Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

Lễ Giáng Sinh Của Anh Nhà Giầu Hổ Thẹn - MARIE NOEL - VƯƠNG NGỌC LÂM

LTS. MARIE NOEL là một nữ tu sĩ người Pháp, sinh năm 1883. Bà được kể là nhà thơ, nhà văn lớn của nước Pháp thế kỷ này, nhưng đặc biệt nổi tiếng trong giới độc giả Công giáo vì thơ truyện của bà – nhất là truyện – đã chuyên chở Giáo lý và tinh thần Phúc âm Công giáo một cách thật khéo léo, tài tình. Những đề tài trong Kinh Thánh, dưới ngòi bút tài hoa của Marie Noel, đã biến thành những truyện ngắn đẹp như truyện cổ tích, thơ mộng và hấp dẫn lạ lùng.

Marie Noel đã qua đời trong an bình tại tu viện Ste. Etienne vào đúng mùa Giáng Sinh năm 1967, hưởng thọ 84 tuổi.

Truyện Giáng Sinh dưới đây được Marie Noel viết trong những năm cuối của đời bà, cảm hứng từ câu truyện anh em nhà Giô-sép trong Sáng Thế Ký. Và Tòa Soạn xin được gửi lời cám ơn Bác sĩ VƯƠNG NGỌC LÂM đã có nhã ý diễn dịch dành riêng cho Tuổi Hoa.

T.H.

“Thế rồi các em hắn đem lòng thù ghét hắn”

(Sách Sáng Thế, XXXVII-4)

Lễ Giáng Sinh năm ấy, cũng như mọi năm, mẹ già Ra-Sen sửa soạn dắt các con trai đi viếng Máng Cỏ.

Bà đi gọi Xi-Mông đang làm ruộng, La-da-Rê, anh chàng thợ rèn và An-Rê, thằng con út còn cắp sách đến trường. Xi-Mông, La-da-Rê và An-Rê là ba người con trai trẻ nhất của mẹ Ra-Sen, những người con được bà cưng nhất vì bà đã sanh chúng ra trong tuổi già.

Bà ta còn một người con trai nữa, tên là Giu-Se. Người con đầu lòng ấy cũng đã có tuổi cho nên đi đứng không còn vững vàng và mắt không còn nhìn tỏ nữa. Giu-Se quả là người cần cù, đã làm việc rất nhiều và biết tiện tặn đến mức tối đa cho nên ngày nay gã khá giàu. Chính gã đã bỏ tiền ra, thứ tiền do mồ hôi nước mắt mà gã kiếm được, để xây đắp lại và chăm sóc ngôi nhà của cả gia đình và góp công với mẹ nuôi nấng các em.

Do đó, các em của Giu-Se đem lòng ganh ghét khi thấy gã thừa phương tiện làm đẹp lòng chúng trong khi chúng không sao qua mặt được gã và cho rằng đấy là một điều bất công. Chúng tìm cách xa lánh anh cả, và nếu có dịp gặp Giu-Se ngoài đường, thế nào một trong ba người cũng vội vàng cười khỉnh và lớn tiếng mỉa mai : “A ha, ngài Trưởng Giả của chúng ta đến kia…”.

Còn Giu-Se, gã một mực sống khiêm nhượng, lặng lẽ trong căn nhà gã mà không dám dùng đến những số tiền lớn lao, tựa như một anh chàng hơi xấu hổ vì không biết xoay sở làm sao để được tha thứ mối thù hiềm của bà con thân thích.

Nhưng hôm trước lễ Giáng Sinh năm ấy, không hiểu sao mẹ Ra-Sen lại đến gõ cửa nhà Giu-Se.

- “Này Giu-Se – bà ta thản nhiên nói – tí nữa ta và các con ta sẽ đi kính bái Hài-Đồng Giê-Su. Đường đi đến Giê-ru-sa-lem thì xa quá, mà ta lại không đủ lương thực. Anh, anh có thừa phần ăn. Hãy liệu làm sao giúp mẹ con ta đủ dùng lúc đi đường”.

- “Xin để con lo liệu, mẹ ạ! Giu-Se niềm nở đáp. Cái gì của con cũng là của mẹ cả. Con xin đưa mẹ các chìa khóa của con : đây là chìa khóa vựa lúa, đây là chìa khóa hầm thực phẩm, và đây là chìa khóa hầm rượu. Xin mẹ cứ lấy cho đủ đồ dùng và nhiều hơn nữa thì càng tốt. Con muốn rằng các em con không thể thiếu thốn bất cứ một thứ gì trong cuộc hành hương đại lễ này.”.

Mẹ Ra-Sen chọn lựa đầy đủ thực phẩm rồi ra đi. Chẳng mấy chốc, bà trở lại chép miệng:

- “Áo choàng của Xi-Mông bị thủng lung tung. Mẹ e rằng em nó sẽ bị cảm khi đi đường mất. Mẹ biết anh có nhiều áo choàng lắm. Vậy anh hãy cho em nó một chiếc đi”.

- “Dạ, xin mẹ cứ tự nhiên. Mẹ cứ lấy áo choàng chủ nhật của con cho em nó dùng. Quả là một diễm phúc lớn lao cho chiếc áo choàng của con khi được khoác lên vai em con để đến Bê-Lem”.

Mẹ Ra-Sen nhận chiếc áo ra đi, xong lại đến gõ cửa lần nữa:

- “Này Giu-Se, đế giày của em La-da-Rê bị há miệng hết rồi. Chắc những chiếc giày đó không thể dùng để đi hết quãng đường dài được. Anh, anh có nhiều đôi để thay đổi, vậy anh hãy cho mẹ một đôi để mẹ cho em nó dùng. Em anh còn trẻ, và khỏe mạnh hơn anh, chắc nó sẽ nhận ngay mà chẳng để ý gì đâu”.

- “Được lắm, mẹ Ra-Sen ạ! Xin mẹ cứ đem đôi giày của con về đi. Thật là một hạnh phúc vĩ đại cho đôi giày của con khi được lót đôi chân em con để đến Bê-Lem”.

Lấy giày xong, mẹ Ra-Sen chào con, và những bước chân của bà bắt đầu vang lên ngoài sân.

Giu-Se bẽn lẽn ra đứng ở ngưỡng cửa. Gã ngập ngừng hỏi mẹ:

- “Mẹ Ra-Sen, mẹ không cho con đi viếng Chúa Hài-Đồng cùng với mẹ và các em con sao?”

Trước câu hỏi của anh cả, mấy người em đua nhau phản đối và nhất loạt phẫn nộ:

- “Chúa Giê-Su không cần kẻ giàu đâu… Chúa Giê-Su không xuống thế vì kẻ giàu… Chính Chúa đã nguyền rủa bọn nhà giàu mà!”.

Mẹ Ra-Sen lạnh lùng nói thêm:

- “Ngoài ra, anh đã quá già, làm sao mà theo chúng tôi cho kịp! Anh đi đứng khập khiễng, chắc chẳng tiến được bước nào. E rằng anh chỉ làm chúng tôi chậm trễ mất thôi!”

Giu-Se buồn rầu rút nhanh chiếc nhẫn vàng ở ngón tay và chìa cho An-Rê.

- “Này An-Rê, vì chú còn nhỏ, chú hãy cầm lấy chiếc nhẫn của anh. Để đến Bê-Lem chú làm quà dâng Chúa Hài-Đồng!”

- “Không đâu! An-Rê lắc đầu nguýt dài. Tôi nghèo, tôi chỉ đem dâng Chúa Giê-Su những món quà của kẻ nghèo, những thứ mà Người ưa thích nhất! Vàng của anh không nghĩa lý gì đối với Người!”.

- “Đúng vậy! Giu-Se cúi đầu khiêm nhượng nói. Thôi chú hãy giữ chiếc nhẫn đó cho chú vậy. Và khi đến Bê-Lem, chú dâng giùm trái tim của anh cho Chúa Ki-Tô để cúi xin Người tha tội cho anh”.

- “Trái tim của anh ấy!... Anh ấy cũng có trái tim!… Trưởng Giả mà cũng có trái tim!... Ô hô, hách thật!”.

Cả ba người em cùng phá lên cười.

Và anh nhà giàu buồn bã cúi đầu vì đã bị hất hủi ra khỏi ơn Giáng Sinh.

- “Thôi, chúng ta đi hè”, mẹ Ra-Sen thúc giục. Rồi bà hớn hở rảo bước cùng với các con trai, tất cả các con trai của bà, ngoại trừ người con đầu lòng.

Khi mẹ Ra-Sen cùng các con đến Bê-Lem, có thể nói là lúc đó chuồng bò trỗi hội tưng bừng. Mẹ Maria và mẹ Ra-Sen lòng vui mặt mừng khi gặp lại nhau! Họ quen nhau từ lâu lắm. Và, năm nào cũng như năm nào, mẹ Ra-Sen lại vượt cùng quãng đường dài ấy để đến sùng bái và chúc tụng Hài- Đồng của Mẹ Maria, và Mẹ Maria lại thân mật hỏi han các con trai của mẹ Ra-Sen.

“Các cháu có mặt tất cả đây!”, mẹ già Ra-Sen hớn hở khoe với Maria. Đứa cầm liềm là Xi-Mông; đứa cầm búa là La-da-Rê thợ rèn, còn thằng cầm quyển sách là An-Rê đó. Bà có thấy chúng trẻ trung, khỏe mạnh và tràn đầy dũng cảm không? A ha, chắc chắn chúng ta sẽ làm nên chuyện với ba thằng con trai đó!”.

- Hình như thiếu một người? Mẹ Maria nhíu mày hỏi.

- Không thiếu ai cả! An-Rê nhanh nhẩu đáp.

- Thiếu anh Trưởng Giả, La-da-Rê lớn tiếng mỉa mai.

- Dạ, đó là Giu-Se! Xi-Mông lạnh lùng cắt nghĩa.

- Ta không biết ai là Trưởng Giả hết! Mẹ Maria lắc đầu. Ta chỉ biết Giu-Se thôi. Từ trên chốn trời cao, ta chỉ biết loài người bằng tên thật của họ mà thôi. Nhưng tại sao Giu-Se lại không đến? Hắn không phải là người thiện tâm sao?

- Hắn là kẻ giàu có mà! Xi-Mông cãi lại.

- Hắn là một chủ nhân ông! La-da-Rê nói theo.

- Và CON của bà đã nói :”Khốn cho những kẻ giàu có!”, An-Rê vênh mặt tuyên bố.

Bây giờ mẹ Ra-Sen mới lên tiếng phân trần:

- “Chân của Giu-Se đã bắt đầu cứng đờ rồi bà ạ. Chắc nó không theo kịp chúng tôi đâu. Mà tôi thì không muốn đến trễ!”.

