động đáng ghét như vậy. Thế Vân! Chừa nhé!

“Vút! Vút!”. Mỵ nhắm mắt lại. Mỵ đâu muốn có cảnh này. Nhưng không nghe Thế Vân khóc. Nhưng mở mắt ra, Mỵ thấy Thế Vân rướn mình như muốn ngồi dậy. Mỵ ù cả hai tai. Đến tiếng “vút” thứ ba, Mỵ bật khóc:

- Cô ơi! Em lạy cô! Cô đừng đánh Thế Vân nữa!

Rồi Mỵ nức nở như người phạm tội. Cô buông roi, nhìn Mỵ ngạc nhiên. Ý chừng cô chưa hề gặp một đứa học trò dễ xúc động như thế này. Nhưng tiếng khóc đã làm cô dịu lại. Cô hiểu. Và khe khẽ, cô bảo Thế Vân:

- Thế Vân, bước xuống, về chỗ ngồi.

Mỵ vẫn nức nở. Thế Vân ngồi ngang với hàng ghế của Mỵ. Mỵ muốn trốn một tia mắt trách móc. Sao có tia mắt ấy?... Cô cho ba đứa con gái bàn đầu trở về chỗ, và tới bên bàn, nơi có bảy chiếc vòng hoa. Cô hỏi:

- Em nào đã làm cái vòng hoa lười biếng này? Toán hở? Còn cái vành nón lá xác xơ này là của ai? Sơn hở? Chao ơi! Học trò của cô lười ơi là lười, nhờ một chút không xong.

Vũ bỗng đứng dậy:

- Thưa cô , cô cho phép em chạy qua lớp của chị em để lấy cái vòng hoa chị em đang làm lở dở.

Mỵ ngước mặt lên ngạc nhiên, ngạc nhiên đến quên cả khóc.

Và Vũ trở lại, xách theo một chiếc vòng hoa. Nhưng cái vòng hoa này không đẹp bằng cái vòng hoa nằm trên bàn của cô. Cô cầm vòng hoa của Vũ lên, khen:

- Đẹp! Nhưng cái này đẹp hơn. Của ai làm đây?

Cả lớp xuýt xoa khi cô cầm cái vòng hoa có tám cái lá răng cưa và tám cụm hoa màu đỏ tươi giơ lên cao. 

Cô hỏi nữa:

- Của ai đây?

- Dạ… của em.

Ôi, là Thế Vân! Là Thế Vân sao? Chiếc vòng hoa của Thế Vân! Chiếc vòng hoa cho Mỵ! Hèn gì có tia mắt trách móc. Ở bên này, cô bé lại bật khóc thành tiếng thánh thót, thánh thót như tiếng nhạc trong chiếc hộp vuông. Còn ở bên kia, cậu bé Thế Vân vừa cười sung sướng vừa xoa hai bên mông suýt cháy nát.


4

Sau hôm đó, cô giáo của chúng ta không còn đánh học trò nữa.

Buổi tập múa, Mỵ sung sướng cầm chiếc vòng hoa của Thế Vân. Còn trừ Vũ, sáu bạn kia phải cầm vòng hoa bằng dây kẽm xấu xí. Cô phải nhờ chị của Vũ giúp làm lại sáu cái vòng hoa. Còn Mỵ vẫn giữ cái vòng hoa của Thế Vân cho đến hôm trình diễn tất niên. Màn vũ của lớp được chấm hạng nhất. Cả trường khen ngợi. Nhưng Thế Vân có biết nỗi vui mừng của Mỵ là gì không? Là hiểu được rằng Thế Vân đâu có khinh người. Thế Vân tốt bụng lắm, chỉ phải cái bệnh hay nghịch ngợm. Nhưng như thế mới là con trai, Thế Vân nhỉ!

Mỵ lại đổi trường, cuối năm ấy. Cũng như có cái “huông”, suốt bảy năm trung học, Mỵ đổi trường tất cả bảy lần.Vì thế được học nhiều thầy, quen nhiều bạn, cảm nhận đủ điều hay lẽ xấu. Không còn gặp lại Thế Vân một lần nào. Có khi cũng quên mất Thế Vân, quên mất chiếc hộp vuông có tiếng nhạc tính tang, quên trận đòn của Thế Vân, quên chiếc vòng hoa cho Mỵ.

Nhưng sáng nay, nhìn thấy trên chiếc xe GMC đậu lại trước cổng nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, chất đầy những chiếc vòng hoa cườm tím ngắt, chợt liên tưởng đến chiếc vòng hoa ngày thơ dại, Mỵ muốn khóc khi nghĩ đến một khuôn mặt đáng mến mà mình đã không còn gặp lại. Thế Vân bây giờ vui, buồn, sướng, khổ, còn sống, hay đã chết Mỵ đâu có biết. Nhưng điều mà Mỵ muốn nói với Thế Vân là, tình bạn ngày còn nhỏ quý‎ giá vô cùng, ngây thơ vô cùng. Và Thế Vân ơi! Chiếc vòng hoa của Thế Vân là kỷ niệm dễ thương để cho Mỵ suốt đời tưởng nhớ.


Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh 

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa, số 231, Tết Ất Mão, ra ngày 25-1-1975)

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

Tết quê nhà - TRANG VY



1 – Mùa xuân hồng này ta thêm một tuổi mới bao dung. Một chút bâng khuâng xa đưa qua hồn chim phiêu du về đậu trên cành hương xưa của khu vườn tuổi ấu thời.
Ơi chừ có nghe trăm nỗi thương nhớ ngút ngàn, những kỷ niệm của tháng ngày hồng xưa trở về thật đầy ắp trong một đời mộng tưởng của trí nhớ hoài niệm.

2 – Mười mấy năm rồi, hồi còn niên thiếu nơi quê ngoại. Thuở còn là cậu học trò lớp ba thơ dại hồn nhiên cắp sách đến trường làng, nghe thật xa vời.
Nhớ những mùa xuân xưa lúc ta còn bé, trong lòng rộn rã vô cùng một niềm vui mới chớm : Tết đến ! Thật nhiều mong đợi của tuổi nhỏ từ ngày rằm tháng chạp với lần đứng nhìn chú ba suốt lá cây mai trước sân nhà. Cây mai già trụi lá trơ những cành gầy guộc khẳng khiu trong nắng chiều và trong những ngày sắp tới sẽ trổ nụ nở đầu xuân.

3 – Rồi những ngày trong nhà nhộn nhịp hẳn lên, mẹ và chị hai bận rộn với mãng cầu, dừa, bí, gừng, me mà mẹ mua ngày chợ phiên. Chừ ta vẫn còn nhớ mãi hương vị mứt mới đậm đà biết mấy. Những tràng mứt phơi dưới nắng như những vòng tròn xanh đỏ vàng bày khắp sân, những buổi trưa ngồi học bài ở hiên nhà len lén chạy ra bốc một nắm cho vào túi. Thích nhất bao giờ cũng là mứt gừng ngọt dịu dàng pha một chút cay the.

4 – Ông thầy giáo già của ngôi trường làng cho bọn học trò liên hoan từ hôm hai mươi tháng chạp. Thuở nhỏ Tết đến ta thường đi tết thầy. Cành mai, hộp trà, chai rượu gói trọn tấm lòng kính mến của học trò nhỏ. Bao tục lệ cổ truyền đáng yêu của dân tộc vẫn tồn tại mãi trong lòng người dân quê. Chiều hăm ba pháo nổ vang vang trước ngõ đưa tiễn ông Táo về trời tâu nhỏ tâu to cùng Ngọc Hoàng, những chuyện trong năm từ tết năm xưa cho đến bây giờ.

5 – Cu kêu ba tiếng cu kêu
Cho mau đến Tết dựng nêu ăn chè

Từ những ngày đầu tháng chạp ta đã chờ đợi và lắng nghe tiếng chim kêu để được ăn chè. Ôi một tuổi ấu thời ngát hương hồn nhiên thơ ngây. Thật hớn hở bước chân sáo theo chú ba ra lũy tre làng chặt một cây tre già về dựng nêu ngày Tết. Buổi chiều ta ăn chè đứng nhìn ngọn nêu mới trồng trước sân nhà cao ngất nghểu, lá bùa đỏ viết mấy chữ nho phất phơ trong gió chiều. Trí óc non nớt của tuổi nhỏ vẫn có một sự tin tưởng thành kính ở lá bùa có quyền lực xua đuổi ma quỷ.

6 - Ở trong làng từ hôm đưa ông Táo đã có một không khí tết nhất bao phủ. Mọi nhà bắt đầu sửa sang sơn phết đón Tết, lòng người dân quê đượm một chút nao nao. Chú ba làm vườn đem bộ lư đồng ra hiên nhà cặm cụi đánh bóng. Màu đồng xám xịt trở nên sáng choang phản chiếu gương mặt của “cậu học trò trường làng” đang đứng trầm trồ khen ngợi. Cha ta kính cẩn dán trước cửa nhà hai câu đối chữ nho – màu đen nổi bật trên nền giấy hồng – mà cụ đồ Nhiêu đem tài họa phả vào ngọn bút lông như rồng bay phụng múa.

7 – Ngày cuối năm không khí buổi sáng thật êm dịu và thoang thoảng mùi Tết. Cây mai trước nhà ươm đầy những nụ hàm tiếu màu xanh non thật dễ thương. Vài cánh hoa nở sớm lung linh theo gió mai. Liếp vạn thọ ra bông thật nhiều vàng ối cả một góc vườn sau. Lá chuối xanh thật xanh – màu xanh hiền hòa thanh bình của quê hương – được rọc ra trải trên bộ ván. Nếp, đậu xanh, những sản phẩm thuần túy dân tộc nhất của ngày Tết, được mẹ và chị hai gói thành những đòn bánh tét xinh xắn, đậm đà tình quê hương thiết tha. Ơi ! Chừ ta vẫn còn nghe thật nhiều bâng khuâng.

8 – Tối ba mươi trời đen như mực ta ngồi cắn hạt dưa bên cạnh bếp lửa nấu bánh chờ đón giao thừa. Ngọn lửa tí tách reo vui. Giọng chú ba đều đều say mê theo pho truyện Tam Quốc. Ông ngoại nằm trên võng đong đưa nhâm nhi chén trà mạn sen bốc khói kể cho con cháu nghe những ngày Tết xa xưa. Hương yêu gia đình đoàn tụ thơm ngát ấm cúng vô cùng.
Giao thừa, năm hết Tết đến, người người hân hoan trăm nỗi vui mừng. Ông ngoại đốt một tràng pháo dài trước hiên nhà mừng năm mới. Tạch đùng, tạch đùng, tiếng pháo nổ vang khắp nơi. Ta vỗ tay vui cười thích chí lẫn trong làn khói trắng và tia chớp vàng rực xác pháo rơi đỏ tươi cả sân gạch tàu.

