Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Đền Kiếp Bạc - PHAY VAN

Những trang dưới đây trích trong Quốc Sử lớp Nhì do anh Đinh Thanh Nguyện gởi.
Tran Hung Dao 1

Tran Hung Dao 2
Đền Kiếp Bạc – nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1226 -1300) – nằm trên địa phận hai vùng Vạn Yên (làng Kiếp) và Dược Sơn (làng Bạc), thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đền thờ này được xây dựng từ thế kỷ thứ 14 để tưởng niệm vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo – người có công lớn với đất nước và được dân gian tôn sùng là Đức Thánh Trần.
Tương truyền rằng vào thế kỷ thứ 13 tại nơi này (thời Trần gọi là Vạn Kiếp), Trần Hưng Đạo đã lập căn cứ, tích trữ lương thực, huấn luyện quân sĩ trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên. Đây cũng là nơi Trần Hưng Đạo lui về nghỉ ngơi lúc tuổi già.
Cổng đền nhìn từ bên ngoài:
“Hưng Thiên Vô Cực”
“Trần Hưng Đạo Vương Từ”.
1
.
2
.
5
.
4
.
Toàn cảnh đền từ cổng vào: bên trái có một cái giếng tên là Giếng Mắt Rồng. Tương truyền mạch nước ngầm của giếng này xuất phát từ dãy núi Rồng và do Yết Kiêu khám phá.
Giếng Mắt Rồng đã bị vùi lấp qua nhiều năm. Gần đây, căn cứ vào lời kể của các bô lão thôn Dược Sơn, người ta đã cho khơi lại giếng này.
3
.
Đôi xương chân voi của Trần Hưng Đạo:
Theo truyền thuyết, có một con voi chiến được Dã Tượng huấn luyện, đã cùng Trần Hưng Đạo xông pha chiến trận, lập nhiều chiến công. Một lần bị sa lầy ở sông Hoá, Trần Hưng Đạo tìm mọi cách cho voi lên nhưng không được, ông đành phải để voi lại và dùng ngựa đi tiếp. Con voi nhìn theo chủ ứa nước mắt.
Người đời sau đã tìm thấy đôi xương chân voi liền dâng về đền Kiếp Bạc. Du khách khi viếng đền Kiếp Bạc đã tới xoa vào đôi xương chân voi được đặt trước bàn thờ để cầu may đến độ hai đầu xương nhẵn bóng.
6
.
Tượng Trần Hưng Đạo:
7
.
8
.
Sau thời kỳ triệt phá đình chùa, đập vỡ và buông sông ảnh tượng nhằm xóa sổ các tôn giáo tại miền Bắc vào những năm 1960-70, đời sống tinh thần của dân chúng hiện nay có vẻ như đang được dẫn dắt bởi một thứ tôn giáo mới nhuốm màu sắc mê tín dị đoan mà giáo chủ là đảng cộng sản.
Vào năm 2006, nhà nước Việt Nam chính thức công nhận cái gọi là “hình thức sinh hoạt tín ngưỡng lên đồng”. Những người theo tín ngưỡng lên đồng thờ Thánh Trần được gọi là “Thanh đồng”.
Trong hình dưới đây, người mặc bộ quần áo màu vàng đang lên đồng:
9
.
Ngoài cổng, bà cụ còm cõi ngồi bán “vàng hương” giữa trưa nắng gắt:
10

Thơ: Mùa Thu Cho Người - TRANG VY















 • Diễm Ph.
 