Mẹ Maria lẳng lặng quay lưng đi đến Máng Cỏ bồng con dậy. Bà khẽ nói :”Hỡi chiếc mồm bé nhỏ! Cho đến bây giờ con chỉ đã nói với toàn là kẻ điếc, và ta sợ rằng về sau con sẽ còn nói với những kẻ điếc nữa mà thôi!”.

Thế rồi, giống như mọi khi, Mẹ Maria đặt Hài-Đồng Giê-Su ngồi lên đùi để Người đón nhận những lời sùng bái cùng lễ vật.

Mẹ Ra-Sen nhắc các con : “Các con đến bái Người đi!”.

Cả ba người con trai cùng cúi đầu quì xuống đất. Xi-Mông nói trước : “Lạy Chúa Giê-Su, con xin kính bái Chúa. Ngài là Thiên Chúa của kẻ nghèo! Con là kẻ nghèo mà Ngài ưa thích và con xin hiến dâng Chúa, cùng với chiếc liềm này, tất cả nhọc nhằn suốt bốn mùa của con”.

Hài-Đồng Giê-Su chỉ nhìn mà chẳng mỉm cười.

“Con ta không thích liềm đâu – Mẹ Maria lắc đầu nói. Hãy cho Người chiếc áo choàng đi”.

Rồi La-da-Rê bắt đầu nói : “Lạy Chúa, con xin kính bái Chúa! Con xin kính bái Chúa Ki-Tô thợ! Con cũng là thợ như Chúa và xin dâng Chúa, cùng với cái búa này, sự mệt nhọc suốt tuần của con”.

Chúa Hài-Đồng chỉ lắng nghe mà không mỉm cười.

“Con ta không thích cái búa này đâu! Mẹ Maria lại lắc đầu. Hãy dâng Người đôi giày kia thì hơn!”.

Cuối cùng đến lượt An-Rê bày tỏ cùng Chúa:

- “Lạy Chúa, con xin kính bái Chúa! Lạy Thiên Chúa của kỷ nguyên mới! Con sẽ nhân danh Chúa đi hủy diệt xã hội bất công để giành chỗ cho nước Chúa trị vì và con xin dâng Chúa, cùng với quyển sách này, cơn giận dữ ghê hồn những đêm dài vô tận của con”.

Nhưng lần này Hài-Đồng Giê-Su chỉ lẳng lặng ngoảnh mặt đi.

“Con ta sợ quyển sách đó, Mẹ Maria cúi đầu nói khẽ. Hãy cho Người chiếc nhẫn thì hơn”.

Thế rồi, Xi-Mông, La-da-Rê và An-Rê cùng đứng dậy. Và trong chuồng bò, dưới chân Hài-Đồng Giê-Su, chiếc áo choàng, đôi giày mới, chiếc nhẫn vàng lóe lên một nguồn sáng chói lọi. Hài-Đồng Giê-Su vừa sung sướng mỉm cười vừa với tay đến nguồn sáng ấy tựa như một chú bé ham thích ánh sáng diễm tuyệt của ngọn lửa.

Mẹ Maria nhẹ nhàng nói:

“Cám ơn bà lắm, mẹ Ra-Sen ạ, và ta cũng cám ơn các con bà đã đem cho con ta những lễ vật tràn đầy tình thương như thế này. Vì thật ra, chỉ nội trong một thứ quần áo ngày chủ nhật kia, chỉ một món thôi, con ta đã bắt gặp biết bao nhiêu là tình thương, nhiều tình thương hơn là trong mồ hôi của suốt một đời người vì thứ mồ hôi ấy đã hòa lẫn với mật đắng”.

“Thôi chào Xi-Mông, La-da-Rê và An-Rê. Hãy nhớ kỹ cho : sự nghèo khó còn có ích chi với anh nhà nghèo khi hắn ta đánh mất đi tình thương? Thôi, hẹn mẹ Ra-Sen đến sang năm vậy. Bà hãy trở về và nói giùm với Giu-Sê rằng:

“Kẻ được chúc phúc ở Máng Cỏ, chính là kẻ không đến được vậy”.

Marie Noel 
(Huế, Mùa Giáng Trần 1974
VƯƠNG NGỌC LÂM dịch)

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 229, số đặc biệt Giáng Sinh, ra ngày 1-12-1974) 

Đại Giáo Đường Thánh PHÊ-RÔ - PHẤT MỤC NHÂN NGHỊ & ÁNH MINH


Đây không phải là một công trình kiến trúc vô tri
 mà là một sinh vật biến đổi từng ngày.
Nhân mùa Giáng Sinh, mời bạn thăm viếng
ngôi Thánh đường đồ sộ nhất của Giáo hội La-Mã.

Mời bạn hãy cùng tôi bước vào công trường tráng lệ nhất của La Mã, rảo chân trong sự ôm ấp của hai hàng cột cao vút, cảm thấy tươi mát bởi những bụi nước bắn ra từ hai vòi phun đồ sộ giữa công trường với cột nước vọt lên trắng xóa dưới ánh nắng mặt trời. Bạn hãy bước lên hàng bậc cấp, vượt qua những dãy cột để đi vào Hoàng đường của tòa Thánh Phê-rô. Rất có thể bạn sẽ dừng lại giây lát, bực mình không đâu, để rồi thầm nghĩ:

“Quái lạ, sao lớn đến thế nhỉ!”

Và bạn lại tiếp tục rảo bước.

Những thiên thần kia với vẻ mặt tươi vui, tay nâng hồ nước thánh trông thật bé nhỏ làm sao – đến gần, bạn mới nhận ra rằng những thiên thần ấy còn cao lớn hơn chính bạn. Phía xa, hình chạm con chim bồ câu cũng đã lớn bằng con gà tây. Pho tượng vị thánh kia cao hơn gấp ba bề cao của bạn. Quản bút bằng lông chim nọ trong tay thánh Mathew dài gần 1,8m.

Phải, sự thật đúng như vậy : mọi vật ở nơi đây quả là đồ sộ mà ảo giác đã khiến bạn nghĩ sai lạc.

Thánh đường Thánh Phê-rô xứng đáng là ngôi thánh đường Thiên Chúa giáo lớn nhất hoàn cầu. Bởi bề dài ngót 200m trên một diện tích 40.000m2, đại giáo đường Thánh Phê-rô chứa đựng 499 cột lớn cộng thêm 439 bức tượng khổng lồ và hơn 40 bàn thờ riêng biệt kể cả bàn thờ chính, nơi thường chỉ riêng Đức Giáo Hoàng chủ lễ Mi-sa.


 Thánh đường Phê-rô có tất cả 10 mái vòm nằm rải rác quanh mái vòm chính trông tựa một vật bóng bằng đá khổng lồ dường như nổi lơ lửng trên những đám mây. Ngọn cây thánh giá vươn cao lấp lánh, cao bằng tòa nhà 35 tầng. Tháp thánh giá này là công trình vĩ đại cuối cùng của Michelange có một vẻ gì thanh thoát nhẹ nhàng. Nhưng các nhà toán học đã phỏng đoán trọng lượng của cây thánh giá này lên tới 55.000 tấn.

Công cuộc xây cất xúc tiến liên tục suốt 120 năm dưới đời 20 vị giáo hoàng do một số thiên tài vĩ đại của Ý-đại-lợi như Bramante, Michelange, Maderno, Bernini. Chưa một thánh đường nào được xây cất tốn kém bằng thánh đường Thánh Phê-rô, với phí tổn ước lượng 300 triệu mỹ kim, nghĩa là gần 16 lần chi phí xây cất thánh đường Saint Paul (thánh đường này tọa lạc tại Luân Đôn, được coi là lớn thứ nhì với bề dài khoảng 150 mét).

Cũng chưa từng có một giáo đường nào hấp dẫn được nhiều người đến viếng thăm bằng giáo đường Thánh Phê-rô với ít nhất 10 triệu người mỗi năm. Đối với tín đồ Công Giáo La-Mã, nhà thờ Thánh Phê-rô quả là thanh nam châm có từ lực mạnh nhất. Dĩ nhiên không phải chỉ có tín đồ Công giáo mới đến chiêm ngưỡng Thánh đường này. Du khách dù chỉ ở La-Mã vài tiếng đồng hồ cũng cố dành thì giờ để được tận mắt thưởng thức 2 kỳ quan : hí trường lộ thiên Colosseum và Thánh đường Thánh Phê-rô.

Tiếng vang của ngôi Thánh đường cổ kính này mãi mãi chẳng bao giờ bị dập tắt. Nhóm Sampietrini, do kỹ sư kiêm kiến trúc sư Jhancesco Vacchini cầm đầu, giữ nhiệm vụ tu sửa Thánh đường. Hoạt động suốt gần 400 năm nay với đường hướng cha truyền con nối, Sampietrini dường như chẳng bao giờ rảnh rỗi. Theo Vacchini, Thánh đường Thánh Phê-rô không phải là một vật chết như hí trường Colosseum mà là 1 sinh vật biến đổi từng ngày. Sửa xong một cánh cửa cổ xưa bằng gỗ rồi, các nhân viên lại quay sang đắp vá một pho tượng Thánh, rồi rời chỗ những mảnh đá cẩm thạch trên nền nhà hay thay những dây điện mới hoặc những ổ khóa mới…

Bây giờ bạn hãy cùng tôi theo chân một số tín đồ Công giáo vào sâu trong Thánh đường. Bạn sẽ dừng lại nghiêm trang trước Pietà (1), một tác phẩm điêu khắc vĩ đại của Michelange.

Tiếp tục viếng thăm chúng ta sẽ dừng lại quanh tượng Thánh Phê-rô đúc bằng đồng đen. Trong nhiều thế kỷ trước, các tín đồ Công giáo sùng đạo đã hôn lén bàn chân phải của Ngài đến nỗi ngày nay bàn chân này đã mòn mất một nửa. Hiện nay, chẳng còn ai cúi xuống hôn chân Ngài nữa. Được hỏi về lý do, một nhân viên cười và bảo rằng : “Vi trùng. Giữa thời đại nguyên tử này, người ta cho rằng hôn như vậy là mất vệ sinh”.

Rồi đến bàn thờ chính với một bức mành bằng đồng đen che kín, nơi đây mọi người cùng quỳ xuống cầu nguyện:

“Xin thánh Peter phù hộ cho chúng con được bình an dưới thế.”

Cách bàn thờ chính 24m, sừng sững 4 thân cột vĩ đại đỡ mái vòm chính của Thánh đường. Chu vi mỗi thân cột đo được khoảng 70m, mà 48 người nắm tay nhau bọc quanh mới khít thân cột.