9 – Sáng đầu năm ta dậy thực sớm, xúng xính quần áo mới theo bà ngoại đi lễ chùa. Hương trầm bát ngát, người đông như hội. Ta ngoan ngoãn bên cạnh bà lễ lộc khấn vái nguyện cầu một năm mới được mùa sung túc. Lễ xong hai bà cháu ra sân chùa hái một nhánh lộc non xanh, sự may mắn thịnh vượng trong năm mới.
Pháo chuột, pháo tre nổ đì đùng, xác pháo rơi đỏ khắp làng xóm. Người dân mình thích màu đỏ cho những ngày Tết nhất – màu đỏ là sự sung túc của năm mới.
Ta quỳ lạy nghiêm trang trước bàn thờ tổ tiên khói hương nghi ngút, tưởng nhớ công ơn của các bậc tiền nhân. Tuổi nhỏ thật ngây thơ ngoan hiền câu mừng tuổi ông bà, cha mẹ, cô bác họ hàng. Và thật vui mừng với những đồng bạc cắc xóc xóc trong túi nghe vui tai, những phong giấy đỏ đựng tờ bạc mới còn thơm mùi giấy lì xì cho con cháu ngày Tết.

10 – Ngày mùng một cử quét nhà hốt rác, giờ ta thấy tập tục đó đáng yêu vô ngần. Mai nở rộ vàng óng ả giữa bầu trời xuân quyến rũ thật nhiều ong bướm xôn xao. Ngọn nêu cao vòi vọi bay bay theo gió, trong sắc nắng xuân sớm ngại ngần.
Ôi mùa xuân thanh bình cho quê hương ta đơn sơ mộc mạc thiết tha và đậm đà thâm tình dân tộc.

11 – Thật nhiều rộn ràng ba ngày Tết no đủ với thèo lèo, bánh mứt. Ta cắn hạt dưa đỏ hồng cả đầu ngón tay, lâu lâu hớp một ngụm trà tầu nhâm nhi ra vẻ người lớn.

Thịt mỡ dưa hành, câu đối đỏ
Nêu cao tràng pháo, bánh chưng xanh

Ngày Tết quê ta không thiếu thức gì. Cũng thịt kho, dưa giá bùi bùi, cũng bánh tét cắt từng khoanh bằng sợi lạt thơm ngon. Bánh chưng chỉ có ở những nhà người Bắc mà thôi. Dưa hấu da xanh mịn màng, xẻ đôi xẻ năm ruột đỏ đậm đà. Xôi vò, cơm rượu, rượu nếp than thơm nồng ngát hương xuân.

12 – Ngày xuân trong làng có hội hè đình đám nhộn nhịp vô cùng. Thiên hạ quần áo mới lượt là vui chơi ngày Tết. Những đám cờ bạc, xóc đĩa, bầu cua tụ năm tụ bảy từng đám đông ồn ào dọc theo bên lề con đường làng trải đá. Tiếng pháo chuột của bọn trẻ trong làng nổ đì đẹt vui tai suốt cả ngày. Ta cùng với mấy đứa bạn rủ nhau đi xem múa lân ở đình làng, chiêng trống thùng thùng náo nhiệt vui vô kể.
Tối đến đình làng có hát bội. Người đông như nêm, chú ba chen mãi mới giành được một chỗ đứng gần nơi diễn tuồng. Cuộc vui thường kéo dài đến khuya và ta đã ngủ gật trên lưng chú ba.
Gió xuân phảng phất trên làng xóm, lòng ai ai cũng nhẹ nhàng thư thái, hân hoan một nỗi reo vui. Ta theo cha đi xông đất bà con bằng hữu trong làng. Những lời chúc tụng vang vang, tiếng cười đùa rộn rã.

13 – Những ngày Tết trôi qua thật vội vã, thấm thoát mà đã mùng bốn rồi. Không khí Tết nhạt dần. Bánh mứt đầy vơi. Trong làng ngày mùng bảy hạ nêu, chú ba đốt một phong pháo tiễn xuân. Người dân làng trở về với cuộc đời bình dị hiền hòa bên lũy tre xanh. Ta đứng trông theo, bao luyến tiếc thật đầy ắp trong lòng, vẻ ngẩn ngơ in hằn trên khuôn má thật thà của cậu bé học trò trường làng ngày xưa.
Mười mấy năm trôi qua, hương yêu cũ ngút ngàn, chừ nhớ lại ta thấy tiếc những ngày xưa còn bé, những ngày niên thiếu ngát hương ấu thời như một chỗ nghỉ chân chim đậu. Bây giờ là mùa xuân hồng trên quê hương yêu dấu, bước chân chim gõ xuống cuộc đời, thật nhiều bâng khuâng, đôi chim sẻ hồn nhiên ríu rít đón chào mùa xuân mới trên ngọn cau đầu làng. Ôi làng quê thanh bình mộc mạc, lũy tre bờ giậu và những ngày Tết quê nhà yên vui xa xưa. Nắng tháng giêng đong đầy trong đáy mắt nhớ thương…