Ngày bỗng lạ hơn những ngày qua khác
Giấc ngủ dài trăm mơ ước ngẩn ngơ
Em sẽ có chút đổi thay chất ngất
Ở trong hồn chớm nở nụ hoa mơ
 
Mùa thu về với thật nhiều bỡ ngỡ
Anh cũng về theo thành phố mù sương
Và có nghe xôn xao từng nhịp thở
Con chim khuyên vườn lạ hót yêu thương


• Nguyễn thị Phong Hằng

Em con gái tóc dài mùa thu tím
Ở ngôi nhà giàn hoa giấy ngõ vào
Như loài chim chở chuyên đầy kỷ niệm
Ngang nhà em thả vội những hương cau
 
Mimosa vàng sân trường đại học
Anh vào trường khẽ huýt sáo vu vơ
Trong trí nhớ cả một đời hạnh phúc
Sẽ chỉ còn trong mộng tưởng xa xưa
 
 
                                                   TRANG VY
                                          (TRẦN THƯỢNG THÁI)

 
(Tuổi Hoa số 227, ra ngày 1-10-1974)

Chuyện Nhà Tôi


Mẹ ốm liên tiếp ba tuần liền. Lần thứ nhất, tôi thấy mẹ tôi nằm dài suốt ngày. Ban đầu, chúng tôi cũng không chú ý mấy, mẹ tôi vốn được có một sức khỏe dồi dào. Gặp ngày nghỉ, thấy mẹ tôi thức từ tinh mơ sáng làm đủ trăm linh tám việc – từ việc lau nhà, đi chợ, giặt gịa, nấu bếp đến cả việc viết lách, cưa cắt, đóng đục, may vá… cho đến tận 11 giờ đêm chưa ngưng tay –, tôi lấy làm ngờ ngợ… cho cái sức khỏe dẻo dai kia. Tôi, tôi xin thú thật vốn là đứa nhác việc nhất nhà chỉ được có mỗi việc học là chăm thôi – khi nào tôi có định giúp hay bị mẹ sai cũng thế – một chút việc vặt như nhặt rau, rửa bát vào lúc không có người giúp việc là chỉ một chốc sau tôi thấy mệt nhoài đi. Tôi rửa bát thì lâu la lâu lắc, giặt gịa thì chậm như rùa, cho nên rốt lại mẹ tôi tranh lấy, kêu lên:

- Thôi! Để đấy! Trông con làm, mẹ chán quá đi! Con cái chi đâu mà không giống mẹ lấy một ly…

Ấy thế là tôi rảnh tay, phóng tuốt lên nhà đọc sách, không hề thắc mắc gì về việc mẹ một mình với nhiều việc dưới nhà. Anh Vũ càng tệ hơn : anh ấy mà lau nhà thì nhà ướt như người ta xách nước dội và mẹ tôi phải giặt thêm một bộ áo quần của anh sau đó, hóa ra giúp mẹ đâu không thấy mà thành thêm việc cho mẹ. Hai đứa nhỏ thì kể đến làm chi cho bận trí? Chúng chỉ biết thay áo quần liên tiếp : uống nước làm ướt một tí : thay! Ăn cơm làm dính một chút thức ăn : thay! Đi học về dính mực vào áo : thay! Ra vườn cho gà ăn, vọc đất bẩn : lại thay! Công bình mà nói thì chỉ có chút chị Thu là đứa con đắc lực trong chuyện giúp đỡ mẹ tôi, được mẹ tôi vừa ý : chị ấy mà thay bao gối, trải drap giường thì phẳng phiu y như mẹ. Chị mà xuống bếp thì đâu vào đấy, giặt gịa cũng tài. Khốn một nỗi : ông Trời ông ấy có luật bù trừ cho nên siêng giúp mẹ, chị lại hơi… nhác học! Ba tôi không ngừng kêu:

- Mợ cứ sai con cho lắm vào, còn để thì giờ cho nó học hành chứ! Chia việc ra chứ! Con Hà kia, thằng Vũ kia! Cứ nhong nhong…

Mẹ cãi:

- Nào tôi có để chúng nhong nhong, vẫn sai cắt đấy chứ, nhưng mà…

- Mẹ sai tụi nó xong, mất công mẹ hay con làm lại, mệt thêm!

- Ôi chao! Làm như chỉ có hai mẹ con mấy người là giỏi. Thứ việc bếp núc, việc trong nhà, tao chỉ thổi phù cái là xong tất! (giọng ba tôi nghiêm lại) muốn gì thì muốn, nhưng ba không muốn thấy con Thu theo ba công việc bậy bạ bỏ cả học hành đâu đấy, nhé?