Một trong 4 thân cột này ẩn giấu bên trong 3 di tích cuối cùng của Thánh Phê-rô. Người ta bảo rằng vật thứ nhất là gỗ của Thập tự giá, vật thứ hai là mảnh vải lau mồ hôi trên khuôn mặt Chúa Jesus và vật thứ ba là đầu ngọn giáo đã xuyên hông Chúa Jesus khi Ngài bị đóng đinh trên Thập tự giá. Thánh tích thứ tư là thủ cấp của Thánh Andrew đã được Đức Giáo Hoàng Phao Lồ Đệ Lục đem về Hy Lạp năm 1965.

Leo lên hàng trăm bậc cấp dưới mái vòm, bạn sẽ được nhìn thành phố Vatican, quốc gia “thủ đô” của Thiên Chúa giáo.

Giờ đóng cửa đã đến. Những du khách cuối cùng rời bước khỏi Thánh đường Thánh. Những cánh cửa song sắt khép lại phía sau. Bạn, tôi và nhiều du khách quay trở lại nhìn bóng ngôi giáo đường in trên nền trời luyến tiếc.

Hẳn mọi người sẽ thầm nghĩ : “Ngày nay còn ai xây nổi một ngôi Thánh đường như thế?”


PHẤT MỤC NHÂN NGHỊ
& ÁNH MINH          

 _________
 (1) Công trình điêu khắc tuyệt mỹ này, tạc Đức Mẹ Maria bế đứa con trai của bà, đã bị hư hại hồi tháng 5 năm 1973 khi một người quá khích dùng búa đập phá.


(Trích từ Tạp chí Tuổi Hoa số 229, số đặc biệt Giáng Sinh, ra ngày 1-12-1974)

Thánh Phúc - H. NGÂU


Trong nỗi vui êm ả
Em đón chờ ngày qua
Sắp sẵn từng lời nguyện
Cho ước mơ nuột nà.
 
Chuông reo lời thánh thiện
Chúa nhật vọng đầu tiên
Lòng chừng như mở rộng
Đón ngày vui mau đến.
 
Quì nguyện bên hang lừa
Tượng trưng nơi khi xưa
Ngài sinh trên nệm cỏ
Ấm nồng trong hơi thở.
 
Chói hồng lên niềm mơ
Rạng rỡ nguồn ân phúc
Hồn im giấc ngà say
Giữa muôn vàn thánh khúc.
  
                                    H. NGÂU
 
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 215, ra ngày 15-12-1973)

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Tượng Đá Biết Đi - LIÊN TRANG

Cu tí là một đứa trẻ thiếu cẩn thận. Cũng vì cái tật xấu này mà cu Tí bị ăn đòn không  ít : khi thì bị má quất cho mấy cán chổi, khi thì bị cô giáo nẹt cho mấy cái thước. 

Thế mà cu Tí vẫn không chừa! Hãy xem kìa, cu Tí đang nằm đọc truyện cổ tích. Đọc sách mà nằm đã là xấu rồi, thế mà cu Tí còn xỏ cả dép gác chân lên giường nữa chứ. Thật là tệ! Cu Tí xem truyện gì thế nhỉ? À! Truyện Hoàng tử hóa đá. Chắc là hấp dẫn lắm đấy nên cu Tí xem có vẻ say mê lắm. Coi! Cái chân cu Tí đong đưa ra bộ khoái chí. Nhưng hãy đề phòng… Không kịp nữa rồi, một chiếc dép của cu Tí văng ra, trúng ngay lọ mực để ở bàn học kế đó. Lọ mực rơi tòm xuống nền nhà, vỡ tan tành. 

Cu Tí giật mình ngồi nhỏm dậy. Má cu Tí cũng vừa chạy lên. Nhìn lọ mực vỡ, mực tung tóe hết nền nhà, bà vớ ngay cái chổi lông gà quất cho cu Tí mấy cái. Cu Tí định chạy trốn (bị mẹ đánh mà bỏ chạy quả là hư) nhưng má cu Tí đã giữ cu Tí lại được. Bà thẳng tay ban cho cu Tí cả chục roi để trừng trị cái tội đánh vỡ lọ mực. Ấy! Cũng chỉ vì không cẩn thận mà ra! 

Cu Tí khóc bù lu bù loa. Má cu Tí động lòng, tha không đánh nữa. Bà bảo cu Tí đi rửa mặt mũi sạch sẽ. Cu Tí nghe lời má lủi thủi đi ra sau nhà, vừa đi vừa thút thít thật tội nghiệp. Rửa mặt xong cu Tí trở lại thì không thấy má đâu nữa. Nền nhà đã được lau chùi sạch sẽ. Cu Tí thoáng thấy hối hận vì đã làm buồn lòng má. Tự nhiên cu Tí tấm tức khóc. Càng khóc, cu Tí càng thấy hối hận hơn. Cu Tí lên giường nằm gục mặt xuống gối mà cảm thấy thương má vô cùng. Rồi cu Tí ngủ khò lúc nào không biết. 

Bỗng cu Tí thức giấc vì tiếng loa gọi đâu đó. Cu Tí vội chạy ra bên cửa sổ để nhìn. Ngoài đường, một gã lính thời xưa (lạ nhỉ) đang bắt loa đọc lệnh truyền của nhà vua (lại lạ nữa!) 

- A lô, a lô, toàn dân hãy nghe đây. Hoàng tử vừa bị mụ phù thủy Ác Đức hãm hại biến thành tượng đá. Bà tiên Nhân Từ cho biết chỉ có nước suối cải tử hoàn sinh mới cứu được Hoàng tử. Ai dám chấp nhận gian nan, nguy hiểm đi tìm nước suối về cứu Hoàng tử sẽ được chia đôi giang san. Nghe đây, nghe đây… 

Chao ơi! Ai cứu được Hoàng tử sẽ được chia đôi giang san. Thế thì nhất rồi. Cu Tí phải ra tay ngay mới được. Để xem nào, cu Tí mà làm vua một nửa giang san, trước hết cu Tí sẽ sắm cho má một đôi bông kim cương như má vẫn ao ước, mua tặng cho ba một chiếc Honda để ba đi làm cho khỏe khoắn. Ý mà đâu được, hồi đó ba đã là ba của vua rồi thì cần gì phải đi làm nữa. Còn cu Tí, làm vua thì chắc cô giáo không đánh đòn! 

Nhưng trước khi đi phải xin phép má cái đã chứ. Chà! Sao bỗng dưng má hiền ghê vậy. Má chịu liền và căn dặn : con nhớ giữ gìn sức khỏe nghe! Có con ngựa đứng sẵn ngoài sân (có phải ngựa của vua Hùng Vương làm cho Phù Đổng Thiên Vương đó không?). Hồi nào tới giờ cu Tí chưa cỡi ngựa bao giờ, nhưng cứ thử xem. Hốp! Cu Tí đã lên lưng ngựa. Con ngựa phóng nước đại thật ngon lành. 

Muốn đến con suối, người ta phải đi qua một khe núi nguy hiểm. Nơi đó, cát từ trên cao đổ xuống không ngừng. Những hạt cát đó đã được mụ phù thủy làm phép nên ai bị cát rơi trúng đều hóa đá cả. Biết bao người đã thành đá rồi! Nhưng cu Tí đã có cách đối phó. Cu Tí đã đem sẵn một cái dù (ô). Cu Tí mở dù ra và nào một, hai, ba hãy bước thận trọng. Ôi chao ơi, cây dù bị cát rơi trúng hóa đá mất rồi. Nặng quá đi thôi. Cu Tí lấy hết sức nâng cây dù đá để che chở mình khỏi bị cát rơi vào. 

Thế là thoát, cu Tí đã đến bên suối cải tử hoàn sinh. Cu Tí múc một bình nước suối đầy rồi theo cách cũ ra khỏi khe núi. Sau đó, cu Tí thót lên ngựa phóng thẳng đến Hoàng cung. 

Nhà vua hay tin thì mừng rỡ vô cùng. Ngài ra đón tiếp cu Tí thật trọng hậu. Không chậm trễ một giây cu Tí xin nhà vua hướng dẫn đến bên tượng đá. Cu Tí ôm khư khư bình nước suối theo nhà vua. Vì Hoàng tử vốn cao lớn, nhà vua phải sai quân đem một cái ghế ra cho cu Tí leo lên dội nước suối tiên vào tượng đá. Cu Tí leo lên ghế nhưng khốn nỗi, vì thiếu cẩn thận, cu Tí ngã nhào. Bình nước suối trong tay cu Tí đổ ào xuống hai chân tượng đá. 

Lúc cu Tí lóp ngóp ngồi dậy thì bình nước suối tiên đã đổ hết. Cu Tí nhìn lại tượng đá thì eo ơi, phần trên thân mình của Hoàng tử thì vẫn còn là đá, nhưng hai chân đã thành chân gười, và cái tượng đá đó đang bước lần về phía cu Tí. 

Cu Tí sợ quá níu chặt lấy nhà vua và hét lên một tiếng. 


… Rồi cu Tí choàng tỉnh dậy. Hóa ra cu Tí vừa trải qua một giấc mơ. Cu Tí ôn lại câu chuyện rồi lẩm nhẩm một mình: 

- Ta quả là thiếu cẩn thận. Cho đến trong giấc mơ cũng còn bất cẩn. Thôi từ nay, ta phải cố chừa mới được. 

Đúng lúc ấy, có tiếng má cu Tí gọi: 

- Ra ăn cơm nào cu Tí. Ngủ rồi phải không? 

LIÊN TRANG        



(Trích từ bán nguyệt san tuổi Hoa số 214, ra ngày 1-12-1973)

Kỷ niệm đêm mùa Đông - LAM GIANG

Kính tặng thầy T. N. Hội

Trong mùa Đông lạnh giá, đêm Giáng Sinh là viên ngọc quí.

Từ hồi xa xưa bố đã bảo với em như vậy khi mùa Đông đến. Bố yêu quí của em, luôn luôn em tin bố nói đúng.

Hồi ấy, em còn nhớ lắm những ngày lạnh, bố thường ho luôn. Nhưng bố lại thích mùa lạnh mới lạ. Bố bảo trời lạnh bố thấy trong nhà ấm cúng hơn, bố lại thấy em xinh xắn và mũm mĩm hơn trong chiếc áo len xinh đẹp mà bố mua lúc sang mùa… Bố nói nhiều lắm, đến nỗi có muốn kể ra em cũng không thể kể được vì lẽ mỗi lần bố chỉ nói một ít bất chợt mà em thì lại có tật không thể nhớ cái gì một lúc được. Nhưng dù không nhớ được cả trong một lúc, những lời nói của bố, những kỷ niệm với bố vẫn hiện ra từ từ trong trí óc em không phai mờ. Nhất là kỷ niệm những ngày mùa Đông, không làm sao em có thể quên được. Có lẽ tới cuối mùa Đông này em sẽ nhớ ra hết bạn ạ.

