Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

PHẦN II_CÂY ĐÀN HUYỀN DIỆU

Được mười lăm tuổi, Pa-ga-ni-ni muốn rời gia đình, đi về những miền xa lạ biểu diễn tài năng của mình. Cậu bé sớm trưởng thành ấy không chịu nổi sự kèm thúc của một người cha nghiện ngập quan niệm con mình như một cái máy làm tiền và tìm mọi cách ép buộc Pa-ga-ni-ni làm việc không kể gì đến sức khoẻ. Trong sự câu thúc, dày vò, Pa-ga-ni-ni cảm thấy tâm hồn mình mệt mỏi hơn lên, đồng thời âm nhạc hàng ngày nâng chàng lên khỏi cuộc sống tầm thường, nung nấu thêm ý trưởng thành và những khắc khoải tuyệt vời. Một hôm, Pa-ga-ni-ni thưa với cha mình : 


- Trong bao năm nay con đã cố gắng làm tiền để nuôi cha mẹ. Số tiền mà con dành dụm có thể cung cấp cho gia đình ta qua khỏi những ngày túng thiếu. Ngày mai, con phải về tỉnh Luýt-cơ để dự một cuộc hòa nhạc lớn lao. Con muốn là kẻ độc hành, không người bảo trợ.

Người cha chồm hẳn người dậy trong sự kinh ngạc giận dữ. Đoạn ông gằn giọng :

- Mày không thể nào đi một mình được.

- Con sẽ đi đến một mình. Con đã quyết định như thế.

- Đồ chó chết !

Người cha hung hãn nhào đến, muốn vồ chặt lấy đứa con trong đôi tay mình, nhưng nó đã nhảy biến ra khỏi cửa. Trong cơn hùng hổ, ông cầm cây đèn bằng đồng ném về phía nó. Pa-ga-ni-ni ngã quị hẳn xuống, chạm ngã chiếc bàn gần đấy, ly chén ngã đổ loảng xoảng. Một giòng máu đỏ chan hoà toé ra từ đầu cậu bé. Nhìn con nằm yên bất động, người cha thốt nhiên cảm thấy một nỗi kinh hoàng, một niềm hối hận. Về phần Pa-ga-ni-ni, sau sự ngất xỉu vì choáng váng, cậu thấy một nỗi chua chát hòa lẫn với niềm thống khổ làm cho tê liệt thần trí của mình. Trong khi người cha băng bó vết thương vừa cất những lời rên siết thê thảm, thì người con vẫn nằm yên, nhắm mắt để tránh nhìn mặt cha mình.

Mãi khi người mẹ trở về, đứa bé mới chịu mở mắt. Hiểu biết nỗi lòng của con, bà nói :

- Bây giờ con đã đầy đủ khả năng để tự tạo lấy con đường mà đi. Mẹ không muốn giữ con lại bên mình vì một chút lòng quyến luyến hẹp hòi. Hằng ngày, mẹ sẽ cầu nguyện cho con thành đạt vẻ vang.

Đêm ấy, Pa-ga-ni-ni trằn trọc không sao ngủ được. Ngày mai, cậu bé giã từ tất cả, lên đường đi về với những cảnh sống mà cậu không sao hiểu được sẽ dẫn dắt mình đến bến bờ nào. Ngôi nhà quen thuộc, người mẹ yêu dấu, bao nhiêu vật dụng gần gũi, chỉ còn đêm này nữa là sẽ xa cách lâu dài. Cậu bé ngồi dậy, cầm lấy cây đàn. Ngày mai, chỉ còn có nó là bạn đồng hành trên những nẻo đường xa xôi, là kẻ duy nhất hòa đồng tâm sự. Pa-ga-ni-ni diễn tả nỗi lòng nhớ nhung của mình bằng tiếng tơ đàn, bởi vì chỉ có bằng giọng nói ấy chàng mới biểu lộ hết tâm trạng mình. Khi tiếng đàn đã dừng lại trong đêm khuya vắng, dư âm của một mối sầu giã biệt vẫn còn vương vấn khắp nơi. Nơi phòng người mẹ, Pa-ga-ni-ni tưởng nghe những tiếng thở dài.

Và sáng hôm ấy, Pa-ga-ni-ni chuẩn bị rất sớm hành trang lên đường. Thoát khỏi hẳn sự kềm chế của một người cha thô bạo, Pa-ga-ni-ni cảm thấy thoải mái, hít thở no đầy không khí tự do. Trên con đường dằng dặc ấy, Pa-ga-ni-ni thong thả mà đi, mỗi tối ghé vào quán trọ dành cho mọi người, để kiếm chỗ ngủ. Những đêm trăng sáng, hay là sao tỏ, vào thời tiết hè nóng nực thì cậu ngủ lại giữa trời, nằm trên nệm rêu của một ngọn đồi nào đó, hoặc trong một khu rừng thông và cảm thấy lòng sung sướng vô biên. Giữa một tạo vật không ngừng sinh hoạt trong đêm bằng những tiếng nói âm thầm, Pa-ga-ni-ni choàng dậy đáp lời ngôn ngữ thiên nhiên bằng cái tiếng nói dìu dặt của cây đàn mình.. Và nhiều đêm dài, Pa- ga-ni-ni cứ đàn như thế, cố gắng diễn đạt những nguồn cảm hứng u uẩn làm cho khắc khoải lòng mình. Có lúc, trước khi mặt trời đi ngủ hay là thức giấc, Pa-ga-ni-ni tìm cách đua tài với các bầy chim bằng cách diễn đạt tiếng nói của loài bay nhảy trên sợi tơ đồng. Hai ngày trước khi đến thành Luýt-cơ , Pa -ga-ni-ni thực hiện một cuộc hòa tấu tuyệt vời với một họa mi. Lúc đó là ngày mười sáu tháng sáu của năm một ngàn tám trăm, vào một buổi chiều, khi đang ngồi trên mặt đất gồ ghề, dựa lưng vào một thân cây, Pa-ga-ni-ni cảm thấy tâm hồn của mình tan chìm trong cái yên lặng quái đản của những bụi cây bờ đá phản chiếu tia lửa đỏ rực của bóng mặt trời hoàng hôn. Không một tiếng gió lay động lá cành, không một tiếng người, cả loài muôn thú cũng đều lặng tiếng im hơi. Bỗng nhiên giữa khoảng tranh tối tranh sáng, tiếng chim họa mi bốc dậy, ban đầu ngượng ngập rồi cứ mỗi lúc càng linh hoạt hơn, càng thắm thiết hơn. Pa-ga-ni-ni cầm vội cây đàn dè dặt hòa nhịp, rồi nâng giọng vút lên cao. Tiếng đàn chỉ được gợi lên một cách nghẹn ngào nhưng chim họa mi trả lời trong sự thông cảm bằng những giọng hát mỗi lúc càng thêm nhiệt tình. Và cứ thế, họa mi hát với tiếng đàn, hát theo một cách say sưa kỳ lạ, tưởng như lồng ngực bé nhỏ của chim cũng muốn vỡ tan. Trong nỗi say sưa tuyệt vời, Pa-ga-ni-ni cảm thấy rõ sự ngăn cách giữa người và thiên nhiên đã bị xoá tan, và đây là sự đối thoại hoàn toàn của hai tâm hồn. Pa-ga-ni-ni thấy mình biến thành một phần của rừng cây đá núi, của cái khu vực chứa đầy sinh vật âm thầm đã ràng buộc mình trong niềm thân thiết lạ thường. Mãi cho đến lúc tiếng chim ngừng bặt, vừng trăng nhô lên ở trên khung cảnh lặng lờ phóng toả một vùng ánh sáng hiền dịu thì người nhạc sĩ bỗng nhiên run lạnh đột ngột, bỗng thấy một niềm sợ hãi. Sau đó, Pa-ga-ni-ni chìm dần trong một giấc ngủ mê mệt. Mảnh vải dùng bọc thùng đàn không che chở nổi cậu bé khỏi cái giá lạnh ban đêm càng lúc càng thấm sâu hơn.

Hôm sau, khi choàng tỉnh dậy, mặt trời đã lên khá cao, Pa-ga-ni-ni giật mình hoảng hốt vì cây đàn đã biến mất. Nhạc sĩ ngồi ngẩn ngơ tiếc người bạn thân của mình, đồng thời là phương tiện sống quan trọng của chàng. Đối với Pa-ga-ni-ni, mất đàn coi như mất hết tất cả, vì chính có nó chàng mới trở thành một người đầy đủ. Trong cơn thất vọng não nề, Pa-ga-ni-ni đi vào thành phố với niềm tuyệt vọng của kẻ bại trận.. Qua những dãy phố chen chúc khách hàng, những người tứ xứ, hàng hoá muôn màu, giữa những tiếng động, tiếng cười vang dội điếc tai của một thành phố có vẻ no đầy hạnh phúc Pa-ga-ni-ni vét món tiền nhỏ cuối cùng mua vài thức ăn chống sự đói nhọc đang dày vò mình. Thốt nhiên, bằng cái thính giác tinh tường của mình, chàng nghe một tiếng vĩ cầm vẳng lại giữa sự sôi động phố phường. Chàng bỗng nhớ lại ngày nào, còn nhỏ, chàng đã đi theo tiếng đàn tương tự, đánh cắp cây đàn của một nhạc sư để dò dẫm đàn suốt một buổi chiều…

Khi chàng đi đến thì thấy một người già nua áo quần rách rưới ngồi bên góc một quán rượu dạo một bản đàn sầu thảm. Có một vẻ gì trong sự xuất hiện đột ngột của con người ấy khiến chàng chú ý. Người già cả ấy dạo đàn khá hay, hơn chàng dự tưởng. Những bàn tay sần sùi vì bệnh phong bại làm cho cong cúm khó coi, run rẩy từng lúc, khiến cho thỉnh thoảng bản nhạc vấp phải những nốt sai lầm. Nhưng trong khi đàn người hành khất tiêu điều ấy lắng nghe tiếng nhạc của mình say đắm chừng nào ! Mái đầu sói nhẵn như một chất ngà cũ kỹ cúi gập hẳn xuống và một nụ cười làm cho nhăn nhó khuôn miệng không còn một chiếc răng nào. Nụ cười có một vẻ gì kỳ quái, vô hình chứng tỏ một cuộc thoát ly, một sự cố gắng thống khổ để mà quên lãng thực tại. Hẳn là tiếng đàn đã đưa tâm hồn nghệ sĩ về một cõi đời đẹp hơn, một cõi thế giới từ lâu không còn hình bóng.

Đám đông phần nhiều đi ngang qua người nghệ sĩ với một thái độ hững hờ và chỉ thỉnh thoảng mới thấy một người nghiêng tay ném xuống một đồng bố thí. Pa-ga-ni-ni không còn đồng nào trong túi, cảm thấy một niềm thương hại vô hạn đối với người hành khất già. Cậu quì bên cạnh người ấy nói nhỏ :

- Bác ơi, tôi thấy gần như bác chẳng thâu được bao nhiêu. Tôi cũng là kẻ chuyên đàn vĩ cầm. Bác hãy cho tôi đàn thử giây lát xem nào. Tôi tin rằng kẻ qua đường sẽ giúp bác được nhiều hơn.

Người hành khất nghễnh ngãng kia nhíu mày hỏi lại :

- Gì vậy ? Ai nói gì vậy ?

Khuôn mặt ông ta quay nhìn về phía Pa-ga-ni-ni đượm màu xác chết hơn là người sống.

- Tôi cũng chuyên đàn vĩ cầm. Bác hãy để tôi đàn thay cho bác. Chắc kiếm tiền được nhiều hơn.

- Đàn vĩ cầm à ?

Người hành khất bỗng đặt cây đàn xuống, nắm chặt cánh tay Pa-ga-ni-ni khiến cậu hốt hoảng kêu lên. Cậu bé không ngờ một người như thế vẫn còn sức lực như vậy. Nhưng người nhạc sĩ già kia kéo chàng sát lại bên mình và nói :

- Tôi gần mù loà nhưng vẫn còn nhìn thấy được chừng nào. Tôi thấy là cậu còn trẻ, rất trẻ. Thôi được ! Cứ đàn thử đi xem nào !