Mẹ tôi còn là tay thợ khéo nữa cơ, mẹ có thể thay cái cửa lưới chắn muỗi, đóng một cái ghế ngồi thâm thấp, trộn xi măng tô lại hay vá cái sàn nước một cách tài tình. Không có cái bay như thợ hồ, mẹ tôi dùng một con dao tô tiếc láng bóng làm cho ba tôi vốn hay chê mẹ, cũng phải ngắm nghía công trình của bà mà khuyến khích một câu chiếu lệ:

- Cũng tàm tạm.

Tức thì thằng Minh vênh mặt lên, ưỡn ngực ra, bộ ngực lép kẹp, phản đối:

- Tàm tạm sao được ba? Ba phải khen mẹ con chớ. Mẹ con tài lắm mà.

Chả phải nó tốt lành gì mà bênh mẹ, chẳng qua nó phụ với mẹ trong công tác đó, nên nó muốn được thơm lây đấy thôi. Mỗi bận mẹ tôi định xúc tiến việc của thợ hồ, thợ mộc là y như có nó phụ một tay : lấy cái búa, đưa cái kìm, múc ca nước, xúc xô cát v.v… Toàn là những công việc hợp với thói nghịch ngơm của cu cậu cả mà.

Mẹ tôi, thấy mình làm được cái này lại tiến tới cái khác : mẹ dám chạy ra hiệu bán gạch men trắng mua mấy tấm để thay vào chỗ gạch men vỡ ở bếp trong lúc tôi hồi hộp thay cho mẹ : đố khỏi làm không nên trò, bị ba chế cho xem. Trong lúc tôi và chị Thu đứng đó sốt ruột vì thấy xi măng nhem nhuốc đầy trên gạch men, thì Minh nhanh nhẹn đem đến cho mẹ một gói bột trắng như bột mì. Mẹ tôi dùng một cái khăn cũ lau thật sạch mặt gạch men rồi trộn tí nước vào bột trăng trắng đó tô lên mấy kẽ trống, đoạn lại rắc thêm bột khô lên. Chỉ mươi phút sau công trình hoàn tất, nom không thua chi tay thợ lành nghề. Bấy giờ chúng tôi được hiểu thêm là có đi vào nghề thợ hồ mới biết còn lắm điều bí mật, hay ho (theo ý mẹ tôi). Khi dì tôi đến, trông quang cảnh ấy, gật gù lẩm nhẩm gì đó và chỉ chiều hôm sau, dì trở lại, trao cho mẹ tôi một gói giấy dài, cồm cộm mà rằng:

- Đây, biếu chị.

Mẹ tôi thong thả mở giấy ra, cả bọn tôi ồ lên một tiếng : dì tặng mẹ một cái bay! Thế nghĩa là dì định khuyến khích mẹ tôi đi sâu vô nghề thợ hồ. Tôi ngầm phản đối. Cái nghề chả có gì thú vị với bọn này cả. Tưởng đâu gói kẹo hay gói bánh thì còn mê được.

Một lần, ba đi vắng 3 hôm. Mẹ động viên cả nhà trong công tác sơn cửa : tất cả cửa trong nhà lớn bé đều được sơn hết. Mà phải chớp nhoáng trong ba hôm, không được kéo dài, ba về ba kêu là hôi hám, dính vướng nọ kia. Trưa, hai giờ mới có cơm. Chiều tám giờ chưa được ăn. Chúng tôi ấm ức trong lòng mà không dám kêu ca phản đối chút gì.

Mẹ vẫn nói bằng giọng hãnh diện:

- Mẹ ấy à? Ai làm gì được, mẹ cũng làm được. Mẹ chả thua ai cái gì cả, dù người đó là đàn ông đi nữa. Mình cũng tay chân, mặt mũi, trí óc như đàn ông, thua họ chỗ nào?

Mẹ tôi chỉ có một điểm chịu nhận là kém : không học được nhiều. “Tao mà được học hành đàng hoàng coi! Phải biết!

Ba tôi giễu:

- Mợ không được học hành đàng hoàng, tôi cũng biết mợ quá đi rồi, khỏi phải khoe tài!