Và vì bố em thích mùa lạnh nên em cũng thích mùa lạnh lắm. Và bây giờ thì em yêu mùa Đông như là chính bố yêu quí của em vậy.

Bố ơi, mùa Đông của mình đã đến lâu rồi và đêm Giáng Sinh cũng tới nốt, tưng bừng với lời chúc tụng muôn phương và bài Thánh ca thanh thoát, vút cao trong khắp không gian huy hoàng thánh thiện. Và ở đây, con đang kể cho bạn con nghe về bố đấy bố ạ. Bố cũng lắng tai nghe con nha bố.

Có những hôm lạnh bố ủ con trong chiếc áo bành tô rộng rãi của bố. Người bố ốm có bọc thêm em vào nữa cũng dư sức. Chiếc áo của bố thơm lừng mùi thuốc lá. Mấy nhỏ bạn của em thì bảo nói chuyện với bố em chỉ nghe hôi toàn mùi thuốc lá. Em, em nói bố thơm mùi thuốc lá. Những lúc rúc đầu vào áo bố để ngửi mùi thuốc lá khiến em thích thú. Bây giờ cái áo đó còn đây như bố vẫn ở bên em (ngày nào). Có lần em đã hỏi bố vào một đêm hai bố con rủ nhau ra sân hứng sương và gió lạnh trước đêm Giáng Sinh mấy đêm:

- Bố ạ, bố có bỏ hút thuốc được không hở bố?

- Không con ạ. Hỏi chi vậy?

Bố cười hỏi lại em. Chẳng lẽ em lại trả lời là : Con sợ bố bỏ hút thuốc con phải nhớ mùi khói thuốc của bố sao? Em vuốt ngực bố nói:

- Hút thuốc nhiều hại phổi lắm bố ạ.

- Bộ bố hút thuốc nhiều lắm sao?

- Không nhiều gì nhưng mà mỗi lần thấy bố là con thấy luôn điếu thuốc trên tay.

Bố cười và châm thuốc hút nữa!

- Bố lại hút thuốc nữa rồi.

- Ừ.

- Bố cứ hút cho nhiều vào rồi bố chỉ còn có mỗi lá phổi thôi bố ạ.

- Phổi của bố bây giờ chỉ còn có nửa lá thôi nhỏ ơi.

Đôi mắt bố mệt mỏi ngó xa xôi. Chắc bố đang buồn gì đó nhưng em không dám hỏi. Em mân mê những ngón tay ốm gầy của bố. Bố cúi xuống cười. Em muốn ngủ quên luôn trong nụ cười của bố. Những khi cười bố thật dễ thương, không ai biết trước đó mặt bố lạnh lùng và buồn lắm.

Bố mới cười xong đó mà bây giờ đã lạnh lùng ngó tận chân trời. Em dõi theo ánh mắt bố chỉ thấy màn đêm đen tối với vài đốm sao lạc lõng.

- Bố à, bố kiếm gì thế hở bố?

Bố vẫn lạnh lùng. Em gục đầu xuống lòng bố. Suýt chút nữa là em đã ngủ quên nếu bố không ho lên dữ dội. Em hốt hoảng chồm dậy đưa tay vuốt ngực cho bố, lo lắng vô cùng. Bố ho đến nỗi em phải mếu máo kêu lên:

- Đừng ho nữa bố ơi kẻo cổ họng bố nó toác ra hết bây giờ.

Em đứng xuống đất cầm mẩu thuốc trên tay bố vất đi rồi ôm lấy người bố kéo dậy.

- Vào nhà thôi bố ạ, bây giờ gió lạnh lắm.

Bố đứng lên và cầm tay em dắt vào nhà. Dáng bố cao và thẳng. Bố giữ dáng đi vững vàng chững chạc, con người bố toát ra một vẻ oai phong nghiêm nghị. Cũng có khi người bố nghiêng ngả trên ghế với nụ cười diễu cợt trên môi nhưng em vẫn thấy bố của em oai nghiêm lắm.

Dắt em vào tới trong nhà, bố quài tay khép cửa lại và đẩy em đi:

- Đi ngủ thôi con ạ, khuya rồi đó.

Em níu tay bố:

- Con muốn ngồi với bố chút nữa bố.

- Ừ, lại đây với bố.

Bố kéo em lại cái ghế bành to. Bố đưa tay vuốt ve cái áo len của em, mỉm cười âu yếm nói:

- Áo của con đẹp quá hở?

- Bố mua đó mà.

Bố mơ màng đùa:

- Để bố mua cho con vài chục cái nữa con mặc cho sướng nhé.

- Ừ, bố mua đi.

Em lấy tay che miệng cười, tiếp:

- Ngay bây giờ à bố?

- Thì ngay bây giờ chứ sao. Nhưng liệu tiệm nào còn mở cửa nhỉ?

Nói xong hai bố con cùng cười lên khanh khách. Rồi bố chép miệng:

- Nói vậy chớ bố cũng phải mua thêm cho nhỏ một cái màu thiên thanh nữa để nhỏ diện đêm Giáng Sinh chớ.

Mới chút xí mà bố bảo em diện. Em cấu vào tay bố còn bố thì cười nắc nẻ. Rồi bố đứng dậy bảo em:

- Được rồi đó đi ngủ đi con.

- Bố không ngủ luôn à bố?

- Không con, bố còn chấm nốt bài vở cho xong kẻo học trò nó mong nó buồn tội nghiệp. Với lại đâu đi dạy mãi được, phải nghỉ chớ phải không con? Nhưng phải có người thay cái đã.

Em lo lắng nhìn bố, nước mắt chợt ứa ra, em nói:

- Thôi bố ạ, bài vở để đó mai mốt hãy hay bố. Trời lạnh thế này.

Thế mà bố không nghe em. Bố nheo mắt rồi cốc nhẹ lên đầu em, nói:

- Đừng xúi bậy đi nhỏ. Có lạnh có ấm chứ. Bố còn khỏe như vâm.

Rồi bố ngất nghểu đi lại bàn. Em chạy đi lấy cái khăn choàng cổ quấn vào cổ bố cho bố ấm. Em cố ý quấn cho chặt để bố kêu lên:

- Bộ muốn xiết cổ người ta đấy hử?

Bố đưa tay nới khăn trong khi em chạy đi rót cho bố một cốc nước trà nóng.

- Uống đi bố cho ấm cổ, ấm họng, ấm phổi.

Bố quàng tay ôm vai em:

- Cám ơn, cám ơn người bạn nhỏ của bố. Đi ngủ đi con để bố ngồi kiếm cơm cho con ăn.

Nghe bố nói em không cầm được nước mắt.

- Con đã ăn của bố hết một lá rưỡi phổi rồi.

Bố cười phì:

- Bậy nào, phổi của bố vẫn còn nguyên vẹn hai lá con đừng lo. Phải ngủ ngoan nhé.


Kỷ niệm xa xưa bây giờ như văng vẳng đâu đây, em còn nghe bố ân cần ấm cúng. Một tiếng động nổi lên, em giương mắt ngó dáo dác. Chẳng có gì cả. Nến vẫn lung linh trong hang đá.

Bố ơi con nhớ bố quá, con muốn nhìn lại cái dáng cao gầy của bố, con muốn nghe lại giọng nói vuốt ve trầm ấm của bố, con muốn ôm bố trong vòng tay nhỏ nhắn của con như ngày nào. Bố à con nhớ bố.

Bố hứa mua cho em một cái áo nữa mà bố chẳng bao giờ gửi cho em được. Phổi của bố, ôi, em chẳng biết nó còn được mấy lá nhưng điều quan trọng là bố chẳng còn với em nữa bạn ạ.

Bố yêu quí của em, bạn thử tưởng tượng xem mất một người bố như thế không phải là điều đáng buồn cho em sao? Nhưng bố đã biểu em rằng : “Đừng buồn con ạ, nếu thương bố quá con hãy nghĩ rằng bố của mình sướng quá sắp được về với Chúa rồi, mừng cho bố chớ.” Rồi bố em cười bạn ạ! Không thể nào em quên được nụ cười của bố lúc bấy giờ. Em tự nhủ rằng đến phút sau cùng của cuộc đời em em cũng tỉnh và thư thái như bố yêu quí của em vậy.

LAM GIANG 

(Trích từ bán nguyệt san tuổi Hoa số 215, ra ngày 15-12-1973)

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

Ổ KIẾN LỬA - Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


1

Cô giáo đã ngừng nói, nhưng cả lớp vẫn còn ngồi im bất động. Cái không khí bi hùng của ngày Yên Bái cơ hồ sống lại ở đây, sống lại trong ánh mắt đỏ hoe và giọng nói xúc cảm của cô giáo, sống lại trong những cặp mắt ngô nghê và hơi thở dồn dập của học trò. Cô giáo đến ngồi trên ghế của cô, hai tay khoanh lại, cô nhìn chúng tôi như muốn đoán biết ý nghĩ của học trò cô. Chúng tôi lặng lẽ liếc nhìn nhau. Đứa nào như cũng sợ tiếng cử động của mình phá tan không khí yên lặng này. Đã biết bao lần, trong giờ Việt Sử, cô giáo giảng bài cho chúng tôi nghe về các anh hùng dân tộc chống Pháp, mà chưa có lần nào chúng tôi nghe xúc động như bây giờ.

Bỗng hồi chuông reo vang phá vỡ cái yên lặng đáng quý. Chúng tôi vẫn nhìn cô giáo. Cô đứng lên, ra dấu cho chúng tôi về. Như bầy ong vỡ tổ, mấy mươi cái miệng mở ra, xôn xao. Tôi nghe rõ ràng tiếng thằng Sơn xuýt xoa:

- Hay quá mày ơi! Cô giảng bài hay quá!

Thằng Hùng bày tỏ sự khâm phục của nó:

- Thích quá! Tao nghe cô giảng bài, tao khoái môn Việt Sử nhất.

Thằng Thụy nói nghiêm trang hơn cả:

- Tớ có một cuốn Quốc Sử dày, có in hình các anh hùng Việt Nam. Hình ông Nguyễn Thái Học oai lắm! Các bồ tới nhà tớ, tớ cho xem.