Pa-ga-ni-ni cầm lấy cây đàn, cây đàn quá cũ nhưng thuộc vào loại có giá. Thoáng chốc, giữa những tiếng ồn ào vang động, điệu nhạc vang lên, và đám thính giả quây quần càng lúc kéo đến chung quanh cậu bé càng đông. Điều đó khuyến khích chàng nhiều, và nỗi say sưa dần dần xâm chiếm lấy chàng, cặp mắt bắt đầu long lanh ngời sáng ở trên khuôn mặt xanh xao. Những nét man dại thỉnh thoảng lồng vào trong những cung đàn réo rắt. Đến lúc gần như ngút hơi, cậu dừng tiếng đàn và từng đống tiền ném xuống như mưa trên cái nón cũ tồi tàn của người hành khất. Trong giây phút ấy, cậu thoáng có một ý nghĩ : “Thế là ngày mai người ta nhận diện ra mình là kẻ ăn xin cầu thực bên đường, và chắc trong cuộc đại hội so tài, không thiếu những lời khinh bỉ”.

Tuy vậy, Pa-ga-ni-ni không hề hối hận về sự giúp đỡ của mình. Trái lại, chàng còn cảm thấy tự hào vì đã giúp ích cho người khốn khổ hiện đang đếm chuỗi ngày tàn. Người hành khất già cất lên giọng nói khàn khàn mệt nhọc :

- Quả cậu là một nhạc sĩ lành nghề. Ai đã dạy cậu đạt được kỹ thuật tuyệt vời như vậy ?

Và không đợi câu trả lời, người ấy kéo tay cậu bé đứng dậy, ra khỏi đám đông vẫn còn tiếp tục vây quanh :

- Cậu hãy đến đây với tôi. Tôi sẽ biếu cậu món quà đặc biệt.

Pa-ga-ni-ni bước theo cụ già, trong lòng phân vân không hiểu một người khốn khổ như thế có gì đặc biệt để làm quà tặng cho mình. Cả hai đi sâu vào trong ngõ hẻm tối tăm, giữa những bức tường ám khói, vào một ngôi nhà sụp đổ điêu tàn, và phần bên dưới có những bức tường loang lổ làm thành một cái hang hốc cho người khốn cùng nương náu qua ngày. Vào trong, một làn không khí nặng nề ngột ngạt, chứng tỏ bao nhiêu ngày tháng qua rồi nơi trú ẩn này không hề để lọt một chút khí trời quang đãng. Người hành khất già bước vào với cái dáng điệu quen thuộc và sự vững vàng của kẻ mộng du. Ông ta cầm lấy hộp quẹt bật lửa thắp chiếc đèn dầu leo lét, và cả một sự rối loạn bày ra trước mắt Pa-ga-ni-ni : sách báo, vở nhạc, thiên thần bằng gỗ, bó hoa úa tàn, ống khói sét rỉ, những lục huyền cầm cổ kính, những hồ vĩ cầm đủ cỡ, tản mát đó đây, chồng chất lên nhau, và treo lơ lửng trên tường. Trong một góc tường nhiều chiếc bao lớn đầy rơm, rách lủng, để rơi vãi đầy trên đất. Trước cặp mắt nhìn của người trai trẻ, người hành khất già nói lên giữa tiếng cười gằn :

- Đây là gian phòng chứa đựng kho tàng.

Rồi ông cúi xuống trên một bao rơm, sờ soạng lôi ra một cái hộp đàn vĩ cầm chôn giấu ở tận đáy bao.

Ông nói :

- Đây là cây đàn huyền diệu.

Những bàn tay dài xương xẩu nổi đầy gân xanh run như lá cây trước gió khi mở nắp của hộp đàn. Ông kéo ra ngoài một nhạc cụ sơn nâu đỏ, rồi buông một tiếng thở dài. Trong một vài giây, cặp môi của ông lắp bắp không nói lên được lời nào. Lát sau, ông già mới cất lên được những tiếng nhẹ nhàng hòa trong hơi thở :

- Đàn đi. Cậu hãy đàn thử xem nào.

Pa-ga-ni-ni không còn nhìn thấy người ngồi trước mắt. Một niềm vui sướng kỳ lạ bừng dậy trong đôi mắt sáng mở rộng. Nhiều lần như con diều hâu rình mồi, người già đột nhiên chồm đầu về phía chiếc đàn rồi về phía người trai trẻ. Pa-ga-ni-ni cầm lấy chiếc đàn, đưa ngón tay cái lướt nhẹ lên những sợi tơ, một sự rung chuyển ngọt dịu lạ thường đáp lại sự ve vuốt ấy. Quả là cây đàn của một công trình bậc thầy, và chưa bao giờ người nhạc sĩ trẻ cầm được vật quí như thế trên đôi tay mình. Lập tức, với sự nôn nóng lạ thường, Pa-ga-ni-ni cầm lấy cung đàn và một hòa điệu vang lên như những tiếng gọi kỳ diệu thiêng liêng. Thoáng trong giây phút, cả sự nghèo khổ, tàn tạ trước mắt đều như tan biến, và những khung cảnh kỳ ảo lạ lùng, những hải đảo xa nở đầy hoa đẹp, những rừng xa gió thổi rì rào, những buổi mặt trời sụp xuống lặng yên trong sự trinh trắng nguyên vẹn của thời sơ khai, từ từ hiện lên, rồi trên cơ sở của niềm yên tĩnh khá kỳ quặc ấy, tâm hồn xáo động của người nhạc sĩ bùng dậy như là sóng tràn lửa cháy. Khi tiếng đàn dừng, những thứ dư âm kỳ ảo vẫn còn vang vọng khắp phòng và cả hai người đối diện tưởng chừng như mình lạc loài từ một thế giới huyền hoặc để quay về lại trần gian.

- Tôi chưa bao giờ được dạo trên một cây đàn tuyệt diệu thế này. Làm sao mà bác có được vật quí đến thế ?

Người hành khất già ngồi yên trên chiếc ghế nhỏ suốt trong thời gian lắng nghe tiếng nhạc, ngắm nghía người trai trẻ trước mặt mình với một đôi mắt gần như mù loà. Trong sự lặng yên, khuôn mặt nhăn nheo bỗng điểm nụ cười sung sướng.

- Tôi biết bây giờ tôi có thể chết một cách yên lành. Từ lâu, tôi vẫn mong đợi tìm được một người có thể sử dụng vật phi thường này. Cậu sẽ hiểu rõ vì sao mà cây đàn ấy thuộc phần sở hữu của tôi. Chuyện cây đàn này đồng thời cũng là câu chuyện về sự lỗi lầm gớm ghiếc mà tôi phạm phải trong đời.

Vừa nói câu ấy, người hành khất già sờ soạng đi tìm chai rượu phủ đầy bụi bặm rót vào trong ly, rồi tiếp :

- Tôi vốn xuất thân từ một gia đình giòng dõi làm đàn ở tỉnh Măng-tu. Người anh của tôi và tôi từ thuở bé thơ đã chuyên chú vào nghệ thuật làm đàn, cố tạo ra những cây đàn có một dư âm đặc biệt. Sau những năm dài hành nghề, với những cố gắng không ngừng, anh tôi đi đến thành công. Người đã chế tạo được chính cây đàn mà cậu cầm ở trên tay, sau khi đã thử gần sáu chục kiểu ở trong xưởng thợ của mình. Trong những bài toán khó khăn, bí hiểm của Xtra-đi-va-ri-uýt, của A-ma-ti, anh tôi đã tốn công sức kiếm tìm mới áp dụng được một cách thiện nghệ. Tôi cũng thí nghiệm theo phương thức ấy. Tôi cũng biết rằng phải có thứ gỗ phẩm chất đáng giá, phải chất sơn láng bên ngoài pha chế một cách nào đó mới đạt được sự êm dịu kỳ ảo của những âm thanh, làm nên giá trị độc đáo của một cây đàn ở giữa muôn ngàn nhạc cụ thông thường. Chắc cậu cũng hiểu rằng chất sơn láng của một chiếc đàn có tầm ảnh hưởng ra sao. Nếu pha chế nhiều chất rượu, âm thanh trở thành gay gắt, ồn ào, nếu pha quá nhiều chất dầu, âm thanh ngọt dịu nhưng mà nặng nề.

Nhưng cái chìa khoá của sự bí mật không nằm ở nơi chất màu sơn láng bên ngoài. Không, nhất định không phải như thế.

Anh tôi vốn là một người tính tình trầm tĩnh một cách kỳ quái khiến người có một thái độ dè dặt ít ai hiểu nổi. Ông ta giữ gìn nghệ thuật làm đàn của mình với một tinh thần cẩn trọng khác thường và cả đối với tôi đây, là em máu mủ, ông cũng không chịu tiết lộ kết quả những điều tìm kiếm của mình.

Một hôm, chế tạo xong chiếc đàn này ông đã ngồi đàn nhiều giờ liên tiếp. Tôi hiểu ngay rằng anh tôi đã đi đến sự thành công không kém Xtra-đi-va-ri-uýt. Nhưng ông ta đã đạt đến bằng phương thức nào ? Đêm sau tôi bèn phục rượu ông ta cốt để khai thác sự bí mật ấy, và cuối cùng tôi toại nguyện.

Người hành khất già ngừng nói. Nhiều lần ông ta đưa tay vuốt lấy chiếc trán nhẵn bóng của mình. Cặp mắt gần mù loà kia như đục mờ thêm trong sự lạc loài giữa những ý niệm xa xôi. Tưởng như trong giây phút đó, ông đã quên hẳn con người ngồi trước mặt mình.

Cuối cùng, Pa-ga-ni-ni bèn hỏi :

- Và rồi sao nữa ?

Mí mắt của người già nua nhấp nháy liên hồi ; ông ta thở dài, nhắm đôi mắt lại như để dễ nhớ bao nhiêu chuyện cũ đã qua và tiếp tục kể bằng cái giọng nói khàn khàn, thỉnh thoảng dừng lại trong sự ngập ngừng.

- Anh tôi bảo rằng ông đã lấy chất gỗ trăn (aune _ tiếng Pháp) mọc sâu dưới nước. Ở gần làng chúng tôi có một hồ nước khá sâu, xuất hiện sau cơn động đất, ở cạnh ven rừng, đó là một khu rừng hoang vu xa cách nhà cửa dân cư. Vốn thích những sự dạo chơi thơ thẩn một mình trong những khu miền vắng vẻ, anh tôi chú ý đến cây trăn ấy, vào một ngày hạ đẹp trời. Chòm lá của nó nhô lên phủ đầy mặt nước. Sau khi xuống tắm ông ta khám phá ra cây gỗ ấy. Và lặn xuống sâu, ông đã sờ soạng tìm xem thớ vỏ của cây. Tất cả gia đình sống về nghề đàn vẫn thường tin theo truyền thuyết là gỗ trăn mọc dưới nước là chất gỗ quí hơn hết để chế tạo đàn vĩ cầm. Anh tôi bèn đem cưa đến cưa những nhánh lớn dưới nước, và tạo nên chiếc đàn nầy mà ông đặt tên là đàn “huyền diệu”.

Nhưng rồi một chuyện khủng khiếp xảy ra.

Sau khi nghe anh thổ lộ, tôi không làm sao ngủ được. Sự ghen tị làm tôi trằn trọc không yên. Nửa đêm, tôi bèn nhổm dậy đánh cắp cây đàn và rời khỏi nhà.

Giọng nói của người hành khất mỗi lúc càng yếu ớt hơn :

- Như thế, tôi đã đánh cắp công trình của người anh tôi, công trình của bốn mươi năm cố gắng không ngừng. Thật tâm tôi không cố ý chiếm đoạt vĩnh viễn kết quả công trình gian khổ của người, nhưng muốn có sẵn dưới tay để mà ra công nghiền ngẫm kỹ thuật chế tạo nên một cây đàn tương tự. Tôi sẽ đi tìm chất gỗ nói trên, và sẽ gia công nghiên cứu để tạo cho được một cây đàn khác không kém quí giá. Sau khi tìm hiểu coi như đầy đủ, tôi bèn đem chiếc vĩ cầm đánh cắp về trả lại cho người anh, hy vọng sẽ làm dịu bớt những cơn giận dữ bằng cách bồi thường một món tiền lớn xứng đáng với cái giá trị tôi sẽ tạo thành. Tôi không quan thiết đến chuyện bạc tiền, mà chỉ băn khoăn về danh dự mình và cái vinh quang của sự thành đạt.

Trên bước đường về, tôi phải đi qua chiếc hồ có bóng cây trăn phủ tràn mặt nước. Tôi dừng lại ở bên bờ để nghe tiếng gió rì rào trong những cành lá sum sê và tự nhủ thầm trong lòng : “Cây gỗ huyền ảo biết bao ! Quí giá biết bao !” Tôi cởi áo quần, nhảy vội xuống nước tay cầm một chiếc cưa bén, và sau khi đã hít một hơi thở khá dài để lặn cho sâu, tôi vừa hụp xuống dưới một cành cây khá lớn thì bắt gặp xác anh tôi. Ông đã treo cổ lên trên cành cây, khuôn mặt sưng vù, tóc xoã trong nước như đám rong rêu, đá lớn chất đầy ở trong các túi áo quần.