Mẹ tôi không thay đổi mặt, tiếp liền:

- Các con thế là sướng lắm : được học hành, có đủ cha mẹ, có người săn sóc… Hồi nhỏ mẹ làm gì được như tụi bay… Muốn ăn gì có nấy…

Tiếp nữa là một tràng đại luận cả ba lẫn mẹ thay phiên nhau trình bày (nhiều lần cho đến nỗi tôi gần thuộc). Đại khái ba tôi thì kể rằng mỗi sáng cả nhà chỉ được ăn cháo với muối hay đường đen. Khi nào ông nội tôi lãnh lương mới được ăn bánh mì phết bơ bretel. Đừng hòng có bơ lạnh kiểu bây giờ, làm gì sắm được cái tủ lạnh, bói cũng không ra nữa là! Đi học về ba phải lau xe đạp cho ông nội, xe đạp mà kêu là xe máy, chả biết máy móc ở chỗ nào…

Mẹ tôi:

- Hồi bà ngoại còn, mỗi lần bà đi chợ về, cho mẹ và các cậu, các dì một quả chuối luộc đó là một món quà quí nhất… Mẹ tiết kiệm, lột cái vỏ ăn trước rồi sau mới nhẩn nha ăn chuối sau. Trong khi đó, cậu S tụi bay lột vỏ vứt xuống gạch, ăn chuối, ăn xong cu cậu nhìn tới nhìn lui thấy chị và các em đều đang ăn thì len lén, cúi xuống nhặt vỏ lên phủi cho sạch sẽ… cho vào miệng rất ngon lành!

Ba tôi:

- Buổi trưa ông nội ngủ, ba hay bác T, chú P, phải thay nhau mà nhổ tóc ngứa cho ông, lơ tơ mơ làm ồn ông lấy chổi lông gà ông quất cho sưng mông lên…

- Chớ có đâu như tụi bay bây giờ, làm biếng quá. Ba có sai nhổ tóc là kiếm cớ lảng liền, đứa thì :con bận học ; đứa thì : con buồn ngủ ; đứa thì : con đi cầu!

Chị Thu lên giọng kẻ cả. Đến lượt mẹ:

- Muốn đá banh, mẹ phải lấy rơm bọc giẻ rách ra ngoài làm thành một quả bóng tròn… chớ không phải như tụi bay : mẹ mua cho quả này, chơi chán, vứt đi đòi quả khác, không thèm cất giữ cẩn thận đâu.

- Hồi đó làm gì có nước máy? Ba xách nước trầy cả tay. Bà nội nói : “Tụi bay không xách nước lấy gì nấu ăn cho?” Thèm cái đồng hồ, cái bút máy và chiếc xe đạp còn hơn thèm ăn chả, mà chẳng bao giờ được những món xa xí phẩm đó cả.

Vũ chen vào:

- Còn chị Thu bây giờ : đồng hồ tay thì để vậy, xuống tắm dưới biển không thèm tháo ra, để cho hư đi, tốn tiền ba mẹ…

Nghe nhắc đến vụ đó, chị Thu đỏ bừng mặt, gắt:

- Thôi đi, khỉ! Ai mượn mày nhắc? Ba la tao rồi. Tài xoi móc là không ai bằng!

Anh Vũ vẫn vênh vênh cái mặt lên, cãi:

- Chị Thu đừng nói hai tiếng xoi móc mà mất lòng con gà Hà, chỉ có gà nó mới xoi móc lôi thôi chớ khỉ như em không nhỏ mọn vậy đâu, chị lầm rồi…

Minh như ngứa miệng, chen vô:

- Thiệt mà! Em thấy chị Thu sướng lắm : ba sắm xe suzuki cho chị nè, mà chị đi dính đầy bùn chị khỏi có lau đi…

Mẹ chợt nhớ ra:

- Phải đó, hôm qua, con chở mẹ đi mà mẹ phát ngượng với người đi đường, xe pháo gì bẩn quá sức… người ta sẽ nói là nhác nhớm…

Anh Vũ cười khà khà, chêm vào một câu độc địa:

- Trời ơi mẹ! Mẹ chưa biết, để dơ dơ mới là tay chì, lau sạch coi quê lắm mẹ ơi!