Cả lũ nhao nhao, đồng ý đến nhà Thụy để chiêm ngưỡng chân dung của vị anh hùng Yên Bái trong sách. Bàn tán một hồi chúng tôi giải tán, đứa nào về nhà đứa nấy. Khi ra đến cửa lớp, tôi chợt đứng lại. Một đứa đứng choán cả lối đi: thằng Rơ-nê! Tự nhiên tôi giận cay lên. Tôi đằng hắng một tiếng. Rơ-nê quay lại. Nó vội vã đứng nép vào dãy bàn. Tôi vẫn không đi. Tôi nhìn chăm chăm vào mắt nó. Đôi mắt xanh như mắt mèo của nó quỵt xuống, ngại ngùng. Bọn thằng Sơn đi phía sau, bảo tôi:

- Ra mau đi Hải! Tụi bây đứng chắn đường chi vậy?

Tôi không nói. Thằng Hùng nhận thấy có Rơ-nê đứng đó, bèn nói to:

- À! Tại có thằng Tây lai kia tụi mày ơi! Nó muốn gây với thằng Hải mà!

Cả bọn cùng nhìn thằng Rơ-nê trừng trừng. Những bàn tay nắm lại như muốn khiêu chiến. Rơ-nê cất nhanh mấy quyển vở vào cặp, chạy vụt ra khỏi lớp. Bọn chúng tôi cười vang lên đắc chí. Thằng Sơn to miệng nhất:

- Tây lai nhát như chó cụt đuôi há!

Chúng tôi ùa chạy ra ngoài. Dưới ánh nắng chói chang buổi trưa, tôi thấy bóng thằng Rơ-nê thấp thoáng sau hàng rào bông giấy. Bọn Sơn, Hùng đã rẽ sang ngõ khác. Tôi đi cùng một đường với Rơ-nê. Nó đi trước cách tôi không xa. Dáng dấp nó to lớn dềnh dàng, mái tóc trần màu đỏ hung của nó như muốn bốc cháy với ánh nắng. Tay nó đút vào túi quần cũ kỹ, chiếc cặp bên kia lỏng lẻo như sắp rơi. Trông nó chẳng có vẻ học trò tí nào.

- Rơ-nê!

Rơ-nê đứng lại, nhìn quanh. Cô giáo đang đạp xe đi đến phía nó. Sau khi cô mỉm cười với tôi, cô ngừng xe bên cạnh Rơ-nê, dịu dàng hỏi:

- Nhà em ở đâu?

Rơ-nê ấp úng những gì tôi không nghe rõ. Cô giáo tỏ vẻ ái ngại khi nhìn nó. Cô xuống xe, dắt bộ, vừa đi vừa nói chuyện với Rơ-nê. Trong lớp, đứa nào cô cũng biết nhà, biết cả tính tình và học lực, chỉ trừ thằng Rơ-nê, vì nó mới vào học một tuần nay, mà lúc nào nó cũng len lét như sợ sệt, đi học thì rất trễ mà ra về thì chạy ù như sợ ai đuổi. Hôm nay vì nó chậm trễ nên cô mới có dịp gặp nó, hỏi thăm về nó. Cô giáo hỏi chuyện nó thật nhiều. Tôi đi đàng sau, bỗng nhiên thấy tức tối thế nào! Tại sao cô giáo lại hỏi han thằng tây lai? Cô không ghét nó ư? Cô đã dạy chúng tôi những bài Việt sử, kể những giai đoạn đầy máu và nước mắt, khiến chúng tôi căm hờn thực dân vô hạn. Thế mà sao cô lại dịu hiền với thằng Rơ-nê, thằng tây lai, thằng mà chúng tôi đã ghét ngay từ hôm đầu? Chúng tôi cay thằng Rơ-nê lắm! Cái mặt tây lai mắt xanh mũi lõ trông mà ghét. Mà lúc nào nó cũng nhìn chúng tôi như chọc giận vậy. Chúng tôi đã nói với nhau có ngày cũng sẽ đánh cho nó một trận. “Chúng tôi sẽ rửa nhục!”, cái nhục mà mỗi giờ Việt sử cô giáo mỗi nhắc lại, mỗi đè nén trong lòng chúng tôi một mối căm hờn kỳ lạ, đang chờ dịp bùng lên. Thằng Rơ-nê sẽ là cái đích cho chúng tôi “rửa nhục”.

Rơ-nê vừa chào cô giáo để rẽ vào một ngõ hẹp. Cô giáo lên xe đạp đi. Và tôi, tôi cũng trở về trong xóm nghèo của tôi. Vào đến nhà, tôi vẫn miên man suy nghĩ. Tôi đang moi óc tìm kế gây sự với thằng Rơ-nê. Cả bọn chúng tôi phải gây sự với nó, phải đánh nó để… “rửa nhục” (!)


2

Chúng tôi ở nhà Thụy đi ra. Trọn buổi chiều nay chúng tôi tụ họp tại nhà Thụy để xem cuốn Quốc sử của nó. Cuốn sách thật dày, có bài học và tranh vẽ hoặc ảnh chụp các vị anh hùng Việt Nam. Chúng tôi xem say mê, bàn tán đến ồn. Xem mỗi trang, trí tôi lại nghĩ đến thằng Rơ-nê. Tôi ghét nó quá! Gặp mặt nó tôi chỉ muốn đánh. Nhưng nó to con, tôi ngán. Tôi muốn cả bọn chúng tôi cùng đánh nó, cùng “rửa nhục” với nhau. Thế nên khi xem xong cuốn Quốc sử, tôi đề nghị cả bọn ra đầu ngõ, nơi có những xe phở, xe mì, người ăn uống tấp nập để bàn chuyện về thằng Rơ-nê. Cả bọn bằng lòng. Chỉ có Thụy từ chối. Nó còn phải phụ mẹ nó mang hàng về và phải học bài ngày mai. Chúng tôi rất phục Thụy. Nó học giỏi và đàng hoàng nhất lớp, chắc nó không dự vào việc của chúng tôi đâu. Không một ngày nào nó xao nhãng việc học hành. Cuối năm nay thế nào nó cũng đậu vào lớp sáu trường công. Từ ngày được cô giáo giúp đỡ tiền học, nó lại tỏ ra chăm hơn. Nó làm việc gì cũng cẩn thận, suy nghĩ chín chắn, được cô giáo khen luôn. Nó không thù thằng Rơ-nê như chúng tôi, nên vắng mặt nó cũng không sao. Thế là chúng tôi kéo nhau ra đầu ngõ. Trời đã gần tối. Khu đất trống lâu nay biến thành nơi ăn uống sáng lên với đèn điện giăng đầy. Chúng tôi đứng tụ tập bên xe nước mía. Cả bọn nhìn tôi, chờ đợi. Tự nhiên tôi cảm thấy mình quan trọng hẳn lên như một “lãnh tụ” trước mặt đàn em. Tôi nuốt nước bọt, làm ra vẻ bí mật, giọng tôi hạ thấp:

- Phải cho thằng Rơ-nê một trận chúng mày ạ!

Hùng tiếp lời tôi:

- Thằng Hải nói đúng. Tao ghét thằng Rơ-nê lắm cơ!

Cả bọn nhao nhao:

- Tao cũng vậy, tao căm thằng đó lắm.

- Ừ, cái mặt dễ ghét! Cái mặt thực dân!!

“Thực dân”! Tôi nghe giận sôi trong lòng. Đôi mắt xanh lè, chiếc mũi lõ và mái tóc quăn màu đỏ hung của Rơ-nê hiện ra, khiêu khích tôi. Thằng Vàng nóng ruột:

- Thế… “trị” nó bằng cách nào hở mày?

Tôi cau mày suy nghĩ. Thằng Tài đưa ý kiến:

- Nó ngồi gần tao. Nó hay xin “cọp-dê”. Để ngày mai tao giả vờ cho nó “cọp-dê” , rồi tao thưa cô, cho cô đánh nó, phạt nó quỳ.

Sơn gạt đi:

- Không được. Phải tự tay mình đánh nó mới là “rửa nhục”.

Tôi gật gù. Đúng, phải tự tay đánh nó! Phải tự tay tôi nắm lấy tai nó, nhéo một vòng, cho đến khi nó chảy nước mắt. Phải tự tay tôi nắm lấy tóc nó, giật mạnh cho nó kêu rú lên. À! Tôi sẽ lấy kềm vờ kẹp vào móng nó, dọa rút móng nó, cho nó lạy lục xin tha mới được. Tôi phải chơi trò thực dân với “thực dân”. Ôi những trò tra tấn dã man mà tôi chỉ thấy trong sách, chỉ nghe cô giáo kể cũng đã thấy rợn người, tôi sẽ mang ra dọa thằng Rơ-nê, kẻ thù số một của tôi. Mà phải gây sự thế nào, để được đánh nó một cách đường hoàng, không để cho nó kêu oan. Khó lắm! Đánh bạn học, đó là điều mà cô giáo luôn luôn ngăn cấm. Đánh kẻ yếu – chúng tôi đông mà! – lại là việc hèn hạ lắm, cô giáo vẫn bảo thế. Cô sẽ không tha chúng tôi nếu cô thấy chúng tôi uy hiếp thằng Rơ-nê. Cô lại sẽ giảm lòng yêu thương chúng tôi, nếu cô biết rằng chúng tôi lập mưu đánh thằng bạn mới.

Hết đứa này đến đứa khác đưa ra cách này, cách nọ. Tôi chẳng thấy cách nào ổn thỏa. Thù thằng Rơ-nê, nhưng chúng tôi lại không muốn mất lòng tin của cô giáo. Cô vẫn bảo rằng người Việt Nam giàu lòng nhân đạo, và cô lại tin tưởng ở lòng nhân đạo đó trong chúng tôi nhiều hơn nữa. Nhưng gác lòng nhân đạo qua một bên, chúng tôi vẫn oán thù thằng Rơ-nê lắm, hay đúng hơn, chúng tôi oán thù thực dân. Thực dân đâu có nhân đạo. Thực dân tàn ác lắm, đọa đày nước ta đến cả thế kỷ. Thực dân hủy diệt của chúng ta biết bao giá trị thiêng liêng, hủy diệt nhân tài của chúng ta, giết dân ta, làm dân ta đói. Thực dân về nước đã lâu, nên chúng tôi chỉ thấy thằng Rơ-nê trước mắt.

Nắng đã gần tắt. Chúng tôi còn đứng với nhau, chưa tìm được một kế nào. Tôi nghe tiếng mẹ thằng Sơn réo gọi nó đàng xa. Thằng Sơn tách khỏi chúng tôi, ù chạy về nhà. Tôi bảo:

- Thôi, tụi mình về cho rồi. Để tao nghĩ lại, tao tìm cách khác cho hay. Ngày mai họp lại, rồi tao chia việc cho tụi mày. Nhất định “trị” thằng Rơ-nê.