Khi vừa chạm phải xác chết một cách đột ngột, tôi muốn kêu lên một tiếng hốt hoảng, nhưng nước tràn đầy cả miệng. Làm sao mà tôi có thể trồi lên được trên mặt hồ ? Tôi vẫn ngạc nhiên về sự cố gắng khác thường như thế.

Anh tôi đã tự tử rồi. Nguyên nhân của cái chết ấy, thật là dễ hiểu : ông không thể nào cầm được lòng mình khi bị đánh mất công trình tuyệt phẩm mà sự cố gắng gần như trọn đời mới đạt được thành.

Như thế cậu cũng hiểu rằng, tôi không còn có tâm trí nào nữa để mà chế tạo cây đàn tương tự. Giấc mộng sản xuất cây đàn tuyệt vời thế là tan tành. Tôi cũng giã từ luôn nghề nghiệp cũ bao năm theo đuổi của mình, nghề nghiệp nhắc lại nỗi niềm xót xa giày xéo tâm can. Cũng có những lúc quá đỗi nghèo nàn, tôi muốn đem bán chiếc đàn “huyền diệu” nầy đi nhưng mà lòng không đành đoạn.

Người hành khất già trở nên yên lặng, nước mắt chảy nhoà xuống đôi má hõm nhăn nheo. Pa-ga-ni-ni cũng thấy xúc động. Một lát, để xoá cho tan giây phút nặng nề, Pa-ga-ni-ni bèn hỏi :

- Tại sao bác không cố gắng để thành nhạc sĩ vĩ cầm nổi tiếng ? Ngón đàn của bác không phải là không sắc sảo công phu ?

Sau giây phút im lặng chỉ nghe hơi thở mệt nhọc của người hành khất, những tiếng đổi khác đã được thoát ra từ miệng người nầy :

- Muốn trở thành người nghệ sĩ chân tài, phải có tấm lòng trong trắng. Làm sao mà đạt đến một nghệ thuật cao siêu với một tấm lòng chứa đầy tủi nhục, luôn luôn lo sợ sự nguyền rủa oán hờn ? Từ khi tìm gặp cái chết của người anh tôi, tôi không còn sống được một giờ phút yên lành nào nữa. Tôi sống xa cách mọi người, gần như tôi đang sống giữa nước hồ sâu thẳm. Cậu có thể nghĩ rằng tôi điên loạn. Nhưng mà quả tình tôi nói sự thật. Vì vậy, có bao giờ tôi mở cửa sổ đâu ? Những khi sống một mình trong gian phòng này, tôi vẫn ngụp lặn ở dưới nước hồ đấy chứ. Kìa, cậu có nhìn thấy anh tôi đó không ?

Một thứ ánh sáng kỳ lạ thoáng hiện ở trong đôi mắt của người khốn khổ. Cánh tay phải của ông run rẩy đưa lên chỉ vào khoảng tối bên trong của gian phòng hẹp mà ánh đèn nhỏ không soi sáng tới. Bóng đen của người hành khất kéo dài ở phía sau lưng như một hình thù đe dọa.

- Xem nào… Cậu có nhìn thấy cây trăn đó không ? Nó mọc ở kia… Càng ngày nó càng cao lên, cao đụng mái nhà rồi đó, cao tít như khoảng trời kia… Khắp nơi tôi nhìn thấy lá cành nó rườm rà… Cậu có thấy không ? Xác của anh tôi lủng lẳng kia kìa !

Những lời nói cuối cùng rầm rì tắt lịm ở trên đôi môi nhợt nhạt của người hành khất già nua. Một ít bọt miếng trào bên khoé miệng của người khốn khổ và trước khi Pa-ga-ni-ni kịp đỡ lấy người thì người đã quì xuống và khóc nức nở. Lát sau, ông ta dần dần trấn tĩnh được mình và đưa hai tay lên trời, vừa nói :

- Có lẽ trời đất sẽ mở lòng để tha thứ cho tôi, nếu tôi đem vật quí nầy trao tặng cho một nghệ sĩ tài hoa như người trai trẻ hôm nay. Cậu hãy cầm lấy, hãy cầm lấy đi, và hãy sung sướng hơn cả anh tôi và tôi với chiếc đàn nầy.

Pa-ga-ni-ni cảm thấy băn khoăn ít nhiều khi mình làm chủ chiếc đàn đã gây bao nhiêu đau khổ cho những chủ nhân của nó. Nhưng cuộc hòa nhạc ngày mai đã đến. Không có cách gì từ chối, hơn nữa cây đàn quí giá cũng làm cho người nhạc sĩ cảm thấy phấn khởi ít nhiều. Một ý nghĩ khác thoáng hiện ra trong óc cậu : nếu đem tài năng của mình làm cho sáng tỏ rõ ràng nhờ nhạc cụ nầy, biết đâu sẽ không an ủi vong hồn của người đã chết và xoa dịu được bớt nỗi đau khổ của người đang sống khắc khoải ở nơi ngõ hẻm hang cùng này đây.

Pa-ga-ni-ni đỡ người hành khất nằm xuống nệm rơm. Cậu tìm thấy trong tủ gỗ mục nát đôi miếng bánh thừa, một ít phó mát và đem đặt trên chiếc ghế cạnh người hành khất :

- Bác hãy cố gắng ăn lấy đôi miếng để lấy lại sức.

Nhưng người hành khất lắc đầu. Đoạn ông ta cất lời :

- Ta tặng vĩnh viễn cho em cây đàn “huyền diệu”. Hãy giữ lấy nó và hãy thề rằng không được đem bán hay giao lại cho người khác.

Vừa nói dứt lời người già cả ấy âu yếm đặt tay lên đầu của người nhạc sĩ trẻ tuổi, và trước cử chỉ của kẻ khốn cùng, cô độc cậu bé cầm lòng không được, để cho dòng lệ chan hoà. Cậu nói bằng giọng ngập ngừng :

- Ngày mai tôi sẽ đến thăm sức khoẻ của bác. Tất cả món tiền mà tôi thâu được trong cuộc hòa nhạc tôi mang về hết cho bác. Bác sẽ có đủ chi tiêu, khỏi phải lo âu về nỗi thiếu thốn.

Đêm ấy, nằm trong quán trọ, Pa-ga-ni-ni không sao ngủ được. Cậu thao thức với cây đàn và sau cùng ngồi dậy đem hết sức tài năng của mình diễn tả qua sức truyền cảm tuyệt vời của nó. Vừa sáng, chàng mua một số thức ăn ngon lành mang đến cho người hành khất. Nhưng vừa bước vào ngưỡng cửa chàng dừng bước lại : một bầu không khí ảm đạm toả nồng. Trong bóng tối mờ, người hành khất già nằm đó, bất động. Một nụ cười héo hắt giữ nguyên trên môi nhưng mà đôi mắt trợn trừng, mở rộng trong nỗi kinh ngạc lặng yên. Pa-ga-ni-ni lùi lại, tự nhủ : ông ta chết rồi. Nghẹn ngào, cậu bé quì xuống. Cậu hiểu rõ rằng từ đây cậu không còn cách gì đền ơn lại người già nua khốn khổ đã sống kéo dài những ngày hối hận dày vò. Nhưng khi trao tặng chiếc đàn cho cậu, người già kia đã muốn giúp đỡ cậu thêm một phương tiện huyền diệu để mà bày tỏ những nỗi khốn khổ của cuộc đời này, phơi bày cả mối tham vọng đê hèn, cả sự thống khổ và niềm tuyệt vọng, cả sự hối hận và sự khốn cùng mà hiện thân của người ấy là một biểu hiện rõ ràng. Cúi xuống bên giường người chết, Pa-ga-ni-ni chỉ biết thì thầm :

- Tôi sẽ đem hết sức mình để làm vinh dự cho bác. Bác hãy nằm yên trong cõi vô cùng. Tôi xin giữ lời hứa ấy. 

*
_______________________________________________________________________________ 
Xem tiếp PHẦN III

PHẦN I_CÂY ĐÀN HUYỀN DIỆU

Khi người mẹ về đến nhà thì bà chỉ kịp kêu lên một tiếng hốt hoảng và chạy lại phía đứa bé đang ngồi với những ngón tay đẫm máu : 


- Trời ơi ! Sao con tôi đến nỗi nầy !

Đứa bé giương đôi mắt nhìn lên mẹ, cặp mắt đen láy thẳm sâu long lanh một vẻ dị thường. Cây đàn ghi-ta to lớn đặt ở trên đùi và từng giọt máu chảy hoen thớ gỗ, nổi bật những chấm đỏ trên sắc vàng. Người mẹ chợt hiểu. Từ lâu cây đàn là nỗi khao khát của con bà. Thằng bé Pa-ga-ni-ni hàng ngày vẫn thường nhón chân nhìn lên đầu tủ tỏ ý khát thèm cây đàn mà cha nó thường dùng vào những tối, sau khi uống rượu say mèm từ quán trở về. Chiếc đàn bị kéo xích lại gần tủ, và một chiếc ghế còn đặt bên trên xác nhận bao nhiêu sự việc xảy ra : không nén được sự ưa thích, đứa bé trèo lên lấy cây đàn xuống và sự mê say khiến bàn tay nó đẫm máu trên những dây đàn. Mới năm ngoái đây, khi Pa-ga-ni-ni lên bốn tuổi, trong khi đưa con dạo ở bến tàu, người mẹ bỗng nghe một điệu nhạc vẳng lên từ một chiếc thuyền gần đấy. Tiếng đàn vĩ cầm réo rắt trỗi lên một bản tình ca êm dịu chừng nào ! Đứa bé bỗng dừng chân lại như bị thu hút bởi một sức huyền bí, và người mẹ thấy đôi mắt con mình mờ đi như tâm hồn nó chìm sâu vào cõi thế giới u huyền. Thần sắc của nó dần dần nhợt nhạt như giọng đàn kia đã cướp linh hồn của nó. Khi tiếng đàn được nâng cao vút lên với một điệu nhạc kích động lạ thường thì đứa con yêu của bà từ từ rụng xuống, như một thân cây yếu mềm gãy đổ trên đất.

Từ lâu, người mẹ đã nhìn thấy nỗi say mê âm nhạc trong lòng con mình. Bây giờ bàn tay đẫm máu của nó như là dấu hiệu kỳ quái của một tài năng chớm nở đã tìm lối thoát. Bà vội tìm thuốc băng bó vết thương và cố thu xếp mọi vật để vào chỗ cũ, cho người chồng khỏi nhận biết khi ông ta về. Từ đấy, bà vẫn thỉnh thoảng giấu chồng lấy chiếc đàn xuống cho con và chỉ những hôm người cha bận rộn dưới tàu, Pa-ga-ni-ni mới được tự do ve vuốt những sợi tơ đồng. Pa- ga-ni-ni biết rằng cha mình thô bạo, và chỉ đôi lần trong năm đứa bé mới bắt gặp được nụ cười ở trên khuôn mặt lầm lì của cha. Một hôm, đang đi thơ thẩn trong một lối phố chen chúc kẻ bán người mua, đứa bé bỗng nghe tiếng đàn vẳng lên đâu đó rất gần. Đi về hướng nhạc, nó nhìn thấy trong một quán nhỏ bán rượu, một số người đang đùa cợt ở cạnh quầy hàng trong lúc một người lớn tuổi sử dụng cây đàn vĩ cầm với những ngón nghề hết sức linh hoạt. Đứa bé rón rén bước tới, chui vào hàng rào, bị thu hút như nam châm và khi tiếng đàn bỗng dứt, từng loạt vỗ tay vang dậy, nó vẫn hãy còn ngơ ngẩn.

- Hoan hô Gi-ô-va-ni ! Anh có ngón đàn tuyệt diệu ! Hoan hô ! Hoan hô !