TRANG VY
(Trần Thượng Thái)
Bút Nhóm Hoa Nắng
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa 193 - 194 xuân Quý Sửu, 1973)
Tư Xuân . Bìa của Vivi

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015

Mèo Già Hóa Cáo - PHAN KHƯƠNG THÁI

Ảnh : Tuan_lionsg

Mụ kiên nhẫn ngồi thu lu nấp sau bụi hoa dạ lý hương. Mùi phân vịt của chuồng cạnh kề nồng át. Cửa chuồng toang hoác. Lũ vịt đi tắm mãi tận ao hàng xóm. Tụi gà con xục xạo “chíp chíp” ỏm tỏi. Vài đứa chỉ chực băng vào chuồng vịt. Nhưng chị gà mái dè dặt và đáo để. Chị “tục tục” réo gọi mấy đứa tò mò háu đói. Có lẽ chị linh cảm chuyện gì ghê gớm sắp sửa xảy ra. Chuyện phải đến rồi cũng đến. Mụ không nén nổi cơn đói hoành hành cái bao tử lép xẹp nên vút ra. Chị gà mái chỉ kịp thấy vệt vàng sậm táp nhanh hai khối tròn vàng tươi và phóc sang bụi tre gai. Chị gà mái thảng thốt la cầu cứu vang sân vắng. Phụ họa chị có tiếng lũ con nhốn nháo, đứa thì chạy tản ra, đứa thì chụm lại dưới cánh bà mẹ lơ đễnh. Chị gà mái băng băng định rượt theo con vật kẻ thù. Tiếc thay chị không có được khứu giác bén nhạy. Chị mất dấu từ chỗ hàng rào. Dòng máu rơi rớt từ những cái cổ non xinh nõn nà chợt đứt quãng trên bờ đất đen. Chị gà mái dừng lại và ngơ ngác. Một đám ngơ ngác kéo theo đuôi. Tụi nhỏ lại bàn cãi nhau và giành giựt một con giun chỉ. Chúng chẳng cần biết vừa mất hai đứa trong bọn. Mà nếu có biết ư? Càng tốt, đỡ hai miệng ăn!!!

Giá mà chị gà mái chịu khó thêm một đoạn đường nữa. Quanh co lối tẩu thoát dẫn đến một gò nổng, có một cửa hang, sâu thẳm. Trong đó có mụ già đang nhấm nháp với bữa ăn ngon. Từ những khe, hốc tụi kiến đen rủ nhau len vào đám lông tơ mịn màng, là những gì còn sót lại sau cái liếm mép của mụ già.

Mụ già vẫn chưa no. Mon men mụ trở lại đường cũ. Có tiếng chó sủa bâng quơ. Mụ chỉ kịp nhìn thấy cửa chuồng vịt đóng chặt thì vội rút lui. Lũ vịt cũng đã thấy mụ. Chúng la báo động hỗn loạn. Mặc chúng, chị người làm nhanh tay xắt chuối cây nhanh hơn. Chị tưởng vịt đang đói. Con dao phay trên tay chị bén ngót. Tiếng thép chạm vào thớt gỗ me nghe lạnh lùng. Lạnh lùng như tiếng sủa của gã chó cao lớn và thính hơi. Mụ lì lợm lẩn quẩn gần đó tìm lũ gà, không sợ sự canh tuần của gã chó Đức. Cái ngữ lớn xác ấy chỉ tổ vướng víu bởi lùm bụi và cây cối um tùm trong vườn. Vả lại mụ có thể trèo cây nếu cần, tuy rằng móng vuốt của mụ đã có vẻ cùn vì thời gian.

Mụ già chợt thụp mình và xoay chạy. Mụ leo quýnh lên cây xoài lão. Dưới gốc gã chó Đức ỏm tỏi. Cặp mắt sáng quắc của gã cố chọc thủng bóng đêm dần đổ ập xuống vạn vật. Trên một chạc ba, 2 đốm mắt xanh lè của mụ già láo liên, lo lắng tìm lối thoát. Chị người làm phân bua với chủ nhà đang túa ra:

- Con chồn… Cha chả, con chồn thiệt là lớn. Chính nó đã bắt trộm gà vịt lâu nay.

- Mà mày thấy rõ không đó? – Bà chủ gay gắt hỏi gặng lại.

- Rõ ràng con chồn mà. Xóm trên hổm rày họ báo động có cáo về…

- Xóm trên họ ở gần rừng, mày đừng ẩu.

Ông chủ nạt cô tớ.

- Thiệt mà, hay là con chồn cáo. Ông bà chủ không nghe có đứa con nít mới biết đi chập chững vừa bị nó cắn cổ chết tươi?

- Mày sao ưa nhập chuyện nọ qua chuyện kia quá đi. Đứa nhỏ bị rắn hổ hành cắn chết, chứ chồn cáo gì mà cắn người ta.

Chị người làm vẫn bênh vực lý lẽ của mình:

- Con nhất định là con chồn cáo. Mấy cái ổ gà đẻ của mình cứ mất trứng hoài hà.