Câu nói của tôi “nhất định trị thằng Rơ-nê” được lập lại trên cửa miệng của từng đứa. Chúng tôi chia tay. Tôi rẽ vào ngõ xóm, vừa đi vừa nghĩ ngợi. Tôi dừng lại trước cây trứng cá to, dõi mắt nhìn lên tìm xem có trái không. Và khi tôi nhìn xuống, tôi chợt nghe nổi gai ốc khắp người. Mặc dầu trời gần tối, nhưng tôi cũng thấy rõ cái cảnh ghê rợn ấy. Dưới gốc cây trứng cá, cách chân tôi vài bước, một đống đất sủi lên, to bằng cả cái mâm, trên đó những chấm nhỏ đỏ hoe đi động âm thầm. Ổ kiến lửa!!! Tôi sờ cánh tay: tay tôi “nổi da gà” cả lên. Tôi nhìn ổ kiến lửa. Thật vô phúc cho ai giẫm phải chỗ ấy. Và… tôi nghĩ ra rồi! Tôi vừa thấy lóe lên một mưu kế. Ổ kiến lửa! Thằng Rơ-nê!!!..


3

Bỗng nhiên tôi nghe tim đập thật mạnh. Tôi hồi hộp quá! Lần đầu tiên tôi sắp đặt một cuộc “rửa nhục”. Kế hoạch đã xong xuôi tất cả. Chúng tôi chỉ còn đợi giờ về. Suốt bốn giờ học tôi không thấy chú ‎ý vào bài một chút nào. Thỉnh thoảng tôi lại nhìn sang thằng Sơn mỉm cười. Rồi cả hai chúng tôi cùng nhìn xuống chỗ Rơ-nê. Nó vẫn vô tình chăm chú nghe giảng bài. Nó không hề biết rằng nó sắp bị “trả thù”, bị một hình phạt ghê gớm để đền tội thay cho “cha ông” của nó.

Khi tiếng chuông reo vang, đợi cô giáo vừa ra, tôi và thằng Sơn chạy trước chúng bạn. Thằng Sơn sẽ đợi ở đầu ngõ nhà tôi. Tôi đi sau, chậm rãi đợi Rơ-nê. Hôm nay Rơ-nê lại được cô giáo hỏi chuyện. Tôi phải đi thật chậm, và thỉnh thoảng giả vờ cúi xuống sửa quai giày để cô giáo khỏi nghi ngờ. Đến khi cô giáo lên xe đạp đi, tôi đứng hẳn lại, vẫy Rơ-nê:

- Này Rơ-nê! Lại đây đi với tớ cho vui.

Rơ-nê tỏ một nét ngạc nhiên trên mặt, nhưng nó vẫn đến gần tôi. Tôi khen:

- Bồ có cái mũ ngộ quá nhỉ!

Rơ-nê đỏ mặt sờ lên chiếc mũ đội trên đầu, chiếc mũ màu “nhà binh” bạc phếch, có lẽ lượm được ở đâu. Tôi giả vờ hỏi thế, chứ chiếc mũ này – chúng tôi chú ý từ sáng – đã nằm trong kế hoạch của chúng tôi rồi. Rơ-nê cười gượng:

- Của má tôi lượm ngoài chợ đấy Hải à!

Tôi đoán không sai mà! Thì ra Rơ-nê cũng chẳng giàu có gì! Mà thật, hầu hết bọn học trò chúng tôi, bọn học trò của ngôi trường nghèo, của cô giáo nghèo, cũng chẳng giàu có gì. Tôi lơ chuyện ấy, hỏi sang các chuyện khác. Tôi giả vờ khéo lắm. Tôi gắng nói với nó bằng giọng ngọt ngào thân thiết, mà kỳ thật tôi muốn tát tai nó ngay. Tôi gắng đóng kịch thêm một tí, và giây lâu tôi lại thấy bóng thằng Sơn thấp thoáng đàng xa.

Tôi hỏi Rơ-nê:

- Nhà bồ ở đâu?

Rơ-nê không đáp. Nó muốn giấu tôi chăng? Tôi lại hỏi:

- Ba má bồ làm nghề gì?

Nó đáp thật nhỏ:

- Má tôi bán rau ngoài chợ. Còn ba tôi… không biết.

Rơ-nê cúi đầu. Tôi nghe được một tiếng thở dài. Hai đứa yên lặng đi. Tôi nhìn sang nó. Dáng nó trông buồn buồn. Mái tóc quăn đỏ hung không nhét hết trong chiếc mũ lượm mót phủ xuống vầng trán nó, che tối cả đôi mắt xanh. Tôi lại nhìn đàng trước. Sắp đến ngõ nhà tôi rồi. Thằng Sơn đứng sẵn ở kia. Rơ-nê bảo tôi:

- Mai Hải cho tôi mượn vở toán nhé!

Tôi do dự rồi gật đầu đại. Rơ-nê ấp úng:

- Hải… chỉ lại bài cho tôi, tôi… không hiểu bài gì hết.

Tôi lại gật đầu. Rơ-nê nhìn tôi, đôi mắt biết ơn. Tự nhiên nó nắm tay tôi, nói:

- Thôi, tôi về nhé! Nhà tôi trong ngõ này.

Không hiểu sao tôi đứng im như tượng đá. Tôi không trả lời, cũng không tỏ vẻ gì hết. Tôi nhìn theo Rơ-nê. Nó sắp rẽ vào ngõ nhà nó…

Bỗng thằng Sơn, từ sau một chiếc xe vận tải đang dừng, chạy ra. Sơn lại sát bên Rơ-nê, giật mạnh chiếc mũ trên đầu nó, rồi chạy vụt đi. Rơ-nê kêu lên:

- Ê Sơn! Chơi gì kỳ vậy? Trả mũ đây!

Thằng Sơn nhỏ con, chạy mau như thỏ. Nó quẹo vào ngõ nhà tôi. Tôi chạy theo. Sơn chạy đến gần cây trứng cá. Nó nhắm một cành cây gãy mà tôi đã chọn, ném chiếc mũ lên. Nó ném thật hay, chiếc mũ bị móc ở đầu cành đong đưa. Mưu kế được thi hành không sai một tí. Thằng Sơn nhìn tôi, cười, và nó chạy đi – nó chạy đi gọi bọn thằng Hùng, thằng Vàng…

Tôi bỗng nhìn cây trứng cá, nhìn chiếc mũ tòn ten, nhìn ổ kiến lửa dưới gốc cây. Và tôi ngoái đầu nhìn phía sau. Rơ-nê chạy theo gần đến. Thân hình dềnh dàng của nó làm nó chạy chậm lại, thở mệt mỏi. Nó chợt nhìn thấy chiếc mũ của nó tòn ten trên cây trứng cá. Nó chạy vội đến. Tự nhiên tôi nhắm mắt lại. Cành cây cao không quá đầu người.. Rơ-nê sẽ hấp tấp đến đó, đứng dưới gốc cây với tay lên lấy mũ xuống. Chân nó sẽ giẫm vào ổ kiến lửa… Ổ kiến lửa rộng bằng một cái mâm, những chấm nhỏ đỏ hoe di động trên đó… Kiến lửa sẽ bò lên chân Rơ-nê… Rơ-nê sẽ hét lên, nó sẽ đau đớn và hãi hùng… Hình ảnh đó lóe thật nhanh trong óc tôi. Ôi kiến lửa! Kiến lửa của lũ học trò quái ác… Tôi mở mắt ra như thoát khỏi một cơn mê. Trong phút giây, tôi thấy Rơ-nê tội nghiệp quá. Thằng Tây lai, thằng “thực dân”, thằng “kẻ thù số một” của chúng tôi… tất cả không còn. Tôi chỉ thấy nó là một người, một thằng người biết đau đớn như tôi. Nó đã chạy đến gần cây trứng cá. Cành cây gãy có mang chiếc mũ của nó giơ ra như cánh tay vượn. Tôi hét lớn:

- Rơ-nê! Ngừng lại!

Không đợi nó ngừng lại, tôi phóng đến kéo lui nó ra sau. Cả hai đứa tôi ngã xuống. Rơ-nê lồm cồm ngồi dậy, ngạc nhiên. Nó nhìn tôi. Tôi nói hổn hển:

- Có… có ổ kiến lửa… dưới gốc cây kìa!

Rơ-nê nhìn theo. Nó kêu lên kinh hãi. Tôi nhìn nó, rồi chợt tôi nghe buồn buồn trên mắt. Tôi nghĩ đến cô giáo. Cô giáo! Cô vẫn tin tưởng vào lòng nhân đạo ở bầy học trò của cô. Cô luôn luôn tin như thế. Ôi, chúng tôi có lỗi với cô giáo vô vàn. Chúng tôi vô lý‎, nông cạn, và suý‎t chút nữa chúng tôi làm một việc tàn nhẫn. Rơ-nê nhìn tôi như muốn cám ơn. Đáng lẽ nó phải rất oán hận tôi chứ! Tôi cúi đầu, nước mắt tôi trào ra. Rơ-nê vẫn chưa hết xúc động. Tự nhiên tôi đến gần nó, nắm chặt lấy tay nó. Rưng rưng, tôi nhìn lên cây trứng cá, cành cây gãy mang chiếc mũ của Rơ-nê giơ ra như cánh tay vượn.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 109, ra ngày 1-7-1969)