Người nhạc sĩ quay đặt cây đàn ở trên thùng gỗ sau lưng và ngồi xuống ghế, tự thưởng cho mình một chén rượu lớn. Đó là lần đầu Pa-ga-ni-ni nhìn thấy tận mắt cây đàn vĩ cầm. Tiếng đàn êm dịu bây giờ gợi lại trong tiềm thức nó những nét huyền diệu mơ hồ của những năm qua ở cạnh bến tàu… Nó ngước lên nhìn chăm chú như dõi theo một vật lạ đáng yêu, đáng quí chừng nào. Trong khi mọi người nô đùa cười cợt thì đứa bé vẫn ngồi đó, nép sau thùng gỗ, nhìn lên cây đàn đã phát ra những thứ âm thanh kỳ diệu. Cuối cùng, thừa lúc câu chuyện của người trong quán ồn ào kích động bởi chất men rượu nồng ấm, Pa-ga-ni-ni trườn lên, thò tay nắm lấy chiếc đàn, rồi nhanh như một con thỏ chui tọt qua rào, bước ra đường phố. Đứa bé ôm chặt cây đàn trong lòng lang thang qua các con đường, rồi ra bờ biển. Trời cao và xanh, mây lững lờ, mặt biển lặng yên sáng màu ngọc bích lơ thơ điểm những cánh buồm lướt nhẹ ngoài khơi. Ngồi trên tảng đá, Pa-ga-ni-ni bắt đầu sờ soạng sử dụng cây đàn. Và giữa khung cảnh trời nước bao la, một bản nhạc lạ bắt đầu dựng thành như kết tựu được những nét thanh nhã mơ màng của thiên nhiên với một tâm hồn đa cảm. Đứa bé cứ thế tiếp tục đàn những bản hát mà nó đã nghe trong các thánh đường, mãi cho đến khi gió biển từ xa thổi về thoáng lạnh và những ánh nắng cuối cùng tắt lịm về phía chân trời nhấp nhô những dãy núi biếc đã đổi sang màu tím thẫm.

Trời sắp tối rồi. Pa-ga-ni-ni như choàng tỉnh dậy sau một cơn mơ và đứa bé năm tuổi ấy thất thểu ôm chặt cây đàn trong lòng trở lại những đường phố cũ. Khi đến ngôi quán ban trưa nó thấy một số những người vẫn còn ngồi đấy. Đứa bé hai tay nâng cây đàn lên, trịnh trọng tiến thẳng về phía nhạc sĩ. Một số người kêu lớn lên :

- Thằng ăn cắp đây !

Pa-ga-ni-ni ôn tồn đáp lại :

- Tôi không phải là ăn cắp. Tôi chỉ mượn tạm cây đàn một lúc, bây giờ trả lại cho người chủ nó.

Một người hùng hổ la lớn :

- Đánh thằng ranh này một trận nên thân để nó khiếp sợ mà chừa.

Và sấn sổ bước tới gần, định tát vào mặt đứa bé. Nhưng người nhạc sĩ đã đưa tay ra ngăn cản, và nói :

- Hãy khoan, xem thằng bé này mượn đàn làm gì. Ánh sáng trong đôi mắt nó khiến tôi chú ý.

Rồi ông quay sang Pa-ga-ni-ni :

- Này chú bé con, chú đùa với cây đàn này đấy à ?

Pa-ga-ni-ni trả lời :

- Thưa ông, tôi chỉ mượn nó để đàn.

- Để đàn ? Bộ mày đùa sao ?

Người nghệ sĩ già kêu lên với nụ cười hoài nghi. Pa-ga-ni-ni vẫn đứng lặng yên, giương mắt bình tĩnh ngó hết mọi người. Cuối cùng, đứa bé trả lời :

- Một đứa bé con không thể đàn sao ?

- Nhưng mày đàn những bản gì ?

- Tất cả những gì mà tôi có thể đàn được, như những bài hát nghe trong giáo đường.

- A ! Vậy hãy đàn thử một bản nghe chơi. Nếu mày đàn được thì tao tha tội đùa nghịch của mày. Nếu không, thì phải ăn đòn, nghe chưa ?

Pa-ga-ni-ni nhón chân, đỡ lấy cây đàn, loay hoay đặt lên vai mình và mím môi lại. Mọi người im lặng theo dõi đứa bé. Những giọt mồ hôi lấm tấm ở trên khuôn mặt gầy gò xanh xao phản chiếu lấp lánh ánh đèn. Tiếng đàn ngập ngừng cất lên mỗi lúc thành dìu dặt và khi đứa bé dừng lại, dậm chân tỏ ý tức giận cho sự kém cỏi của mình thì một loạt pháo tay vang dậy. Gi-ô-va-ni, người nhạc sĩ, kéo Pa-ga-ni-ni vào lòng và nói :

- Em quả là một thần đồng. Ta sẽ bỏ công dạy dỗ cho em. Ta vốn là trưởng ban nhạc cho những gánh hát ở đây. 

*

Từ đấy, Pa-ga-ni-ni đã có được người dìu dắt. Được gần hai năm thì người thầy dạy bảo học trò rằng :

- Bây giờ ta hết khả năng dạy dỗ em rồi, bởi vì tài nghệ của em vượt cao hơn ta rồi đó. Nhưng ta không muốn một kẻ thiên tài như em mất đường tiến thủ. Ngày mai ta sẽ giới thiệu em đến gặp nhạc sư Gia-cô-mô, họa may em sẽ có cơ phát triển hơn nữa.

Khi đứa bé về thuật lại cho cha mình rõ, thì ông cau mày cằn nhằn :

- Trời ơi ! Làm sao mà dám đến học bậc danh sư ấy ? Giờ học đều được tính bằng một giá cắt cổ, chịu tiền chi thấu !

Nhưng khi Gia-cô-mô gặp được Pa-ga-ni-ni thì sự mừng rỡ của ông đã xua tan hết ý nghĩ tiền bạc. Ông chịu dạy dỗ không công, và kể từ đấy, Pa-ga-ni-ni có thể đi sâu vào trong khu vực kỹ thuật tinh vi của nhạc. Mặc dầu tuổi tác khác nhau rất xa nhưng mối cảm thông giữa thầy và trò khiến họ coi nhau như là bè bạn. Gia-cô-mô còn tìm việc làm cho người học trò vừa là bạn nhỏ của mình trong các giáo đường và kể từ đấy hàng tuần cậu bé đã có một món tiền lớn. Cứ thế danh tiếng Pa-ga-ni-ni càng ngày càng tăng và bao nhiêu cuộc trình diễn cũng cố gắng mời cho được cậu bé tham dự. Thấy con làm ăn có tiền người cha tham lam tìm đủ mọi cách khai thác khả năng của nó bằng cách ép uổng nó phải hiện diện trong bất cứ là cuộc mời mọc nào, và ông cũng theo bén gót để giữ cho khỏi rơi rãi từng đồng xu nhỏ. Ngoài những giờ đi theo sát con mình, người cha ấy nằm say sưa trong các quán rượu. Đến một ngày nọ, vị thầy của Pa-ga-ni-ni bảo với học trò như sau :

- Coi như tài năng của ta dạy dỗ cho em đến đây là chấm dứt rồi. Em hãy về thành Pác-mơ, tìm học Rôn-la, đó là tay đàn vĩ cầm nổi tiếng nhất ở xứ này. Ta sẽ giới thiệu cho em đến đó. May ra người ấy còn có chút gì để mà truyền lại cho em.

Rồi ông ôn tồn khuyên nhủ người bạn bé nhỏ của mình :

- Em đừng bao giờ quên rằng ý chí quyết định tất cả. Chỉ có ý chí của những con người kiên nhẫn, những người không bao giờ chịu buông chìu theo những yếu hèn, những người biết đương đầu lại những thử thách của định mệnh, là sẽ đạt đến những gì lớn lao và cao quí nhất trên cõi đời này.

Đến ngày thấy đứa con mình sắp sửa đi xa, người mẹ hiền từ ngồi suốt đêm ở bên giường, không ngủ. Bà ngắm nhìn con trong sự yên lặng kéo dài với niềm xúc động sâu xa và cuối cùng mới thốt lên : “Con ơi ! Mẹ ao ước rằng con sẽ đạt được lý tưởng của mình. Con sẽ trở nên tay vĩ cầm bậc nhất của thế giới. Những gì chính đáng mà con ao ước thì mẹ cũng hằng ao ước như con “.

Ngày mai người cha thuê chiếc xe ngựa và cùng với con về thành Pác-mơ. Nhưng khi gõ cửa nhà của nhạc sư thì vị này không chịu tiếp. Người vợ ông ta bước ra bảo rằng :

- Chồng tôi ốm nặng, ông ta không thể cử động từ mấy hôm nay.

Trong khi người cha cố gắng nài nỉ tiếp kiến cho được vị danh sư nọ, thì Pa-ga-ni-ni nhìn thấy chiếc vĩ cầm đặt bên cạnh một vở nhạc ghi chép bằng tay. Có nhiều nốt nhạc viết quá vội vàng và nhiều nốt khác đã bị xoá bỏ. Thoáng nhìn, cậu bé biết rằng đó là một bản hòa ca mà nhạc sư vừa soạn thảo. Nắm vội cây đàn, Pa-ga-ni-ni diễn tả hết bản hòa ca mà không phạm một lỗi nào. Tiếng đàn vừa dứt, thì trên cầu thang một cánh cửa lớn sực mở, và ông Rôn-la hiện ra, mặc quần áo ngủ, trên đầu phủ một khăn choàng bằng len trắng toát. Ông ta kêu lên:

- Coi kìa ! Có phải quỉ sứ chui vào nhà tôi đấy không ? Bây giờ mới thấy một người trình diễn chính bản hòa ca của tôi sáng tác, hay hơn chính cả tôi nữa.

Pa-ga-ni-ni cúi đầu chào hỏi lễ phép và hai cha con cố gắng nài nỉ để được nhạc sư nhận lời. Người cha khẩn khoản :

- Chúng tôi từ Giê-nơ đến vì biết rằng chỉ có ngài là người duy nhất có thể giúp đỡ con tôi tiến bộ.

Rôn-la trợn mắt :

- Cái gì ? Ông nói tiến bộ thế nào ? Ngay như tôi đây cũng muốn đàn giỏi kịp em bé này mà thôi. Tôi sợ rồi nó không còn thầy để mà học. Hoạ chăng chỉ còn mỗi một bậc thầy quan trọng mà nó có thể học tập lâu dài, đó là cuộc đời.

Một hôm, bá tước Nê-Grô là người rất mến tài nghệ Pa-ga-ni-ni và nhận làm kẻ bảo trợ cho cậu, đi chiếc xe ngựa cũ kỹ đến tìm Pa-ga-ni-ni và bảo :

- Hiện nay có một số người Pháp đang ở tại nơi nhà tôi.

Và ông nói tiếp, trịnh trọng :

- Trong đó có vị đại tướng chỉ huy.

Người cha Pa-ga-ni-ni xuýt xoa :

- Quả là danh dự lớn lao !

- Khốn nạn ! Chả có vinh dự gì đâu. Sáng nay, tôi vừa cãi cọ khá sôi nổi với ông ta về một vấn đề danh dự.

Vị bá tước tằng hắng, nói tiếp :

- Vị đại tướng ấy cho rằng người dân xứ Giê-nơ của chúng ta đây chỉ là một sự hỗn hợp giữa bọn giặc cướp và bọn lái buôn. Chúng ta không có một chút năng khiếu nào về nghệ thuật. Ở đây không có hoạ sĩ, không có thi sĩ đáng cho chúng ta tự hào. Còn Kha-luân-bố thì chỉ là kẻ đại diện thương mại hơn là một nhà thám hiểm đúng danh hiệu ấy. Nghe người ngoại quốc khinh miệt dân mình như thế, tôi có thỉnh mời đại tướng tối nay đến dự một buổi dạ hội để ngài chứng kiến một người dân thành Giê-nơ, như bất cứ dân nào văn minh trên thế giới này, có thể là một nhạc sĩ bẩm sinh. Do đó, con trai của ngài cần phải hiện diện để mà trình bày tài nghệ.

Vào ngày dạ hội, Pa-ga-ni-ni sửa soạn y phục và đến giữa một quang cảnh hết sức náo nhiệt, tưng bừng. Trong khung cảnh ấy chỉ có mỗi một giọng nói vang lên sang sảng là có uy quyền hơn cả. Đó là giọng nói của một con người gầy gò với đồ quân phục chỉ huy khác biệt lạ thường giữa đám hầu cận chung quanh. Bộ quân phục ấy thật là đơn giản, cũ kỹ, không có chiếc huy hiệu nào. Và con người với màu da vàng cháy, với chiếc mũ nặng nề ấy, là Nã-phá-luân.