- Mày phải biết rắn hổ hành mới là ghê hơn. Mình nó tiết ra mùi hôi khiến gà vịt sợ và nín khe, nó tha hồ bắt gà vịt nói gì ba cái trứng.

Bà chủ tiếp lời chồng:

- Mày coi mấy cửa nẻo chuồng gài cho cẩn thận. Biểu mấy em chơi trong nhà. Còn con Lu này nữa, đi vô. Mày xích cổ nó, để rủi rắn cắn thì toi con chó quý.

Mà gã chó quý thật. gã học trường nọ ở Sàigòn trọn khóa, đủ môn như nhảy cao, nhảy vòng, nhảy rào, sẵn sàng giữ nhà, nghe hiệu lệnh để bắt trộm… Có lẽ trừ môn bắt rắn thì chưa mà thôi.

Mụ già nghe chừng êm, tuột xuống, trong lòng ấm ức. Bây giờ mụ đảo sang khu vườn bên. Mấy cặp ngỗng gan góc “cà kíu” vươn cổ hầm hừ. Mụ nhịn nhục thầm nghĩ:

- Hừ! Sợ gì cái bọn a dua, mụ chỉ lo chủ nhà hay biết, họ sẽ theo dõi tận hang ổ.

Và mụ lững thững trở về, chẳng cần ẩn giấu thân mình. Vài chú dơi bay chập choạng. Trên ngọn cây gòn, gã cú heo đập cánh di động theo lộ trình của mụ. Đã đến giờ của bọn ăn đêm hoạt động. Thình lình gã cú heo sà xuống mổ nhanh. Mụ già may mắn tránh được nhờ ánh trăng non in bóng gã cú. Gã tưởng lầm mụ già là một chú thỏ béo hay chú cầy hương nhát nhúa. Mụ già lùi về gốc gòn thủ thế, miệng gầm gừ trả đũa. Gã cú heo lỡ bộ xớt ngang đợt nữa và mụ già cũng phản công hụt. Hai địch thủ gờm nhau trong tư thế dị kỳ. Cuối cùng gã cú heo bỏ mục tiêu bay mất.

Mụ già xoay ý nghĩ về chỗ ngụ. Nơi đó mụ sẽ phải đối phó với một ông lão ăn xin đáng ghét. Ông lão ban đầu ngủ tạm trên nền cái mả hoang. Dần dà che căn chòi nhỏ sơ sài bằng ba mớ thùng giấy. Ông lão hấp dẫn một số trẻ con nghịch ngợm. Trẻ hay rượt để chọc “ông già điên”. Trái lại ông già thật hiền, đi xin ăn và lượm mót ở mấy đống rác suốt ngày. Mụ không thể chấp nhận ông láng giềng bất đắc dĩ nầy được. Bởi vì mụ đào ngách vùng này trước. Thuở vùng này còn là rừng thưa, nay đã thành trảng sụp. Thỉnh thoảng ông láng giềng gặp mụ trong khuya khoắt. Ông lão hấp háy cặp mắt mờ và thản nhiên xua xua cây gậy tre láng bóng. Và mụ dĩ nhiên chẳng bằng lòng cử chỉ ấy chút nào. Dù rằng đôi khi mụ phải nhờ vả đến ông lão. Chẳng qua là vì “miếng ăn là miếng tồi tàn”, mà lúc quá đói mụ đành phải lén tha xương cá, xương gà… về liếm láp. Mụ tự biện hộ cho hành vi ấy : “ Có sao, thứ cặn thừa ông lão hốt vét của thực khách ở tiệm cơm kia mà”.

Riết rồi mụ phải bám vào ông lão để sống ký sinh. Có những hôm trời mưa tầm tã mụ rúc trong hang âu sầu. Chốc chốc lại ló ra cửa hang trông chờ ông lão. Càng ngày mụ càng gầy rạc, người càng yếu. Mà càng yếu lại càng khó tự kiếm ăn. Lại càng mất sức càng đói hơn. Cho đến một hôm… Ông lão về sớm hơn lệ thường. Mụ thấy ông lôi từ trong cái bị rách một con gà quay vàng cháy thơm nức mũi. Chắc hẳn của ông lão mua bằng tiền đi xin dành dụm bấy lâu. Ông lão loay hoay với thẻ nhang và một cốc rượu đế. Mụ thấy ông lão trầm ngâm khấn vái, rồi ông lão gục đầu vào đôi tay răn reo khóc nức nở.

Ăn nhằm gì mụ, mụ chỉ liên tưởng đến lằn da nứt ra vì lửa than của con gà đang khiêu khích. Con gà nằm vô duyên trên mấy lớp nhật trình cũ mèm. Mụ cuỗm nhẹ con gà và lôi tuột vào hang. Nước miếng của mụ ứa ra. Hai hàm răng cái còn cái mất run rẩy. Mụ nhủ thầm : “ Con gà đã chết, mình đừng cảm xúc vì mấy tháng nay mới được chén một tiệc no đủ như vậy chứ. À, ông già, chắc ông ta sẽ trở ra phố xin thêm. Chao ôi! Ai mà tốt bụng rộng rãi với ông già quá?”

Như nắng hạn gặp mưa rào, con gà chỉ mới lưng bụng mụ già. Mụ thèm thuồng trổ một ngách hang khác chui ra. Ông lão không đến nỗi ngốc đang bực tức dùng gậy quậy cửa hang chính, rành rành giọt mỡ tươm đóng cục mà tụi kiến nhỏ hả hê đánh chén.