Đêm vô cùng - Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Dem vo cung .jpg
* Truyện Ngắn
* Tác giả : CAM LI NGUYỄN THỊ MỸ THANH
* Trích trong Bán Nguyệt San Tuổi Hoa
* Nguồn : Truyện do chính tác giả gửi tặng
---------------
1
Nhanh như chớp, Vic Morrow gạt mạnh chân của tên lính Đức. Tên này ngã xuống. Vic Morrow cướp lấy khẩu súng và đã chuyển bại thành thắng…
Lũ trẻ con vỗ tay reo hò. Tiếng nhạc chấm dứt phim “Combat” dồn dập. Màn ảnh bỗng nhiên nổi những hạt nhỏ li ti. Ông Hai thở ra:
- Rồi! Lại “tóe sao” nữa. Ba tắt nghen!
Mấy đứa trẻ nhao nhao. Hòa nói lớn:
- Hết phim rồi, để ba tắt máy. Tí nữa mười hai giờ lại mở ra mà! Tha hồ xem Ông Già Nô-en kể chuyện.
Lũ trẻ vâng lời răm rắp. Ông Hai vặn trái nút máy truyền hình. Khung ảnh trở lại xám ngoẹt, vô vị. Bà Hai bảo mấy đứa con:
- Thôi, tụi con đi ngủ đi! Hết phim rồi! Lạnh quá mà ngồi đây chi?
Bọn trẻ không chịu vào buồng, vì chúng nó còn muốn chống mắt chờ đến mười hai giờ khuya để được xem Ông Già Nô-en nói chuyện trong máy truyền hình. Bà Hai đành “chịu thua”.
- Nhưng muốn ngồi đây thì phải mặc thêm áo lạnh. Tụi con có nghe gió thổi nhiều ở ngoài không? Đợi từ đây đến khuya có nước chết cóng.
Bà mang thêm áo lạnh ra cho lũ nhỏ. Tất cả ba đứa –nằm, ngồi trên chiếc ghế bố lớn kê trước mặt chiếc máy truyền hình. Đêm nay chúng không chịu ngủ trong buồng mà đòi ngồi ở phòng ngoài để chờ đến nửa khuya. Nhưng trẻ con không làm đúng ý muốn, nên chỉ mười phút sau chúng đã ngủ quên trên ghế bố.
Chỉ còn lại ông bà Hai với Hòa. Hòa ngồi viết nơi chiếc bàn nhỏ kê gần cửa sổ đóng kín. Ông bà Hai ngồi ở bộ sa-lông đan bằng mây. Một thoáng yên lặng khiến Hòa nghe rõ tiếng gió rít từ những đồi thông bên ngoài. Hòa đưa mắt lén nhìn ba má. Tự nhiên Hòa thấy gương mặt của ba trầm lặng hơn bao giờ. Còn đôi mắt của má sao lại trĩu xuống buồn tênh. Ba má không nói một lời nào cho phá tan cái không khí u tịch này. Hòa toan mở lời, nhưng tiếng lách tách của thanh củi trong lò sưởi đã làm bà Hai quay lại. Nhận thấy đã gần hết củi, bà Hai đứng dậy mang những thanh củi còn lại để đun thêm vào lò. Ánh lửa bùng lên làm hiện rõ những nếp nhăn trên mặt bà Hai. Tự nhiên Hòa nghe lòng xúc động lạ thường. Hòa nhìn má, rồi nhìn ba. Sống với cha mẹ, gặp cha mẹ hàng ngày mà Hòa tưởng chừng mới gặp lại hai người để kịp nhận thấy rằng họ đã già rồi. Cuộc sống ở đây bình lặng quá đã khiến Hòa lầm tưởng rằng thời gian không có ảnh hưởng gì đến con người. Hòa có hay đâu năm này qua tháng nọ ông Hai đạp xe đi xuống con đường dốc đầy đất đỏ tới sở làm thì mái tóc đã đổ đầy muối tiêu; và năm này qua tháng nọ bà Hai cặm cụi trong bếp núc, trong sân vườn nhà, sau rẫy khoai lang, thì bàn tay đã cằn cỗi và gương mặt đã nhăn nheo thêm. Bù lại, Hòa đã lớn lên đây, và các em cũng đã lớn lên. Thỉnh thoảng có thư của bác Cả gửi lên, trong thư bác có khuyên ông bà Hai nên dọn xuống Sài Gòn ở để tiện việc buôn bán làm ăn và để cho các con được đi học ở các ngôi trường lớn. Nhưng ông bà vẫn chưa quyết định dọn đi.Và như thế, gia đình Hòa vẫn sống ở đây, trên sườn đồi vắng vẻ, cách xa những ngôi nhà khác. Ba má Hòa trồng khoai ở sau nhà, và vun xới nào rau cải, nào hoa, nào cây ăn trái. Cuộc sống này đã quá quen thuộc, khiến không ai cảm thấy buồn hay sợ. Nhưng có nhiều lúc, như bây giờ đây, Hòa thấy ba má ngồi suy nghĩ trầm ngâm. Má có lúc ngồi nhìn ra cửa kính đăm đăm, trông xuống chân đồi như ngóng đợi một ai. Nhưng Hòa nghĩ mãi, không biết có ai để cho má đợi chờ. Nhiều lần Hòa xem trong hộp ảnh của má, đầy đủ hình ảnh của họ hàng. Từ ông bà nội, ông bà ngoại, các cô các chú, các cậu các dì. Nhưng ông bà nội, ông bà ngoại đã mất. Bác Cả ở dưới Sài gòn, các cô các chú đã có gia đình nhưng vẫn thường gửi quà về cho chị em Hòa. Không có ai phai lạt tình cảm với gia đình Hòa cả. Còn các cậu các dì, không bao giờ Hòa được nghe má kể rõ ràng về họ. Má chỉ bảo rằng khi xưa thời buổi loạn lạc, họ hàng xa cách nhau là thường. Hay chính vì vậy mà má vẫn thường đăm chiêu nhìn ra cửa ngóng trông? Hòa thường hay đặt giả thuyết là các cậu các dì đã chết, chứ nếu không thì họ đã tìm về đây – căn nhà của ông bà ngoại mà bao năm rồi vẫn không hề thay đổi.
Ông Hai bỗng đứng dậy, nhìn một lượt năm đứa nhỏ, bảo vợ:
- Má con Hòa đem tụi nhỏ vào buồng đi, để ngủ ở ngoài nầy lạnh lắm.
Bà Hai cũng đứng dậy, nhưng bà nhìn lại lò sưởi:
- Chà, củi nầy khô, cháy mau quá, hết cả rồi. Để tôi ra sân đem củi thêm vào đã.
Hòa ngưng viết, nói:
- Má để con ra lấy cho. Trời không lạnh lắm đâu! Với lại… để con ra xem trời có nhiều sao không…
Bà Hai nhìn chồng, cười:
- Nó lại muốn mơ mộng cả ngoài trời lạnh nữa.
Trong khi ông bà Hai bồng mấy đứa nhỏ vào buồng ngủ, Hòa mở cánh cửa lớn, lách mình ra sân. Gió lạnh hắt vào người Hòa. Hòa đến bên đống củi, nhặt vài thanh củi ôm thành một ôm. Hòa ngước nhìn trời. Sao thật nhiều, sáng rực lạ lùng. Hòa đảo mắt nhìn xuống chân đồi. Qua những hàng thông chằng chịt, con đường như khép lại. Ngoài cửa rào, Hòa bỗng thấy thấp thoáng một bóng đen.
2
Bà Hai đã lo xong chỗ ngủ cho bọn trẻ. Bà trở ra trong khi ông Hai đang mở lại máy truyền hình. Tiếng cửa kẽo kẹt cùng tiếng gió rít làm cả hai người cùng nhìn ra. Hòa đi vào, tay ôm bó củi, nhưng theo sau là một gã đàn ông. Bà Hai kêu rú lên khi nhận thấy cây súng dài đen ngòm trong tay hắn. Ông Hai đứng bật dậy. Gương mặt Hòa tái xanh đầy vẻ kinh hoàng. Đúng lúc đó những hạt trắng hiện lên trên màn ảnh nhỏ, lờ mờ khuôn mặt của Ông già Nô-en. Gã lạ mặt cất giọng nghe dữ tợn:
- Dẹp cái thứ đó đi!
Ông Hai bước lùi lại, tắt máy. Gã đàn ông lại quát:
- Hai người này, ngồi xây mặt vào tường, không được cựa quậy.
Thừa biết sự nguy hiểm có thể xảy ra, ông bà Hai làm theo lời của tên lạ mặt. Sau đó, gã chĩa súng vào Hòa, hỏi:
- Trong nhà còn ai không?
Hòa lắc đầu:
- Chỉ có mấy đứa em tôi ngủ ở trong buồng. Không có ai nữa hết.
Kẻ lạ mặt ngoái đầu nhìn vào buồng. Gã tỏ vẻ yên tâm, ra lệnh:
- Con nhỏ này ngồi xuống ghế, học bài đi! Khôn hồn thì im, không tao bắn chết.
Hòa ngồi xuống, nhưng liếc nhìn lò sưởi, và kêu lên:
- Ông cho tôi đun thêm củi, chứ hết củi rồi, lạnh lắm!
Gã nọ ngăn lại:
- Để đó cho tao. Mày ngồi yên.
Gã quơ mấy cây củi, bỏ vào lò. Ánh lửa hực lên, chiếu cả vào gương mặt gã, đỏ rực. Hòa thấy gã đứng dáng lom khom. Cây súng vẫn thủ trên tay gã, làm tăng thêm vẻ dữ tợn. Hòa nghĩ nếu gã vất cây súng đi, thì gã cũng chỉ là một con người hiền hòa như ba, như má. Nhưng Hòa không hiểu gã vào nhà này làm gì. Gã là một tên cướp, một kẻ vượt ngục, hay…??? Hòa không dám nghĩ đến những điều không may. Nếu lỡ chăng gã lạ mặt này là một kẻ đang bị tầm nã, thì không sớm thì muộn ngôi nhà này sẽ trở thành một pháo đài. Hòa nghĩ đến một lúc nào đó súng sẽ nổ thật dòn từ dưới đường cái lên dần đến sườn đồi, tràn ngập sân nhà, sau rẫy khoai. Và ngôi nhà nầy có còn không? Hòa thốt, giọng lo sợ:
- Ông … ông là ai?
Gã đàn ông nhìn Hòa, đôi mắt không có một chút thiện cảm. Gã lặng thinh, ra dấu cho Hòa ngồi yên trên ghế. Rồi gã đứng cạnh lò sưởi, trông chừng cả Hòa lẫn ông bà Hai. Hình như gã lạnh lắm – Hòa chắc như vậy, vì trên người gã chỉ có một bộ đồ đen, mà da gã thì tái mét lại. Gương mặt gã xanh xao gầy ốm như người bệnh, còn đôi bàn tay xương xẩu thì đang nắm chặt cây súng. Trông gã không có vẻ gì là một tên cướp như trong phim ảnh cả.