Khi đến chính giữa sân khấu, Pa-ga-ni-ni cúi chào mọi người với cái thân hình gầy gò xanh xao của mình. Cậu ta để ý thấy vị chỉ huy vẫn cứ tiếp tục trò chuyện với người chung quanh ở một chiếc bàn cách đây độ chừng năm thước. Điều đó khiến cậu buồn lòng, nhưng cậu nhủ thầm : “Rồi ông ta sẽ biết cách yên lặng”. Cậu vội đưa chiếc vĩ cầm lên vai trình bày bản nhạc “Mùa xuân của Côn-nê-bi-ô”. Những tiếng đàn êm, dịu dàng trải khắp gian phòng như những sợi bạc óng ánh, càng lúc càng thêm lan rộng và thấm sâu hơn, nhưng không lấn át được giọng sang sảng của vị chỉ huy. Thình lình Pa-ga-ni-ni bỏ mạnh cây đàn xuống mặt bàn trong một cử chỉ tức giận tràn trề. Cậu ta định rời gấp khỏi sân khấu, bỗng nghe Nã-phá-luân kêu giật lại với một giọng nói quyền hành :

- Kìa, chú nhỏ ! Có việc gì vậy ? Không muốn tiếp tục đàn nữa hay sao ?

Và Pa-ga-ni-ni đứng dừng lại, dõng dạc trả lời :

- Tôi chỉ trình diễn khi nào ngài chịu nghe tôi.

Nã-phá-luân ngẩn người trong một vài giây rồi bỗng phá ra cười lớn. Với một giọng nói của kẻ bề trên, ông ta bảo người nhạc sĩ trẻ tuổi :

- Hay lắm ! Biết ăn nói đấy chú bé ! Thôi, cầm lấy đàn đi. Ta sẽ giữ gìn không cho ai được quấy rầy trong lúc chú đàn.

Một sự im lặng tuyệt đối bao trùm khắp căn phòng rộng và Pa-ga-ni-ni dạo những bản dân ca miền Cót-sơ, đưa Nã-phá-luân quay về dĩ vãng của mình. Người chỉ huy bỗng quên hẳn hiện tại và trong giây phút thấy mình trở về khu chợ A-giác-xi-ô chói nắng ngày nào, thấy lại những cô gái nhỏ vui đùa bên đống lửa hồng vào dịp ngày hội mùa xuân. Ngày ấy, Nã-phá-luân mới lên mười và bây giờ đây khói bụi chiến tranh cùng với tháng năm đã làm cho người cằn cỗi. Tiếng đàn dẫn dắt người tìm về ngôi làng cũ, ở bên bờ biển, cách chợ A-giác-xi-ô độ một dặm đường, làng Mi-lơ-li nhìn ra một ngọn hải đăng ngời sáng. Người như tưởng mình đi dạo trong khu vườn rộng bao la, đầy cam và lựu, đầy những hoa hồng, giữa hương và sắc chan hoà. Trên những ngọn đồi rợp bóng quanh vùng có một tảng đá cô độc nhô lên giữa vùng cây cối. Nơi đây thân mẫu của người đã dọn sẵn một hang động để Nã-phá-luân có thể học tập hàng giờ, trong dịp nghỉ hè… Thình lình vị chỉ huy bỗng giật mình : một loạt vỗ tay như sấm vang dậy chung quanh. “Thật là đứa bé kỳ lạ !” Nã-phá-luân vừa bảo thầm như vậy vừa vỗ tay phụ hoạ theo trong một dáng điệu trầm ngâm.

*
________________________________________________________________________________ 
Xem tiếp PHẦN II

LỜI NÓI ĐẦU_CÂY ĐÀN HUYỀN DIỆU


Lời nói đầu
____ 

Đây là câu chuyện của một cậu bé đã sớm trở thành thiên tài về nhạc, một bậc thiên tài kỳ diệu của đàn vĩ cầm, mà nhiều tài danh lỗi lạc ở trên thế giới đã xem như một hiện tượng có một không hai ở trong lịch sử nghệ thuật âm thanh.

Đó là Pa- ga-ni-ni, ra đời vào ngày 18 tháng 2 năm 1784 ở Ý, một người ốm o và xấu xí, xanh xao và lạnh lùng, một người trình diễn nghệ thuật ở trên sân khấu với những dáng điệu vụng về khó tả nhưng là một bậc kỳ tài đã khám phá ra được bí mật của nhạc khí mình để tiến tới mức tuyệt đối của sự diễn tả.

Nhưng Pa-ga-ni-ni còn là người có một nghị lực phi thường trong sự học tập nghệ thuật, và những bí quyết của chàng phần lớn là những kết quả của sự làm việc gian lao, liên tục, dù trong những ngày đau ốm cũng dành cho sự tập dượt suốt mười hai tiếng đồng hồ.

Chính cái tài năng cao cả, siêu phàm của chàng đã bị nhiều kẻ đương thời ghen ghét và chàng bị gán cho những danh hiệu “Con quỉ Sa-tăng”, “Tên phù thủy Ý”, “Thần của địa ngục”… Đến khi từ giã cõi đời vào ngày 27 tháng 5 của năm 1840 vì bệnh ung thư ăn đứt cuống họng sau gần năm mươi sáu năm yêu mê nghệ thuật, thi hài của chàng lại chịu lênh đênh suốt năm mười sáu năm trường vì sự hất hủi, phũ phàng, cuối cùng mới được yên nghỉ ở tại nghĩa địa quê hương.

Bởi vì sau khi nhạc sĩ qua đời, những kẻ ghen ghét tài nghệ tuyệt vời của chàng vẫn đang còn sống. Họ cho rằng chàng chính là con cháu yêu ma mới có bản lĩnh lạ lùng như thế và cấm chôn chàng ở trong nghĩa địa. Quan tài của chàng được người con trai duy nhất di chuyển khắp nơi, nhưng ở nơi nào cũng bị xua đuổi. Khi nằm trong một thành phố ồn ào, khi đưa đến một hải đảo hoang vu, cuối cùng quan tài lại được bí mật chở lên tàu nhỏ chạy về quê hương. Nhưng các thành kiến do lòng mê tín và sự ghen ghét gây nên đã khiến người ta sợ hãi xác chết của chàng. Quan tài lại được di chuyển đến lần thứ năm và sau bao nhiêu thế tình biến đổi, mới được chôn cất vĩnh viễn trong xứ sở chàng, sau đúng năm mươi sáu năm lưu lạc.

V.H. 

_______________________________________________________________________________
Xem tiếp PHẦN I 

Cây Đàn Huyền Diệu - VŨ HẠNH



Bản dịch của VŨ HẠNH
Loại hoa xanh
Tủ sách Tuổi Hoa - 1972

Chiếc Vương Miện Cẩn Ngọc (X)

- Được rồi. Để tôi sẽ kể cho ông nghe chuyện gì đã xảy ra trong nhà ông đêm đó. Khi ông đã về phòng, cháu ông ra khỏi phòng riêng và xuống nhà. Cô ấy đứng nói chuyện với người yêu ở chỗ cửa sổ, trông ra chuồng ngựa ấy. Dấu chân Bảo Minh còn in rõ trên tuyết, vì hắn đã đứng khá lâu phía ngoài cửa sổ. Cô ấy đã nói với hắn ta về chiếc vương miện. Lòng ham muốn của cải xấu xa của hắn nổi dậy, và hắn bắt cô Hoa phải theo ý hắn. Tôi không nghi ngờ tình thương của cháu gái ông dành cho ông, nhưng nhiều khi đối với vài người đàn bà tình yêu lại mạnh hơn hết, có thể choán chỗ của những tình thương khác. Cô Hoa thuộc về loại người đó. Cô ta vừa nghe xong lời dặn dò của Bảo Minh thì ông đi xuống cầu thang. Cô ấy vội đóng cửa sổ lại và kể cho ông nghe cậu chuyện chị ở trốn ra ngoài với tình nhân có chân gỗ : Câu chuyện ấy cũng có thực nữa. Còn cậu anh Thi thì vào giường nằm sau cuộc cãi vã với ông. Nhưng cậu ta đã trằn trọc không ngủ được : Cậy ấy lo lắng về món nợ phải trả. Vào lối nửa đêm, nghe có tiếng chân nhè nhẹ đi ngang qua cửa, cậu ấy dậy, nhìn ra hành lang và ngạc nhiên thấy cô em họ biến vào căn phòng rửa mặt của ông. Không tin ở cặp mắt, cậu ấy xỏ bộ quần áo vào và đứng đợi trong bóng tối để xem chuyện gì sẽ xẩy ra. Lát sau cô ta lại hiện ra dưới ánh đèn hành lang, và cậu con ông ẩn sau cửa, thấy rõ cô ấy mang chiếc vương miện quí giá của ông đi xuống nhà. Hoảng kinh, cậu ấy chạy ra ẩn sau tấm màn gần cửa phòng ông, để nhìn xuống coi chuyện gì xẩy ra bên ngoài. Cậu ấy thấy cô ta mở cửa ra không gây tiếng động, trao chiếc vương miện cho một người nào đó đứng ngoài trời đêm, rồi cô ấy đóng nhanh cửa sổ lại và trở về phòng, không nhận thấy con trai ông vẫn đứng sau tấm màn dầy.

Khi cô ta còn ở đấy, con ông không thể làm gì được vì sợ làm mang tội cho cô em họ, người mà cậu ấy yêu mến. Nhưng khi cô ấy đã đi khỏi, cậu ấy mới nhận thấy hành động này sẽ mang đến hậu quả không hay cho ông. Cậu ta vội chạy xuống thang, quần áo vẫn sơ sài và chân đi đất. Sau khi mở cửa sổ, nhảy ra sân đầy tuyết, cậu ta vội chạy về hướng chuồng ngựa, vì hút thấy một bóng người ở đó dưới ánh sáng trăng. Anh Thi đã túm được Bảo Minh và hai người vật lộn để giằng co chiếc vương miện. Anh Thi cầm đầu này còn Bảo Minh cầm đầu kia. Trong lúc đánh nhau, con ông đấm vào phía trên mắt Bảo Minh làm rách một mảng da. Nhờ thế, Anh Thi đã giằng lại được bảo vật mặc dù đã có tiếng gẫy phát ra. Sau đó cậu ta xách chiếc vương miện chạy về nhà, đóng cửa sổ lại rồi trèo vào phòng tắm của ông. Lúc ấy cậu ấy mới nhận thấy là chiếc vương miện bị xoắn lại trong lúc họ đánh nhau, và cậu ta định bẻ lại thì đúng lúc ấy ông xuất hiện.

Ông chủ ngân hàng lẩm bẩm:

- Có thể như thế được sao?

- Đúng là như thế đấy. Sau đó, mặc dù ông mắng chửi, cậu ta vẫn nín thinh vì sợ nếu khai ra thì sẽ vương lụy cho cô Hoa.

Ông Huỳnh Anh la lên:

- À, tại vậy nên con nhỏ mới kêu lên và té xỉu khi trông thấy cái vương miện. Ô! Trời! Sao tôi ngu thế không biết! Và thằng bé xin tôi cho nó ra ngoài năm phút. Chắc để trở lại chỗ đánh nhau, xem mẩu gẫy đó có rơi rớt đâu đó không… Ồ! Thế mà tôi đã kết tội oan cho nó!

Sĩ Lâm tiếp:

- Khi tôi đi đến nhà ông, tôi đã đi một vòng nhà ngay, hy vọng những dấu vết còn lại trên tuyết có thể giúp tôi điều tra ra sự thật. Tôi biết rằng cả đêm trời không mưa tuyết, và vì trời lạnh nên những dấu chân cũng bị đóng băng lại chứ chưa tan đi. Tôi đi qua lối nhà bếp nhưng phía ấy bị mọi người dẫm đầy lên nên mất hết dấu. Nhưng tôi cũng còn nhận ra ở gần cửa bếp có dấu chân một người đàn bà đã đứng lại và nói chuyện với một người đàn ông : Một dấu tròn ở một bên chứng tỏ người đàn ông có một chân bằng gỗ. Tôi cũng có thể nói thêm rằng hai người đã bị phá rối vì người đàn bà đã phải chạy lúc vào nhà : Thật vậy, phía ngón chân chị ta bị ấn xuống tuyết sâu hơn phía gót chân ; người đàn ông có chân gỗ, trái lại, còn đứng lại đợi một lúc rồi mới đi. Tôi nghĩ ngay rằng đấy chắc là chị hầu phòng và tình nhân của chị ta. Sau đó tôi đi vòng quanh vườn, nhưng tôi chỉ thấy những dấu chân hỗn độn, bước lung tung : tôi cho rằng đó là dấu chân của cảnh sát. Ngược lại, khi đi về phía tàu ngựa, tôi tìm ra một câu chuyện rất dài và rất phức tạp mà dấu tuyết còn giữ lại vết tích.