Mẹ tôi trừng mắt:

- Ai nói vậy đó? Nói mẹ nghe coi! Ai nói lau sạch quê?

Anh tôi hoảng hồn, chống chế:

- Dạ, chị Thu nói đó mẹ. Không phải con, con không bao giờ nói bậy như vậy đâu.

Chị Thu gây liền:

- Tao nói hồi nào đâu? Thằng này ẩu…

- Thì hôm trước chính em nghe chị nói với chị K. bạn chị, rõ ràng…

- Ngon lành quá! Chì quá!

Mẹ cười gằn kèm theo câu nói. Chị Thu đỏ bừng mặt lên:

- Đó là con nói chơi mà, mẹ nghe lời thằng khỉ…

- Lại khỉ! Sao chị không nói nhỏ nhẹ với em coi, có phải vui hơn không! Em thấy mấy người trong sách xưng hô với nhau nghe dịu dàng hết sức, chớ đâu có lối mày tao như chị nói với em… Không lịch sự chút nào hết…

Rồi anh ấy bắt chước mẹ, giở cái giọng răn đời ra:

- Đứa nào cũng lớn đại rồi mà không ngớt làm phiền cha mẹ, không đứa này thì đứa khác…

Ba cười ngất:

- Con trai ba cũng có tài khôi hài đó chớ!

Được thể, anh Vũ nhìn quanh một vòng và vây tôi luôn:

Thật mà ba, con Hà đó, nó không bao giờ kêu con bằng anh hết. Ngay giữa mặt bạn con mà nó cũng kêu Vũ… Vũ! Làm con tức hết sức vậy đó…

Tôi không nhịn được, buột miệng nói liền:

- Thì tên Vũ không kêu Vũ, biểu người ta kêu bằng gì bây giờ?

Tức thì anh có cớ để buộc tội tôi:

- Đó, ba mẹ thấy chưa? Nó không thèm kêu con bằng anh, xưng em rõ ràng thấy chưa? Nó xưng là người ta thấy chưa? Trong nhà này, con bị ăn hiếp, lấn áp quá sức, trên chị dưới em, chèn ép con không thở được…

Tôi thấy anh ấy có vẻ hơi có trớn, liền phanh lại bằng một câu khá độc:

- Không ưng kêu là Vũ thì từ nay sẽ được kêu là Cu, anh Cu! Chịu không?

Anh tôi tức thì nhảy nhổm lên như thể bị kiến đốt thình lình:

- Cái gì? Cái gì… Cu? Mày điên hả?

- Điên gì? – tôi làm bộ thản nhiên như thường – lúc trước anh không phải là Cu sao?

- Ê! Hồi đó là tao còn nhỏ, kể gì?

Ba tôi chen vào câu chuyện:

- Ờ, nghĩ người Việt Nam mình thật cũng kỳ : hễ đẻ con trai là kêu Cu liền! Làm như không có tên gì khác vậy!

- Thiệt, quê quá, ba há?

Anh Vũ thích chí, thêm vô. Chị Thu cười khùng khục trước khi nói:

- Thôi, nói ai làm chi, mày cũng vậy chớ khác gì? Lúc trước mày cứ xưng Cu hoài có sao đâu? “Chị Thu, đưa cái này cho Cu”, “Hà! Cuốn sách mẹ mới mua cho Cu mà, sao mày lấy coi trước? Trả đây Cu”…

- Thôi, thôi! Chuyện đó thuộc về quá khứ rồi! Đừng nhắc tới, coi kỳ quá, Thu ơi! Con trai của mẹ lớn tướng như vầy mà kêu Cu coi sao được? Mẹ cấm tụi bay!