Năm phút yên lặng trôi qua. Ông bà Hai vẫn ngồi trên ghế mây, xây mặt vào tường. Ông Hai đã hết lo ngại, vì thấy kẻ lạ mặt không giở trò gì hết, nhưng bây giờ ông thắc mắc không hiểu gã vào nhà ông để làm gì. Còn bà Hai thì run rẩy, nhưng không phải vì lạnh. Bà vẫn nghe rõ ràng tiếng củi reo lách tách, nhưng bà không biết sau lưng bà, con gái của bà đang ra sao. Còn năm đứa nhỏ trong buồng nữa, nếu có việc gì xảy ra, ai lo cho chúng nó? Tiếng chuông đồng hồ báo hiệu chỉ còn nửa giờ nữa là đến mười hai giờ khuya. Nỗi xúc động như đang bị người lạ đến phá rầy cái hạnh phúc nhỏ bé ở nơi hẻo lánh này làm nước mắt bà Hai ứa ra. Hơn lúc nào hết, những lời khuyên trong thư bác Cả hiện đến, thúc giục. Bà Hai nhắm mắt, len lén thở dài…
Đằng kia, gã lạ mặt đang tò mò giở mấy trang giấy của Hòa đang viết nửa chừng. Đôi mắt hắn chợt như dịu lại. Đôi môi thâm ngắt mở ra:
- Làm “văn sĩ” nữa cơ à?
Hòa không trả lời. Hắn lại cầm tập giấy lên, lẩm nhẩm đọc. Hòa len lén nhìn gã. Ánh lửa từ lò sưởi chập chờn trên gương mặt khô khan. Hòa thấy hình như gã có vẻ bồn chồn hơn ban nãy. Còn cây súng trên tay gã! Hơi thép lạnh kề bên đe dọa làm Hòa rùng mình.
3
- Hòa ơi! Hồi chiều má dặn con chế đầy bình thủy để sẵn, con có làm chưa?
Gã lạ mặt quay lại nhìn bà Hai. Hòa đáp:
- Dạ có. Con chế đầy rồi má.
Gã nói:
- Dẹp đi! Không có nước non gì hết.
Bà Hai năn nỉ:
- Ông làm ơn cho con tôi đi pha cà phê cho ba nó. Đêm nào ổng cũng uống cà phê. Ông làm ơn….
Nghe đến “cà phê”, đôi lông mày của gã cau lại. Hòa thấy gã kín đáo nuốt nước bọt. Hòa nhìn gã, dịu dàng hỏi:
- Ông ơi! Hình như… ông đói lắm?
Gã giật mình, rồi bỗng gã thốt lên:
- Sao… cô bé biết?
- Tôi nhìn ông, tôi biết. Ông có thích uống một tí cà phê cho đỡ đói không?
Gã lắc đầu, gằn một tiếng:
- Không!
Hòa đưa tay chỉ về phía bếp:
- Tôi không làm gì khác đâu! Tôi xuống bếp pha cà phê, rồi bưng lên ngay. Đứng ở đây ông có thể nhìn xuống bếp canh chừng tôi.
Gã lại nuốt nước bọt. Hòa nhẹ nhàng đứng dậy, vừa dò xem phản ứng của gã. Gã gật đầu. Hòa đi xuống bếp. Đứng ở cạnh bàn, gã trông thấy Hòa nhắc bình thủy, lúi húi pha cà phê.
Hai phút trôi qua. Hòa bưng một cái khay với hai tách cà phê đi lên. Gã nhắm mắt, hít lấy hương thơm đậm đà đang tỏa ra từ trên tay Hòa. Hòa đặt một tách cà phê xuống trước mặt ông Hai, rồi tiến về phía gã nọ. Hắn sáng rực đôi mắt, chờ đợi. Nhưng chợt Hòa ngừng chân, và gã cũng giật mình, vì nghe có tiếng chó sủa vang dưới đường cái. Gã hé cửa nhìn ra. Phía dưới kia hình như có ánh đèn pin lập lòe. Rồi mơ hồ, gã nghe có tiếng chân bước trên đá, tiến dần lên đồi. Tiếng chân càng lúc càng rõ hơn. Mặt gã rắn lại. Gã hất hàm hỏi Hòa:
- Cái gì vậy?
Hòa đáp, giọng run lên:
- Có lẽ… đó là tiếng chân của mấy anh nghĩa quân đi tuần. Ông!... Trời ơi!
Hòa ôm mặt. Cảnh ngôi nhà này biến thành pháo đài cho một tay súng tung hoành, sân nhà thành bãi chiến, vẽ ra trong trí óc ngây thơ. Tách cà phê còn nghi ngút khói thơm, nhưng không còn kích động đối với gã lạ mặt. Gã lầm lì hỏi:
- Đàng sau nhà có còn ngõ đi không?
- Dạ… chỉ có rẫy khoai. Nếu ông muốn đi, ông phải leo lên dốc. Qua khỏi cái “dông” ấy ông phải đi cả buổi nữa mới ra đến Cam Ly. Nhưng… ông không chịu nổi đâu, lạnh lắm. Mà ông lại đang đói nữa.
- Kệ tao! Để tao đi ngõ sau.
Gã toan đẩy cánh cửa . Nhưng đàng sau nhà thấp thoáng ánh đèn pin. Gã lắc đầu, run rẩy. Gã đẩy Hòa nép gần bàn viết, ra lệnh:
- Đứng yên! Cả hai ông bà kia nữa, không ai được la lên.
Đôi tay xương xẩu nâng cây súng, lên đạn. Hòa kinh hãi:
- Ông ! Trời ơi! Ông đừng chống lại họ. Họ đông lắm!
Gã banh áo ra, để lộ cho Hòa thấy những băng đạn dài quấn trong người. Hòa muốn quỵ xuống vì hãi hùng. Bà Hai nói như sắp đứt hơi:
- Lũ con tôi…chắc chết mất… Ông ơi!...
Ông Hai đờ người trên ghế. Có lẽ đây là giây phút cuối cùng ông còn ngồi ở đây để thấy ngôi nhà yêu dấu. Ông nhắm mắt lại, biểu lộ một sự bất lực trước tên lạ mặt.
Có tiếng lá xao động ngoài vườn. Gã sửa soạn vị trí để kê cây súng. Gã quay nhìn Hòa, dò xét thái độ của Hòa. Trong phút giây sợ hãi, Hòa nhìn xuống tách cà phê dành cho gã còn nghi ngút khói. Và, nhanh như chớp, Hòa bưng tách cà phê lên, tạt mạnh vào mắt gã. Đôi bàn tay xương xẩu buông rơi cây súng, ôm mặt. Tiếng rú đau đớn nghe rụng rời.
4
Mọi việc xảy ra như trong một khúc phim nghẹt thở. Cô bé Hòa hành động lanh lẹ như một anh hùng trong phim “Chiến trận”. Nhưng lũ trẻ nhỏ còn ngủ ngon nên không có tiếng reo hò. Và Hòa không đoạt khẩu súng, không trói tay gã lạ mặt. Mà cô bé bật lên khóc, vừa khóc vừa lấy khăn lau mặt cho hắn, và cởi chiếc áo ấm của mình choàng lên người hắn.
- Cậu Quy! Có phải cậu Quy đây không? Má ơi, má quay lại đi! Má nhìn xem có phải cậu Quy, em của má đây không? Ba ơi! Ba có nhận ra người này không? Cậu Quy, cậu không biết cháu, nhưng cháu biết cậu. Cháu nhận ra cậu khi cậu đứng gần lò sưởi, dáng cậu khom khom. Cậu có nhớ ngày xưa cậu chụp một bức ảnh mà cậu đang khom lưng ôm củi trước nhà ông bà ngoại không? Cháu nhận ra cậu ghì tay trên cây súng. Cậu có nhớ ngày xưa cậu chụp một bức ảnh mà cậu đang ôm một cây súng giả không? Và cậu có một bức ảnh đang đọc sách nữa, rõ ràng là hình ảnh của cậu đây, giống khi mà cậu đọc tập truyện của cháu. Cậu Quy, hình ảnh của cậu và các cậu, các dì khác còn đầy một chiếc hộp mà má cháu gìn giữ. Cậu có nhận ra ngôi nhà này không? Ngôi nhà này ông bà ngoại để lại cho ba má cháu nè! Hay cậu cố tình quên? Cậu có nhận ra má cháu không? Tại sao khi vào nhà, cậu không vui mừng vì gặp chị? Sao cậu mang cả súng vào đây? Mái nhà này, ba má cháu đã cố giữ gìn, đã cố lưu lại ở đây để chờ ngày các cậu, các dì trở về. Cậu nhìn ba má cháu đi! Hai người chắc trông già hơn ngày xưa rất nhiều phải không cậu? Ngày xưa chưa có cháu. Và các cậu, các dì đã đi đâu, đã làm gì, cháu không được rõ. Cháu là Hòa, còn ba đứa em cháu nữa, chúng đang ngủ trong buồng. Tất cả là cháu của cậu. Chúng cháu vẫn hằng mong có ngày gặp lại các cậu các dì. Cháu mơ làm văn sĩ, nên cháu hay xin má cho xem hộp ảnh, để vẽ vời cho các cậu các dì trong những truyện của cháu. Bây giờ cháu đã gặp cậu rồi! Sao cậu không tỏ vẻ vui mừng hay nói một câu thân tình khi trở về ngôi nhà này hở cậu? Cháu chờ đợi cậu nói, nhưng cơ hồ cậu không nhớ gì cả. Cậu không nhận ra ai cả sao? Cháu đã pha cà phê cho cậu uống, vì cháu biết cậu đói. Nhưng cậu lại muốn biến ngôi nhà này thành chiến trường, muốn phá hủy rẫy khoai, vườn rau, muốn giết những người ngoài kia. Cậu biết không, họ là những người bạn của cậu đó. Chú Văn, chú Hoài, chú Bảy cụt một ngón tay, cậu nhớ họ không? Họ đã giúp đỡ cho ba má cháu rất nhiều, đã góp bàn tay sửa sang ngôi nhà này, vun xới mảnh đất này. Cháu không muốn họ chết. Cháu cũng không muốn cậu chết. Cậu cho cháu xin lỗi cậu thật là nhiều…. Cháu hành động xuẩn ngốc, nhưng không thể không làm. Cháu chờ đợi cậu nói ngay từ phút cháu mơ hồ nhận ra cậu. Và cháu cũng chưa kịp nói với cậu… Cậu Quy, cháu xin phép cậu tháo những băng đạn này ra nhé! Không có hận thù khi bước vào căn nhà này. Cậu đừng chối bỏ tình người trong cậu. Cậu nhìn ba cháu, má cháu đi, cậu ơi! Cậu Quy ơi!..
Người lạ mặt – đúng hơn, cậu Quy của cô bé Hòa – buông hai tay, cố hấp háy đôi mắt. Đồng thời với tiếng xô ghế đứng dậy của ông Hai, đồng thời với tiếng kêu vừa xót xa vừa vui mừng của bà Hai, người ấy ôm siết đứa cháu trong đôi tay xương xấu. Từ đôi mi mắt còn bỏng rát, hai giọt nước mắt bỗng bất ngờ thoát ra, lăn xuống quanh đôi gò má cao…
Có tiếng gõ cửa dồn dập, rồi cánh cửa bật mở tung mang theo tiếng gió rít. Rất đông người hiện ra, in hình trên khung trời đầy sao sáng. Và tiếng khóc của cô bé Hòa dậy lên làm mềm mọi trái tim.
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
(Bán nguyệt san Tuổi Hoa, không ghi số)