Trên tuyết có hai loại vết chân, đi song song với nhau : Một loại là của một người đàn ông có đi giày, loại kia chỉ cho thấy một người đàn ông đi chân không. Ông không thể tưởng tượng được là trông thấy vết chân ấy, tôi mừng đến đâu : Theo lời ông, thì chúng chỉ có thể là dấu chân của con trai ông. Người có giày đã bước, nhưng người đi chân không đã chạy, và đôi lúc, dấu chân trần in lên trên dấu giày, tất nhiên tôi suy đoán là con ông đã chạy sau người kia. Đi theo các vết giày tôi tới chỗ cửa sổ, mà tôi suy đoán là người mang giày đã đứng chờ khá lâu, vì quanh hai dấu giày, tuyết rơi xuống thành đống. Sau đó dấu giày quay trở lại, thì cách đấy độ trăm mét, có dấu đánh nhau, nhìn kỹ, tôi thấy có vài giọt máu : Vậy là tôi đã không lầm. Người đi giày đã chạy xuống thung lũng, vài dấu máu rơi rớt chứng tỏ chính hắn đã bị thương. Hắn xuống đến đường cái, nhưng trên vỉa hè và mặt lộ, tuyết đã được quét sạch, nên đến đây là mất dấu.

Tuy vậy, khi trở vào nhà, tôi dùng kính lúp xem xét lại bậc cửa sổ và tôi thấy có ai đã nhảy vào bằng lối đó. Tôi  nhận thấy có dấu bàn chân ướt đã đặt lên. Tôi bắt đầu đưa ra giả thuyết : Một người đàn ông đã đợi ở ngoài, có người mang ngọc xuống cho hắn ta ; cậu con ông trông thấy, cậu ta rượt theo kẻ cắp, đánh nhau với hắn, mỗi người kéo chiếc vương miện về phía mình, và đã làm gẫy chiếc vương miện, mà sức một người thì không thể làm nổi. Con ông đã trở vào với phần thưởng chiến thắng, nhưng để lại một mẩu nhỏ trong tay kẻ địch. Tới đó thì được rồi, nhưng có một vấn đề khó hiểu là ai đã mang chiếc vương miện ra.

Tôi theo câu phương châm cổ là nếu đã gạt bỏ những gì không thể chấp nhận được ra, thì những gì còn lại dù rất khó tin, sẽ là sự thực. Tôi nghĩ rằng không phải là ông đã mang vương miện xuống, vậy chỉ có thể là cháu gái ông hoặc các chị hầu phòng. Nhưng nếu là những người giúp việc, thì tại sao con trai ông lại chịu để mang tiếng oan, thay vì nói ngay ra? Không có gì cắt nghĩa được. Ngược lại, nếu là cô Hoa thì rất có thể được, vì cậu con ông yêu cô ấy, và không muốn thố lộ ra điều bí mật của cô ta, nhất là điều bí mật ấy lại không vinh dự gì cho lắm! Tôi nhớ lại ông đã trông thấy cô ta đứng ở cửa sổ, và sau này, khi thấy lại cái vương miện (mà cô ấy tưởng đã được mang đi xa), cô ấy đã té xỉu. Bỗng chốc, giả thuyết của tôi biến thành sự thực.

Và ai có thể là đồng lõa của cô ta? Tất nhiên là một người yêu, vì còn người nào khác có thể làm cô ấy quên tình thương và sự biết ơn mà cô ấy dành cho ông nữa. Tôi cũng biết ông và cô ấy ít khi ra giao du bên ngoài, và cũng ít có bạn đến chơi. Nhưng trong số bạn bè này có Bảo Minh. Trước đây tôi đã nghe nói về hắn ta, hắn là một người rất tai tiếng đối với các phụ nữ. Chắc hẳn hắn là người đàn ông mang giày và giữ các viên ngọc. Ngay khi bị Anh Thi nhận, hắn đã bám lấy hy vọng rằng sẽ không sao, vì không lẽ Anh Thi lại nói ra một sự thực, tố cáo chính những người trong gia đình mình.

Ông có thể đoán là sau đó tôi đã làm gì. Tôi hóa trang thành một người ở, và đến nhà Bảo Minh, làm quen với người hầu, để biết rằng chủ hắn bị thương ở mặt trong đêm hôm qua, và sau cùng, với món tiền nhỏ mọn sáu xu, tôi mua được một đôi giày cũ của Bảo Minh. Ngay sau đó tôi mang đôi giày đến nhà ông để ướm thử vào các dấu giày in trên tuyết. Quả nhiên là thấy đúng y.

Ông Huỳnh Anh nói:

- Chiều qua, tôi thấy trên lối đi đó có một người ăn mặc rách rưới.

- Người đó chính là tôi. Sau khi tìm ra thủ phạm, tôi về đây thay lại quần áo. Công việc của tôi bắt đầu khó khăn hơn, vì tôi biết rằng không nên bắt bớ hắn ta để ông khỏi bị tai tiếng, tôi cũng biết sẽ phải nói với một tên lưu manh và hắn sẽ biết lợi dụng thời cơ này để bắt bí ông và tôi. Đầu tiên, hắn còn chối, nhưng sau khi tôi kể hết cho hắn nghe những chuyện hắn đã làm, hắn làm dữ, giật lấy một cây gậy treo trên tường ; nhưng tôi đã đề phòng, nên tôi đã giáng cho hắn một báng súng lục vào thái dương : Từ lúc đó hắn trở nên biết điều hơn. Tôi đề nghị mua lại ba viên ngọc, với giá một ngàn bảng một viên. Đề nghị của tôi làm hắn hối tiếc. Hắn kêu lên : “Uổng quá, tôi lại đem bán mất rồi, với giá có sáu trăm bảng cả ba viên!” Tôi bắt hắn cho biết địa chỉ của người đã mua những viên ngọc, đổi lại với lời hứa với hắn, là sẽ không kiện cáo gì cả. Tôi chạy tới nhà người mua ngọc, và sau những hồi bàn cãi ráo riết với lão ta, tôi lấy lại được mấy viên ngọc, với giá một ngàn bảng một viên. Sau đó tôi tới thăm cậu con ông, để báo với cậu ấy là câu chuyện đã xong. Sau này, vì đã là hai giờ sáng, tôi trở về nhà và đi ngủ : Sau một ngày vất vả như vậy, nghỉ ngơi là điều cần thiết.

Ông Huỳnh Anh vừa đứng lên vừa kết luận:

- Và ngày ấy cứu nước Anh khỏi một câu chuyện tai tiếng thảm hại. Thưa ông, tôi không biết dùng lời lẽ nào để cám ơn ông, nhưng ông hiểu rằng tôi không quên ơn ông đâu.

Tài nghệ của ông vượt xa tất cả những điều mà tôi đã được nghe nói về ông. Bây giờ tôi chạy đến thăm thằng con trai tôi, và tôi sẽ xin lỗi nó về tất cả những sự khổ sở mà tôi đã gây ra cho nó. Về câu chuyện mà ông nói với tôi về cháu Hoa, tôi đau khổ lắm : Sự sáng suốt của ông có đủ để cho tôi biết hiện giờ nó ở đâu không?

Sĩ Lâm trả lời:

- Tôi có thể nói một cách không sai lầm rằng Bảo Minh đang ở đâu thì cô ta ở đó. Với lại lỗi hắn dù có lớn đến đâu đi nữa, thì chẳng mấy chốc, hắn sẽ nhận được một sự trừng phạt còn lớn hơn gấp bội.


CONAN DOYLE
THU AN dịch   


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 82, ra ngày 25-3-1973)

Chiếc Vương Miện Cẩn Ngọc (IX)

- Vâng. Sáng nay phòng nó trống rỗng, giường nó vẫn nguyên nếp từ tối qua ; trên bàn phòng khách có một bức thư gửi tôi. Chiều hôm trước, vì buồn rầu chứ không phải tức giận, tôi đã bảo nó là nếu nó lấy con trai tôi, thì đã không có chuyện gì xẩy ra cả. Có lẽ tôi không nên nói với nó như thế thì hơn. Trong thư nó nhắc về chuyện đó…

“Thưa bác kính yêu, cháu cảm thấy rằng cháu là nguồn gốc của mọi sự rủi ro của bác, rằng nếu cháu làm khác thì tai nạn đã không xảy ra. Với ý nghĩ đó, cháu sẽ không bao giờ sống sung sướng dưới mái nhà bác được nữa. Có lẽ tốt hơn là cháu phải vĩnh biệt bác. Bác đừng lo cho tương lai cháu : Cháu sẽ không phải lo lắng gì về vật chất đâu. Nhất là đừng tìm kiếm cháu : bác mất thì giờ vô ích và bác còn làm phiền cháu nữa. Sống hay chết, cháu vẫn là cháu Hoa đáng yêu của bác.”

- Ông nghĩ sao về lá thư này, ông Sĩ Lâm? Liệu con Hoa nó có nghĩ tới chuyện tự tử hay không?

- Không, không! Chắc chắn không bao giờ! Câu chuyện kết thúc như thế này có lẽ là êm đẹp nhất rồi, ông Huỳnh Anh ạ. Niềm đau khổ của ông đã chấm dứt.

- A! Thật không? Chắc ông đã nghe thấy tin tức gì rồi, phải không ông Sĩ Lâm? Mấy viên ngọc ở đâu?

- Nếu giả sử có phải mua lại với giá một ngàn bảng một viên, ông có cho là quá mắc không?

- Mười ngàn tôi cũng chịu nữa!

Sĩ Lâm mỉm cười:

- Không cần đến mười ngàn đâu. Chỉ cần ba ngàn bảng là câu chuyện xong xuôi. Với một ít tiền thưởng nữa, tôi giả thử như vậy. Ông có cuốn ngân phiếu đó không? Đây là cây bút. Xin ký cho 1 ngân phiếu bốn ngàn bảng. Tất cả sẽ xong hết.

Ông chủ ngân hàng vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ đến quýnh quíu. Ông ta vội lấy ngay ra cuốn ngân phiếu viết lên và ký tên. Sĩ Lâm đi về phía bàn giấy, mang ra một miếng vàng nhỏ hình tam giác, có gắn ba viên ngọc, và thảy trên mặt bàn.

Ông khách mừng rú lên, lượm lấy, lắp bắp:

- Ông thấy nó rồi ư? Ông đã tìm ra nó ở đâu vậy? Trời ơi! Thế là tôi đã thoát nạn! Trời ơi! Thoát nạn!

Nỗi vui mừng của ông ta cũng nhộn nhịp và mạnh bạo y như nỗi đau khổ của ông ấy lúc trước :Ông ta áp mấy viên ngọc lên chỗ trái tim.

Sĩ Lâm nhìn ông ta với vẻ nghiêm khắc.

- Ông còn một món nợ nữa, ông Huỳnh Anh ạ.

- Còn món nợ? – Ông ta vừa lập lại, vừa cầm lấy cây bút – Cho tôi biết là bao nhiêu, tôi sẽ trả.

- Không, không phải ông thiếu tôi, mà là thiếu cậu con trai ông những lời xin lỗi! Cậu ta có tấm lòng thật cao quí.

Trong câu chuyện này, cậu ta đã hành động một cách mà tôi sẽ phải lấy làm hãnh diện, nếu chính con trai tôi đã làm như vậy, giả sử tôi may mắn có được một đứa con trai!

- Vậy ra không phải thằng Anh Thi đã lấy trộm sao?

- Hôm qua tôi đã nói với ông rồi và hôm nay tôi xin nhắc lại lần nữa là “không”!

- Có thể như vậy được sao? Có thể may phước cho tôi đến vậy được sao? Trời ơi! Tôi phải chạy đến nói cho nó biết.

- Cậu ta đã biết rồi. Khi tôi tới tiếp xúc, cậu ta đã định không nói gì hết. Nhưng sau khi nghe tôi trình bầy mọi sự, chính cậu ta đã công nhận là tôi đã suy luận hợp lý và cũng chính cậu ta đã giải thích nốt cho tôi vài chi tiết mà tôi chưa thấy rõ ràng. Bây giờ chỉ cần ông báo tin là cô Hoa đã đi. Nhờ thế, có lẽ cậu ta sẽ tâm sự với ông.

- Vậy ra tôi là kẻ biết sau cùng. Xin ông kể lại sự việc cho tôi đi.

- Vâng, tôi sẽ kể hết ông nghe. Duy có điều là ông sẽ bị khổ tâm lắm. Trước hết tôi xin cho ông hay là Bảo Minh đã thông đồng với cô Hoa trong vụ này và cô Hoa đã trốn theo hắn ta.

- Con cháu Hoa! Không thể xảy ra chuyện đó!