- Con quái chắc chén no nê. Đồ “chết đói” gì đâu. Có ngày người ta đập “chết dịch”. Không nhờ lão, bọn trẻ nó hun khói thì cũng “chết cháy” rồi.

Rồi ông lão ngừng rủa “con quái”, ngồi thừ ra kể lể với kỷ niệm, ôn lại chuỗi ngày xưa còn bên vợ bên con. Ông lão lè nhè. Cốc đế cạn nhanh. Lâu ngày mới nhậu, lại mất toi mồi nhắm dằng dai.

Mụ tránh ngõ quen và lần vào xóm. Chà, mới vắng mặt có mấy hôm đã có một đồng nghiệp đến tranh địa bàn hoạt động rồi.

- Tưởng ai, ra thằng cù lần.

- Ê, mụ nói ai cù lần?

- À, quân lếu láo, mày chẳng nể kẻ trên trước gì cả. Dạng mày mà nên tích sự gì?

- Mụ đánh cá không? Tôi bắt chim cho xem.

- Ừ, đố mày bắt con hoàng yến ở lồng treo ngoài hàng ba kia được đó.

- Dư sức. Mụ cá gì nào?

- Trổ tài đi, mày sẽ được một cái đùi gà quay.

- Ít quá. Nếu thua tôi sẽ đưa mụ quả chuối.

- Giỡn mặt, tao mà ăn chuối?

- Tôi tưởng mụ biết món tráng miệng. Thôi được, tôi sẽ rán ăn cắp cho mụ miếng thịt bò.

- Còn tao, sẽ thua mày nửa con gà quay.

- Đồng ý, suya là tôi thắng cuộc, mụ hay dùng chữ thua quá.

Quả nhiên, mụ thua. Thằng cù lần ban đêm siêng nhanh, và chính xác. Nó leo lên hất cửa lồng nan tre. Cô hoàng yến sổ lồng chậm rãi bị nó chộp gọn gàng.

Mụ già chưng hửng. Con gà quay đã nằm yên trong bụng mụ. Biết sao hơn, mụ xin khất vậy. Thằng cù lần đắc chí đi quanh quẩn, nhảy nhót. Gã chó nhớn nhác động tĩnh làm rùm lên. Giá mà gã không bị cột thì phải biết. Khiến nên bợm bãi dễ làm ăn. Gã xách trọn một chuồng gà. Nhưng chị người làm thì ỷ y. Một con rắn hổ hành giỏi lắm chỉ có thể nuốt chửng một con gà giò. Và chị thì sợ rắn lắm. Chắc gì con chồn cáo đến đây. Chị tiếp tục dỗ giấc, mặc chó sủa ăn trộm. Mụ già và thằng cù lần “có tịch giật mình”. Không ai bảo ai tự động dông mất. Chuyến này người ta phát giác đúng là trộm. Nào trộm, nào chồn, nào cáo, nào rắn, nào ăn xin… sao không hẹn mà cùng rủ nhau đến vùng này kiếm chác.

Đối với ăn xin thì dễ dàng. Đuổi lão đi là xong. Còn rắn hả? Khai quang lùm bụi, dọn dẹp bớt cây cối để rắn hết quấn. Tránh cả nạn chồn, cáo hay chồn – cáo gì đó… Với trộm, chị người làm giục chủ:

- Hay mình chuyền điện vào chuồng vịt, “ăn quen chồn đèn mắc bẫy”, điện sẽ giựt trộm có ngày.

- Mày tưởng trộm khờ khạo lắm sao? Họa may tìm xác một con rắn hổ mày bỏ trong chậu đất rồi trồng hành lên trên. Chậu hành xinh tốt để gần chuồng gà vịt. Mấy chú chích sẽ nhổ luôn hành về nấu cháo. Ăn xong chết êm thắm…

Chị người làm nghe đến rắn bỗng rùng mình, nhưng bà chủ trấn an chị:

- Mày tìm được xác rắn thì thực hiện cách đó, mà nói theo lời ông già bà cả chứ chưa chắc thành công. Vả lại “tội chết”! Thôi, mày thả chó ra.


*


Đời sống ngày càng khó khăn. Thằng cù lần hết còn đến hang mụ để đòi nợ nửa con gà quay. Nó vừa sụp cái bẫy giựt. Khắp các nẻo người ta đặt vô số bẫy và mụ thì không cù lần chút nào. Chỉ vì thằng cù lần mò mẫm ban ngày, mà ban ngày nó chậm rì, y như mù.

Mụ già giở ngón nghề rình rập. Mụ tấn công luôn gà, vịt lớn… Người, chó… săn đuổi mụ ngày càng ráo riết. Họ đã xác định mụ đúng là một con vật rừng hoang to lớn, phá phách. Họ tìm ra chỗ ở của mụ không khó.

Ngày nào bên trên còn có ông lão bày biện chở che một phần những hở hang của mụ. Giờ thì ông lão đã dời “nhà” khá xa. Mụ rúc vào một xó nằm im thin thít, lắng nghe tiếng xì xào bàn tán. Họ lần dò bít chận những ngách hang phụ. Gió lùa khói củi un làm mụ sặc sụa. Mụ nhận thức chỉ có một ngõ chính duy nhất là thông thoáng. Có điều hẳn có hàm răng sắc của gã chó đang chầu chực mụ. Mụ liều vậy, khó nín hơi lâu hơn nữa. Thong thả mụ chạy tọt vào trong cái cũi tre giữa tiếng hò reo của trẻ nít.