Mẹ tôi thiên vị rõ ràng. Nhưng phải công bình mà nhận rằng trong vòng nửa năm nay anh tôi lớn phổng lên. Mấy cái mụn trứng cá biến mất, khuôn mặt vuông vức y như cái bánh chưng (vậy mà coi đẹp mới là kỳ), da anh ấy tươi tắn hết sức, mũi dọc dừa, mắt nâu và tệ nhất là đôi mày cong vòng y như hình vành trăng lưỡi liềm nằm đều đặn, ngay ngắn trên hai con mắt nâu giống như mầu mắt mẹ tôi. Trừ khi nào anh tôi xịu mặt vì bị ba la hay mẹ mắng (những lúc đó coi thật không được chút nào), còn thì mặt anh tôi khá dễ coi, nhất là khi anh cười : răng trắng bóng đều đặn. Quên, môi hồng tươi nữa chớ! Anh tôi có cái giọng cười đặc biệt : khà khà, khà khà đến hay. Phải công bình mà nói thêm : nếu anh ấy mà không có khuôn mặt vuông chữ điền kéo lại thì anh trở thành một đứa con gái liền, và như vậy chắc tôi là kẻ buồn trước nhất. Bạn học chúng sẽ trêu “Ê! Hà, anh mày sao như con gái, kỳ quá!”. Tưởng tượng đến mấy tiếng đó tôi đủ thấy xấu hổ rồi. Nhờ cái vuông vức, anh tôi có chút đỉnh hùng khí nam nhi trên mặt. Cảm ơn Trời! Cảm ơn Ngài đã cho tôi một ông anh như vậy. Nhưng ảnh có thói ở dơ : khăn mặt đen thui, luôn luôn nói một câu không thay đổi mỗi lần mẹ tôi thay khăn mặt cho mình:

- Mẹ cho con khăn màu đi mẹ, con không ưng khăn trắng, mau dơ quá.

Câu trả lời của mẹ vẫn luôn luôn không thay đổi:

- Chính vì vậy mà mẹ giao cho con khăn trắng, chớ nếu khăn màu, con càng để dơ không chịu giặt sạch mỗi ngày.

Số là thế này : dạo trước, chưa có phòng tắm trên lầu thì tối tối, chị Thu giặt một lần luôn cả bảy cái khăn của cả nhà. Mẹ tôi mua cho mỗi người một cái khác màu nhau, để dễ nhận ra, khỏi lầm. Tính nết mỗi người thể hiện rành rành qua cái khăn mặt của họ : khăn của mẹ tôi và chị Thu rách trước nhất song đặc biệt, cho đến lúc rách vẫn giữ màu cũ hay trắng trẻo, kế tới là khăn em gái út và khăn tôi hơi dơ dơ đôi chút. Khăn ba và cu Minh giống nhau : khá dơ, cuối cùng là khăn anh Vũ, dơ không còn chỗ chê!

Từ khi có phòng tắm trên lầu thì anh ấy đem khăn lên móc riêng, chị Thu có lên lấy xuống hay bảo anh ấy đem xuống cho chị giặt mỗi tối, song có nhiều khi chị gào rát cổ chưa thấy mặt ảnh, vì vậy mẹ tôi không cho chị giặt nữa. Phần khác, mẹ bảo:

- Nó lớn rồi, để nó tự lo lấy những cái nhỏ nhặt thuộc phần nó cho quen. 15 tuổi đầu mà còn bắt chị giặt khăn mặt, coi không được.

Thế là từ đó, anh ấy tự giặt khăn. Lâu lâu, mẹ tôi hay chị Thu lên dọn trên phòng tắm trên lầu lại la oai oái:

- Trời ơi! Khăn của thằng Vũ quá sức! (hình như hai người cùng kỵ, không nói đến tiếng )

Thế là mẹ – hay chị Thu – mất gần nửa giờ để giặt khăn cho ảnh. Có khi mẹ đem xuống máy giặt bỏ vô, “chớ giặt tay không nổi”, mẹ nói.

Trong lúc đó, khăn của Minh và ba tôi đã chễm chệ ở dưới nhà từ lúc nào rồi – quả thật tôi không hay biết hai khăn này chạy xuống lúc nào, vì hồi đầu ba tôi dõng dạc tuyên bố là “đàn ông, con trai ở riêng trên lầu”.