- Thế mà đã xẩy ra đấy. Cả ông lẫn con trai ông đều không biết cái bản tính thật sự của con người mà ông thâu nhận vào vòng thân thuộc đó. Đó là một trong những người nguy hiểm nhất Anh Quốc. Một tay cờ bạc cháy túi, một tên lừa đảo hết thuốc chữa của xã hội, một người đàn ông không có trái tim và vô lương tâm. Cháu gái ông không biết gì về những điều đó của hắn ta. Khi hắn ta bắt đầu tán tỉnh cô Hoa, như hắn đã từng làm với cả trăm cô gái khác, cô ấy lấy làm hãnh diện đã là người con gái đầu tiên và duy nhất làm cho tim hắn ta rung động. Chắc ma quỉ phải biết rõ hơn về những điều mà hắn nói với cô ấy, chỉ biết rằng trong tay hắn, cô ấy trở thành một món đồ chơi : Họ gặp nhau gần như mỗi tối.

Ông chủ ngân hàng la to lên, mặt xám như tro tàu:

- Tôi không thể tin được, không thể được!

________________________________________________________________________________ 
Xem tiếp PHẦN X


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 81, ra ngày 18-3-1973)

Chiếc Vương Miện Cẩn Ngọc (VIII)

- Cậu con ông có mang giày dép gì không, lúc ông thấy cậu ấy?

- Nó chỉ mặc có một cái áo sơ mi và một cái quần dài.

- Cám ơn ông, chúng tôi đã gặp may lắm trong lúc điều tra vụ này, và nếu không tìm ra sự thật thì chính là lỗi của chúng tôi. Nếu ông cho phép, ông Huỳnh Anh, tôi sẽ tiếp tục đi tìm tòi ở bên ngoài.

Anh xin phép ra một mình, cắt nghĩa rằng nếu có đông người thì dấu chân sẽ làm rối loạn cuộc tìm kiếm của anh. Anh làm việc trong một giờ, rồi trở lại về phía chúng tôi, chân đầy tuyết và vẻ mặt bí hiểm.

- Tôi tin là tôi đã trông thấy tất cả những gì cần thấy, ông Huỳnh Anh ạ. Bây giờ điều mà tôi có thể giúp ông nhiều nhất trong vụ này, là đi về nhà.

- Còn những viên ngọc, chúng ở đâu, ông Sĩ Lâm?

- Tôi không thể nói cho ông biết được.

Ông chủ ngân hàng xoắn hai tay vào nhau, kêu lên:

- Tôi sẽ không bao giờ thấy lại chúng nữa. Còn con tôi thì sao? Ông đã làm cho tôi hy vọng trở lại mà.

- Tôi vẫn không đổi ý.

- Thế thì, vì tình yêu Thượng Đế! Ông cho tôi biết câu chuyện hắc ám nào đã xảy ra trong nhà tôi đêm qua đi!

- Nếu ông có thể tới nhà tôi sáng mai, vào khoảng giữa chín giờ và mười giờ, tôi sẽ rất sung sướng cho ông biết những gì tôi đã tìm ra. Có lẽ tôi hiểu rằng ông cho tôi toàn quyền trong vụ này, dùng bao nhiêu tiền cũng được, để tìm ra mấy viên đá phải không?

- Tôi cống hiến cả gia tài của tôi nếu tìm được chúng!

- Tốt lắm. Tôi đi lo vụ này. Chào ông! À! Có thể là tôi sẽ trở lại đây trước tối nay đấy.

Đối với tôi, thì đã rõ ràng như ban ngày là anh bạn tôi đã có một ý nghĩ nào đó trong đầu. Nhưng tôi không tưởng tượng nổi xem anh ta đi đến kết luận nào nữa. Thế nhưng trên đường về, tôi bắt đầu dò xét, anh ta tránh né khéo đến nỗi tôi phải chịu thua, không tìm hiểu thêm. Chưa đến ba giờ chiều, chúng tôi đã về tới nhà. Anh bạn tôi chạy vào phòng, và vài phút sau trở ra, đã hóa trang thành người hầu : áo len thun cổ cuốn, bộ đồ mòn cũ và bóng loáng, cà vạt đỏ, giày vẹt gót.

Sĩ Lâm vừa soi mình trong chiếc gương treo trên lò sưởi, vừa bảo tôi:

- Tôi tin chắc phải được. Tôi rất muốn anh đi với tôi, anh Hoàn ạ, nhưng tôi nghĩ là có lẽ tôi nên đi một mình thì hơn. Trong câu chuyện này, có thể là tôi đang đi đúng đường, mà cũng có thể là tôi nhầm lẫn. Dầu sao đi nữa, tôi cũng sắp biết nó ra sao. Tôi mong sẽ trở về đây sau vài giờ.

Anh ta xẻo một miếng thịt bò đút lò trên mặt tủ, kẹp vào giữa hai miếng bánh mì rồi ra đi.

Khi anh ta trở lại, tôi đã uống trà gần xong. Trông anh ta có vẻ rất vui : tay anh cầm lủng lẳng một chiếc giày cũ bằng sợi dây giày, ném nó vào một góc nhà. Tôi rót cho anh một tách trà. Anh nói:

- Tôi sẽ lại phải đi ngay – Tôi đang tiếp tục cuộc điều tra.

- Ở đâu?

- Ở bên kia thành phố. Và tôi cũng không biết khi nào sẽ trở về. Anh đừng nên đợi tôi Hoàn ạ!

- Mọi việc tiến hành ra sao?

- Ồ, cũng vầy vậy! Tôi không có gì phải phàn nàn. Lúc nãy tôi tới nhà ông nhà băng, anh biết không, nhưng tôi không vào nhà. Tôi thử lại bài toán, và thật đáng tiếc nếu tôi không làm vậy. Thôi, không nên nói chuyện lâu : tôi chỉ đủ thì giờ cởi bỏ bộ đồ hắc ám này đi, và lấy lại vẻ đàng hoàng một tí…

Tôi hiểu rằng anh có nhiều điều hài lòng hơn là anh đã nói ra, vì đôi mắt anh sáng lên, và trên đôi má gầy hơi lõm vào của anh thoáng thấy ánh hồng hào.

Nửa đêm, tôi vẫn chưa thấy tin tức gì của anh, tôi bèn quyết định đi nghỉ. Khi anh đang tiến hành cuộc điều tra thì có thể anh mất dạng đến mấy ngày đêm liền : vì thế tôi không lấy làm ngạc nhiên khi thấy anh về trễ.

Tôi không biết anh về vào giờ nào, nhưng sáng hôm sau, khi tôi xuống ăn sáng, thì đã thấy anh ngồi đấy, khỏe mạnh và êm ả, một tay cầm tờ báo, một tay cầm tách cà phê. Anh nói:

- Xin lỗi vì tôi ăn sáng trước không chờ anh nhé ; nhưng vì đã có hẹn với ông khách của mình, và bây giờ đã quá chín giờ rồi.

- Thật vậy. Với lại tôi vừa nghe chuông reo, chắc ông ta đấy.

Đúng là ông nhà băng của chúng tôi. Nhưng trông ông ta đã thay đổi hẳn đi. Bộ mặt ông ta bữa qua còn mập mạp, bữa nay đã dài ra, khổ sở, và tóc ông ta dường như bạc trắng thêm ra. Ông ta vào phòng với một vẻ mệt mỏi và buông trôi trông còn thảm hại hơn là vẻ giận dữ của ông chiều qua. Tôi đẩy chiếc ghế bành ra mời ông ngồi. Ông ta buông phịch thân hình xuống đấy. Ông nói:

- Tôi không biết tôi đã làm gì mà Thượng Đế bắt tội tôi như vậy! Hai ngày trước đây tôi còn là một người giầu có và sung sướng, không lo âu gì, cũng không cần gì. Và bữa nay tôi đã mất danh dự và bị bỏ rơi. Họa vô đơn chí, sự rủi ro không bao giờ tới một mình. Con Hoa nó lại bỏ tôi nó đi mất rồi.

- Cô ấy bỏ đi?

________________________________________________________________________________ 
Xem tiếp PHẦN IX


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 80, ra ngày 11-3-1973)

Lá tủi thân - NGUYỄN THÁI HẢI

Một

“Có lẽ trong xóm, gia đình em là gia đình đông nhất. Ngoài ông bà nội, ba má, chúng em có tất cả chín anh chị em, em là thứ bảy.

Năm nay, ông bà nội em đã già lắm rồi, có đến sáu mươi. Râu ông nội em bạc trắng, em vẫn thường vuốt ve mỗi khi ông ẵm. Bà nội em ưa nhai trầu, lúc nào miệng cũng tóp tép, răng chưa rụng bao nhiêu. Ông bà cũng còn có dáng khỏe mạnh, còn cuốc xới rau trái được. Việc đồng áng thì giao cho ba em từ ngày má em sinh con Tám, em kế em. Ba em mạnh khỏe lắm, da đen đủi, bóng lộn. Nhất là khi ba em làm việc ngoài đồng nắng, mồ hôi nhễ nhại, xem ba hệt như pho tượng đồng đen. Em thường gặp ba với hình ảnh đó vào những trưa đi học về. Thấy em, ba hay cười, quệt mồ hôi, rồi hai cha con đưa nhau về dùng cơm. Đi bên ba, em thấy mình nhỏ bé hẳn và thấy vững lòng vì được chở che. Má em trái lại, người gầy, xương xương, nhưng được cái ít khi đau ốm, em chưa thấy má bệnh đến hai ngày bao giờ, chỉ sơ sơ một ngày, xông một nồi nước là hết. Má em ngày ngày ra ngoài sạp bưởi bán, nhờ trời, má không nói thách, nhiều người tin cậy, nên cửa hàng đắt lắm. Vườn bưởi nhà em thật hữu ích.

Anh Hai em năm nay đã lên đại học, đi dạy học tư, tháng tháng vẫn đưa cho ba má em chút ít tiền kiếm được. Anh hiền lắm, hay chỉ bảo thêm cho các em, lại không đánh chúng em bao giờ, chỉ dịu ngọt dạy dỗ. Em ưng anh Hai nhất nhà. Chị ba em cũng còn đi học, ngồi lớp đệ nhất trường công. Chị ấy thích sau này sẽ thành dược sĩ gì đó, nhưng nghe đâu học khó mà tốn lắm, không biết rồi chị có được toại ý không, vì nhà em chỉ đủ ăn. Chị Tư em nghỉ học từ năm đệ ngũ, phụ với má em ngoài hàng hay lo việc bếp núc. Kế là anh Năm. Anh này ngộ ghê, học chẳng có môn nào khá cả, trừ môn quốc văn. Ông nội em bảo anh giống ông hồi nhỏ, không ưa toán, chỉ ham văn chương thơ phú. Anh Sáu mới mười ba tuổi, học đệ lục, siêng lắm. Chưa bao giờ phiếu điểm của anh có điểm nhỏ, toàn là nhất nhì. Em bắt chước anh Sáu, cố chăm học, nên không đến nỗi nào. Những đứa dưới em, có con Tám, thằng Chín, thằng Mười, ngồi lớp ba, tư, mẫu giáo trường làng. Má em thường gọi thằng Mười là út, má nói, nhất định má không sinh nữa, chín đứa đủ rồi, sinh nhiều chỉ thêm khổ, nuôi nhọc.

Tuy đông người thế, nhưng gia đình em không ưa xảy ra những chuyện xích mích, cho dù là giữa những đứa nhỏ như từ em trở xuống. Chúng em được anh Hai dạy bảo nhiều nên biết thương ông bà cha mẹ, không gây gổ nhau. Lúc nào gia đình cũng vui vẻ, nhất là vào bữa cơm. Thôi thì chuyện còn hơn pháo tết.

Gia đình em không giàu tiền của, ruộng vườn, nhưng lắm yêu thương hạnh phúc. Em mong sao đừng bao giờ em phải mất đi một người thân yêu trong gia đình. Có lúc em đã nghĩ rằng con người sẽ không chết nữa.”

Hai

Con Lá đọc lại một lần bài luận, sửa lỗi chính tả, chấm phết, rồi mới gấp để vào tập, mai góp. Cực ghê, làm luận tưởng tượng không gì khó bằng. Phải tự đặt ra cái thế giới nho nhỏ, phải sắp đặt, lại phải diễn tả ra. Đề luận cô cho kỳ ghê : “Tả những người thân yêu trong gia đình em”. Con Lá phải nghĩ mãi mới tưởng tượng mà đặt ra bài luận. Vì nếu tả chính gia đình nó, con bé chỉ viết được vài ba dòng. “Tả những người thân yêu trong gia đình em”, gia đình con Lá có ai đâu mà tả. Chỉ có ba nó với nó. Nhập đề hai dòng, tả ba nó hai dòng, nó hai dòng nữa, kết luận hai dòng nữa. Ngắn ngủn. Điểm nhỏ là chắc rồi. Mà con Lá đâu bao giờ muốn điểm nhỏ, nó muốn làm vui ba nó, hơn nữa, ba nó thường bảo : “Gắng học bây giờ, ngày sau sẽ đỡ khổ cực”. Nhà chỉ có hai cha con, con Lá không nghe lời ba thì nghe lời ai bây giờ.