- A, con mèo “bự” quá bây ơi!

- Giống con cọp ghê!

Vài đứa tinh nghịch còn lấy cây chọc chọc con vật khốn kiếp.

Một bà cụ ra dáng hiểu biết, suy đoán:

- Con “cáo” này do tóc xác chết thành đây mà.

Mấy ông bợm nhậu sấn đến:

- Ối, mèo, cáo gì cũng cho tụi này xin ngã tiệc.

- Tóc lâu ngày thành cá trê, cá trê ăn óc sọ người, rồi cá trê mọc chân, hóa cáo. Cáo nay thành tinh, mấy ông coi chừng nó trả thù… Khu này mả mồ không hà. Chắc còn nhiều con khác.

- Bà già yên tâm, con quỉ này đào một mình nhiều hang. Vùng này hồi trước còn sót một cụm rừng và nó đó thôi.

Ông chủ – người đặt cũi – can thiệp:

- Tôi sẽ thả con mèo này về rừng, cả nhà tôi giữ giới đâu để mấy chú sát sanh.

Chị người làm cũng góp chuyện:

- Ồ, con mèo rừng, vậy mà con nghe người ta nói mèo già hóa cáo chứ.

Đám hàng xóm hiếu kỳ lần lượt ra. Mấy ông bợm nhậu tiếc rẻ. Họ dúm díu nhau nạt chó.

Mụ mèo rừng chẳng hiểu sao gã chó lại thù ghét những kẻ giết hụt mụ như vậy. Một cơn gió đưa mùi hoa dạ lý hương thoang thoảng. Khói đã tan hết từ lâu. Trong bóng đêm, đôi đồng tử của mụ già dần nở lớn. Đôi mắt con mèo rừng ươn ướt, bởi vì nó không biết số phận mình ra sao, một khi đã già nua mà còn phải tranh sống trong rừng.

PHAN KHƯƠNG THÁI 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi Xuân Ất Mão, 1975)

Vu Vơ - DU

HÔM QUA

Em giận TH đúng một tuần rồi. Có gì đâu TH nhỉ? Tại bạn ưa rủ nhỏ Nghi xuống sân chơi vũ cầu mà không rủ ta, lại bỏ ta ngồi một mình trong lớp. Bạn chê ta đánh dở ư? Biết thế, nên từ hôm đó, ta chẳng thèm chơi vũ cầu với bạn nữa.

Sáng nay đến trường lớp, không thấy ở bàn bóng dáng của TH đâu. Em biết TH sắp sửa đi xa chữa bệnh rồi. Vậy mà TH chẳng nói với em một lời nào cả. TH chỉ nói cho mỗi mình nhỏ Nghi nghe thôi.

Dạo này, Saigon thường có những cơn bão rớt ngang qua. Trời khe khẽ lạnh, em uể oải thò chân xuống gầm giường lục tìm đôi dép. Anh Đức mở cuốn băng học dưới nhà thật ồn ào. Nhức đầu quá đi thôi. Em mở nước thật mạnh để rửa mặt, mong nước lạnh sẽ làm lòng em bớt tức tối, nóng giận. Còn nghĩ đến TH, em còn nghe giận vô cùng.

Em kéo lê dép lẹp xẹp lười biếng vang khắp phòng khách. Anh Đức nằm ở salon đưa mắt lừ em: – Nhỏ này. Em đặt mình nặng nề xuống ghế : – Anh Đức vặn nhỏ bớt máy đi. Anh Đức nhỏm dậy : – Ghê! Ra lệnh cho ai đấy hở? Sao hôm nay nhỏ nóng tính quá vậy? Một đổi thay mới lạ trong ngày. Em đứng dậy, ném cái gối về phía anh ấy : – Thôi, con trai mà lắm mồm quá! – Khoan, TH vừa gởi nhỏ bức thư nè, một thông điệp hòa bình hay một bức tối hậu thư đây? Em quay mặt lại : – Thật hở. Đâu? – Chỉ vậy thôi. Cười một cái coi nào. Ở bàn đó.

Chắc TH đem đến cho em thư này khi em còn đang ngủ trưa. Bức thư mà phong bì và giấy viết thư thật đẹp, thơm ngát mùi nước hoa. Trong ấy chỉ vỏn vẹn tên em và tên TH thật nắn nót, quấn quít lấy nhau, kèm thêm một dấu chấm hỏi và một dấu chấm than. TH ạ! Ta chẳng còn giận bạn nữa đâu. Lúc này, trong cái không khí vắng lặng buổi trưa của nhà. Ba mẹ, chị Thy đi chơi cả rồi. Chỉ có mình ta và anh Đức ở nhà, nên nhỏ Du này mới lên chức, làm tàng với anh Đức mà không sợ bị la. Ta thèm bạn đến chơi với ta quá. Ngày mai bạn đi xa rồi chứ? Mấy giờ? Ta muốn ra tận phi trường tiễn bạn.