Chợt có tiếng của ông Năm đờn:

- Học rồi chưa Lá, ra dợt lại bản nhạc coi.

Con Lá dạ một tiếng, rồi vội bỏ tập vô cặp, đến bên ba. Ông Năm đờn đã ôm cây đờn cũ ngồi trên chõng đợi tự bao giờ. Con Lá ngồi xuống cạnh ba, chiếc chõng kêu cót két. Ông Năm đờn hỏi con Lá:

- Mày thuộc bài rồi hả Lá?

Lá đáp:

- Con làm luận chớ không phải học bài, mà xong rồi.

- Thế bài nhạc mày thuộc chưa?

Con Lá nhăn mặt:

- Con ghét ca tân nhạc quá ba, ca vọng cổ đi ba…

- Vọng cổ gì, lóng này họ ít ưa vọng cổ rồi. Mày không thấy hôm mày ca bài “Hàn Mặc Tử” người ta cho quá cỡ đó sao. Đó là mày còn ca trật, tao còn đờn chưa rành. Chớ giờ mình dợt lại cho hay, dám được nhiều tiền lắm nghe con…

Con Lá nhìn lên mặt ba, vết thẹo dài kéo từ gò má lên tới giáp mí mắt trái, nhắc con bé nhớ lại ngày ba nó bị nạn, té từ ngọn dừa xuống bụi, bị đui luôn. Vết thẹo hằn trên mặt, ba nó chẳng được thấy một lần. Con Lá thấy tội ba ghê. Rất nhiều lần, nó thấy chán và gớm tởm cái “nghề” mà cha con nó đang làm, là đờn hát xin tiền bố thí của hành khách xe đò. Con Lá nhớ như in những cặp mắt khinh khi, những cái bĩu môi của khách đi xe. Nó muốn khóc, nhưng nghĩ lại ba, con Lá cố quên đi tủi nhục, rán sức.

Thấy con Lá ngồi im không nói, ông Năm đờn tưởng nó bỏ đi đâu, hỏi:

- Mày đâu rồi Lá?

Con Lá giật mình đáp:

- Con nè ba.

Ông Năm đờn nói:

- Ca nghe, tao đờn đó.

Con Lá dạ nhỏ trong họng, đợi ba dạo mấy khúc nhạc đầu, xong, nó bắt nhịp:

- Ai mua trăng tôi bán trăng cho… trăng nằm im trên cành liễu đợi chờ…

Lúc này, ngoài trời trăng cũng đã lên cao. Con Lá nhìn ra, nó thấy con trăng đậu trên ngọn cau nhà ai xa lắc. Nó nghĩ đến cái ông Hàn Mặc Tử nào đó, mà có lần ba nó kể chuyện, chắc đã làm thơ lúc nhìn trăng như nó lúc này. Nhưng con Lá không nghĩ đó là Hàn Mặc Tử, nó nghĩ là ba nó. Vì ba nó mới thực khổ cực, khổ cực như người thơ ngày xưa vậy. Bị cùi và bị đui có hơn gì nhau đâu.

Ba

Xe chạy đến chợ Đồn thì dừng lại, chờ xe ngược chiều qua hết. Người tài xế vừa đạp thắng, xe chưa dừng hẳn, những bà, những cô, những bé gái, bé trai, tay nâng cao từng rổ bánh kẹo, bưởi, mía ghim, ùa ra vây quanh xe mời mọc. Những tiếng rao quen thuộc:

- Mía ghim đây…

- Bưởi ổi đây…

- Bánh mì nóng đây…

Buổi sáng, nắng vừa lên, chói sáng nhưng không nóng. Cô Tiên với tay kéo tấm mành gỗ che một phần cửa xe. Nắng chỉ còn bám lên những thanh gỗ vô tri, cũ mèm. Một bé gái đưa rổ mận lên ngang cửa sổ xe, mời:

- Mua dùm em chục mận, cô Hai… mận cù lao mới hái…

Cô Tiên lắc đầu từ chối. Con bé bưng rổ đi nơi khác. Những tiếng mời rao vẫn vọng đều đều:

- Cô Ba mua dùm ổ bánh đi cô Ba…

- Thầy Hai mua dùm miếng bưởi xẻ, ngọt lắm…

Tiếng còi xe phía chiều ngược thật nhộn. Sáng chủ nhật, hành khách đi Sàigòn nhiều, nãy giờ có đến mấy chuyến xe liên tiếp, xe đò, xe hơi nhà, xe gắn máy cũng lắm. Điệu này chắc phải đến mười lăm phút mới hết xe chiều ngược. Cô Tiên lơ đãng nhìn sang bên kia đường. Gió thổi nhẹ làm vài sợi tóc cô lòa xòa. Chợt từ phía cuối xe có tiếng đờn ca. Cô Tiên ngoái lại, cô chỉ thấy một người mù tay ôm đàn, và mái tóc của một bé gái. Con bé đang ca bài Hàn Mặc Tử, người đàn ông mù, chắc là ba nó, đàn theo. Con bé ca thật ngọt, một tay nâng cao chiếc nón cũ xin tiền. Cô nghe đâu tiếng quen quen…

- Đường lên dốc đá… nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa…

Con bé đã ca lần thứ hai, và người đàn ông mù cũng được nó dẫn lại gần cửa sổ xe, chỗ cô Tiên ngồi. Cô lấy trong hộp ít tiền lẻ, đợi con bé đưa chiếc nón cũ lên, cô bỏ tiền vào, mấy đồng bạc cắc kêu leng keng. Cô liếc nhìn con bé, nhưng chiếc nón che khuất. Đợi đến lúc nó dắt ba đi nơi khác, cô mới thấy rõ. Và trời ơi! Con Lá! Đứa học trò giỏi nhất lớp cô, đứa học trò ngoan nhất lớp cô, đứa học trò có giọng ca hay nhất lớp cô đang đứng dưới kia, một tay dắt ba, một tay cầm nón xin tiền.

Cô Tiên dụi mắt sợ mình nhìn lầm. Nhưng rõ ràng là con Lá. Vậy mà hôm nào trả luận, cô hỏi có phải gia đình nó tả trong bài luận là thật, con bé trả lời phải. Cô đinh ninh nó sung sướng, có dè đâu. Có lẽ con bé tủi thân, không dám nói thật, sợ cô cười.

Con Lá vẫn cất tiếng, những đồng tiền cắc bố thí rớt thêm vào chiếc nón. Con bé hát như cái máy, miệng hát nhưng mắt ngó đâu đâu. Nó lơ đãng nhìn lên xe, nhìn xuống đường, nhìn ra cầu, nhìn xuống mé sông. Làm như với nó, công việc không là một ý muốn, mà là bắt buộc. Con Lá từ từ nhìn lại phía sau, cô Tiên thấy nó nhìn dần về phía mình. Cô sợ con bé thấy, vội kéo mành cửa xuống, nhưng cô mới vừa với tay níu mành cửa, cô đã nghe con Lá kêu một tiếng “ý” rồi không ca thêm nữa, dắt vội ba nó lủi vào lề. Ông Năm đờn bước vội theo con hỏi:

- Xe chạy rồi hả?

Con lá dối:

- Dạ, xe chạy rồi…

Mắt nó đỏ hoe, mặt nó bừng bừng nóng. Nó chỉ muốn chạy thật nhanh về nếu không vướng chuyện phải dắt ba nó. Con Lá nói:

- Mình về nghe ba.

- Gì kỳ vậy, mới có ba chuyến xe mà đã đòi về…

- Con nóng đầu quá, ba…

Ông Năm đờn lắc đầu chán nản. Con Lá nói thêm:

- Ngày mai con nghỉ học, ba…

- Chi vậy?

- Để ở nhà hát thế bữa nay…

Ông Năm đờn biết tính con, ưa thay đổi. Ông tưởng con Lá nóng đầu thiệt, chịu về. Con bé được ba ưng, dắt ba về thiệt lẹ.

Đằng này, đoàn xe cũng bắt đầu qua cầu. Tiếng máy xe nổ ầm ĩ.

Bốn

- Trong lớp cháu, em Lá là đứa học trò khá nhất đó bác.

- Cám ơn cô, đó cũng là nhờ cô dạy dỗ. Chớ tôi từ ngày đui mù tới giờ, không kèm cho nó được chữ nào, chỉ biết khuyên nó…


- Thấy em chịu học, cháu mến lắm. Em cũng mến cháu nữa. vậy mà không hiểu sao, mới thấy cháu ngồi trên xe, em đã bỏ chạy… Rồi lại nghỉ học mấy ngày…

- Nó sợ cô cười đó thôi, con bé còn nhỏ mà nhiều lúc như người lớn vậy, tự ái, ngồi khóc một mình. Về, nó có kể cho tôi nghe chuyện thấy cố…

- Tội nghiệp em, có lẽ vì thế mà em nghỉ học…

- Chút nó về, nhờ cô nói dùm tôi. Chớ tôi nói sao nó cũng không chịu đi học nữa. Cô tội nghiệp dùm tôi, có mình nó, mà ngày sau nó thất học, chắc tôi ân hận lắm…

Cô Tiên nhìn vào gương mặt người cha khốn nạn, có đôi giọt nước mắt ứa ra từ đôi mắt mù lòa. Cô an ủi:

- Bác để cháu lo cho, rồi thế nào em cũng đi học lại…

Ngoài ngõ có tiếng con Lá:

- Ông Bảy hết đế rồi, ba ơi…

Rồi nó chạy xộc vào nhà, tay cầm chai xá xị không. Cô Tiên gọi:

- Lá.

Con Lá đứng sựng lại, nhìn cô. Tay nó nắm cứng chai xá xị không, như để nương tựa. Rồi không biết nghĩ sao, con bé òa ra khóc. Cô Tiên bước đến dìu nó ngồi xuống cạnh mình, đưa tay vuốt lại làn tóc rối cho con bé, hỏi:

- Cô có làm gì đâu mà em sợ vậy…

Con Lá cúi gầm mặt không nói, cô Tiên lại thêm:

- Nghèo đâu phải xấu em. Biết giúp cha mẹ trong việc sinh nhai là quý lắm, sao em lại mắc cỡ…

Bấy giờ con Lá mới nói:

- Bị… có con bạn nói em là… đồ ăn xin…

- Đứa nào vậy, nói cô biết coi?

- Cô đừng phạt nó mới được…

- Ừ.

- Con Nhạn đó cô…

- Rồi tại vậy mà em cho đi ca kiếm tiền là xấu hả?

- …

- Nếu cô nói việc em làm là một việc tốt, em có tin không?

Con Lá tròn mắt, nhìn cô. Nước mắt nó đọng quanh mi, nó không đáp mà hỏi lại:

- Thiệt không cô?

Cô Tiên cười:

- Sao lại không thiệt? Em biết giúp đỡ ba để kiếm sống là tốt lắm. Ai biết chuyện cũng phải khen em hết. Nào, trả lời cô coi, cô nói vậy em tin không?

Con Lá vẫn nhìn cô không chớp, nó chưa đáp vội, liếc nhìn ba. Ông Năm đờn ngồi cạnh đó, không biết đang nghĩ gì, mặt buồn thiu. Con Lá thấy tội ba nó quá, đáp:

- Em tin…

Cô Tiên cười, con Lá cười theo. Nó lại nhìn ba, và nó thấy ba nó cũng nhếch mép cười nữa. Cô Tiên dỗ:

- Ngày mai đi học nghe Lá, mai có giờ luận đó…

- Cô cho tả gì thì tả chớ đừng bắt tả chuyện nhà nữa nghe cô, khó tả quá…

Cô Tiên nhớ lại bài luận của con Lá hôm trước, cô trêu:

- Khó mà em tưởng tượng được là : “Có lẽ trong xóm, gia đình em là gia đình đông nhất…”…

Con Lá cười. Ông Năm đờn tuy không hiểu rõ, cũng cười theo. Ông nói:

- Đông gì, nhà có hai cha con…

NGUYỄN THÁI HẢI

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 198, ra ngày 1-4-1973)

Chim Trong Lớp Học - nhạc: NGUYỄN THỊ MỸ THANH


(Tạp chí Tuổi Hoa số 233, ra ngày 1-4-1975)