Em nhắc điện thoại lên, quay số gọi đến TH. Ghé tai trong điện thoại, em nghe tiếng chuông reo lên rất nhiều lần. Chắc TH đang bận sắp xếp hành lý. Allô! Ai đó? Tiếng TH thật trong trẻo và êm đềm. Em chợt ngần ngừ đáp lại : Allô… và bỏ dở câu nói nửa chừng. Một tiếng gác máy. Chẳng biết nói gì với TH bây giờ cả.

Ngay sau đó, điện thoại reo vang. Em nhấc lên. – Allô… Rõ ràng là tiếng của TH. Thưa ai ở đầu dây đó hở? Tôi là TH đây. Xin vui lòng cho tôi gặp cô Du. Em hắng giọng, giả tiếng chị Thy : Allô… Du đi đánh vũ cầu rồi ạ! Nói như thế, em muốn cho TH biết : Không có TH, em vẫn có thể đi đánh vũ cầu được cơ mà. Chắc chắn là TH đang ngần ngừ rất lâu ở đầu dây bên kia : – Ơ… cám ơn chị. Nếu Du về, xin hãy nói lại là TH gởi lời chào Du. Sáng mai khoảng 8g, TH ra phi trường đáp máy bay đi xa. Mong sẽ có mặt Du ở đó. Cám ơn thật nhiều. TH đã gác máy rồi. Em nghẹn ngào chực khóc. Nhắc điện thoại lên, quay số liên miên. TH TH TH. Bạn ạ! Ta đang cần đến bạn, bạn đang cần đến ta, sao chúng mình lại ngại ngùng khi đối diện nhau vậy.


Anh Đức trách em : – Thôi chứ nhỏ. Không sợ hư máy sao? Buồn. Em cảm thấy bây giờ, chỉ có mình em hiểu em mà thôi. TH sắp bỏ đi rồi. Biết hờn dỗi, chơi đùa với ai đây? Anh Đức, chị Thy thì làm sao hiểu nổi em, chỉ toàn là chọc ghẹo không thôi.


HÔM NAY

Sáng nay, em muốn đến phi trường tiễn TH lắm cơ. Lúc đứng trước gương chải đầu, em ngần ngừ mãi. Có nên đi hay không? TH sẽ nói gì khi nhìn thấy em. Khi lựa áo trong tủ, em băn khoăn : Biết chắc TH đợi mình ở đó không? Có nói mình lời gì chăng? Hay chỉ mải mê trò chuyện với gia đình hoặc bạn bè khác. A! Thế nào mà chả có nhỏ Nghi. Nhắc tới Nghi, em ngồi phịch xuống. Thôi, chẳng đi là hơn cả. Nhỏ Nghi sẽ ghẹo mình là con bé kiêu kỳ nữa cho xem. Đừng tưởng lôi kéo được TH là chọc tức được em đâu, dù mến TH nhất trong lũ bạn bè và giờ này em đang nhớ đến TH thật quắt quay.

Tám giờ kém mười. Em ngần ngừ lần nữa, lại đứng dây, mang xe ra khỏi cổng. Cần tới TH thì có xấu gì đâu. Ngày mai TH đã vắng mặt ở đây rồi mà. Tiếng xe nổ dòn dã, đưa em đến phi trường. Trễ mất rồi, phi cơ vừa mới cất cánh. Gặp ba me và mấy em TH, bé Hồng reo lên:

- A! Chị Du, chị TH đợi chị lâu lắm đó.

Em cúi đầu buồn bã:

- Có ai ngoài nhà em ra không?

- Không, chị TH gởi chị món quà này.

Chiếc vợt vũ cầu mới. Hẳn TH muốn xin lỗi em. Chỉ tại việc đánh vũ cầu nên giận nhau thôi.

Ngồi ở nhà nghĩ đến TH. Chắc bây giờ TH đang ngồi trên phi cơ, quấn ngang cổ chiếc khăn phu la vải hoa màu xám em tặng khi xưa, mà mỗi lần trở bệnh TH thường lấy ra quấn ở cổ.

Hiện giờ em đang nhức đầu vì nghĩ đến TH quá nhiều, tháng sau thi rồi, còn vô khối bài vở phải ôn, vô khối việc phải làm. Em vẫn chưa hết ray rứt, mong em còn đủ hăng hái.

Em phải viết cho TH một lá thư, đầy quý mến và gởi đi ngay để khi vừa đặt chân xuống đất lạ, TH sẽ nhận được. Biết viết gì bây giờ nhỉ, em cắn bút bên tờ giấy trắng thật lâu. Một chữ TH. thật nắn nót. Một dấu chấm kèm theo. Một chữ Du ở cuối tờ giấy. Thế là đủ rồi. TH sẽ hiểu ý em. Mọi việc bỏ qua hết bạn nhỉ. Mong TH tha lỗi cho em.

Buổi chiều, khoảng không gian thật trống vắng. Em cần đi đánh vũ cầu cho đầu óc bớt mệt mỏi rồi về ôn bài. Cầm chiếc vợt mới của TH tặng trong tay, em nghĩ sẽ phải tập đánh cho thật giỏi, đợi TH về cùng đánh đua chứ.

Trong em hiện giờ, cả một khoảng trống thật mênh mông bao la.

Tháng sau thi rồi, mong em còn đủ hăng hái.

DU 

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 216, ra ngày 1-1-1974)