Tôi đi đến một kết luận rất khoa học : “đàn ông, con trai ở dơ”. Thành thực mà nói, tôi cũng chẳng được kỹ lưỡng như mẹ và chị Thu, song tôi khó mà dơ bẩn nổi với hai người. Hễ thấy cái khăn tôi đen đen một chút là hai người la lên:

- Con Hà ở dơ quá… con gái mà như vậy, coi không được.

Hừ, rõ là bất công, làm y như ở dơ là đặc quyền của con trai, đàn ông vậy.

Đôi khi, tôi và anh Vũ ngồi lại thảo luận với nhau coi những người ăn ở sạch sẽ trên thế giới có gì khác hơn đồng loại không? Quả tình, chúng tôi thấy họ không có gì nổi bật, đặc biệt hết : Henri Dunant và Florence Nightingale thì nổi tiếng vì lòng nhân, Đức Quang Trung và cụ Phan Đình Phùng được nhắc nhở do lòng yêu nước, Phạm Ngũ Lão và Trần Bình Trọng được khâm phục do gan góc, Huyền Trang và Marco Polo thì có tinh thần mạo hiểm. Còn vô số người khác được hậu thế ca tụng do những đức tính khác nhau không kể xiết, nhưng chưa có một ai được đề cao do sự ăn ở sạch sẽ bao giờ. Vậy thì, tại sao mẹ tôi và chị tôi lại cứ đặc biệt lưu ý về đức này, kia chớ?

Dơ hay sạch, có quan trọng chi lắm đâu? Mà thời buổi này, tôi thấy những người hơi dơ dơ lại được chú ý là đằng khác, điều đó chứng tỏ họ được tự do. Nghe nói bên tây, mấy cô gái sống dưới gầm cầu sông Seine để móng tay dài và đầy cáu ghét ; tại Sài gòn này, có nhiều thanh niên để tóc dài, râu không cạo, áo quần không giặt mà đi rong giữa phố với bộ mặt hết sức là kiêu ngạo, ta đây. Nói theo giọng bạn bè tôi thì họ có vẻ kênh là đằng khác, họ có xấu hổ chi đâu chớ?

Tôi, tôi không ao ước được tự do tới mức đó, tôi dơ in ít thôi, song mẹ và chị tôi la lối om sòm:

- Hà, con gái lớn rồi đó, liệu chừng…

- Hà! Sao không lau tủ đi!

- Hà! Cái giường đầy bụi kìa!

- Hà! Cái bàn…

Song từ bữa mẹ nằm liệt, chị Thu bận học thi, người ở về quê thăm nhà (kỳ quái, hễ mỗi lần nhà tôi có vẻ cần người thì là người ở về quê), không ai nhắc nhở, nhăn nhó, kỳ kèo chúng tôi về chuyện dơ sạch nữa. Bụi đóng trên tấm gương soi dày cho đến nỗi em tôi dùng ngón tay vẽ lên mấy chữ : “bà Hà ở ác” rõ mồn một, đi ngang là thấy liền. Bụi bặm tha hồ tung hoành không kiêng nể. Hai đứa nhỏ bỏ cả thói quen nằm dài ra sàn gạch bông mà đọc truyện đời xưa. Thậm chí cái điện thoại cũng đầy những bụi. Ba tôi gắt gỏng hơn bao giờ hết. Bao gối không thay giặt đều đặn mỗi tuần lễ, đen thấy mà ghê. Cái bàn ăn, cái ghế ngồi, cái gì cũng đầy bụi, sách vở bừa bãi lung tung. Hình như căn nhà tối lại vì bụi đóng. Trên trần, mạng nhện giăng hơi nhiều, mỗi lần có gió, nó đong đưa như những cái võng tí hon. Vài con gián bắt đầu xuất hiện thăm thú tầm phơ đây đó, rồi một hôm chúng bò lổm ngổm trong tủ áo quần của chúng tôi. Vâng! Ngay cả trong tủ chúng tôi! Tôi gần khóc khi trông thấy trứng chúng gắn cứng trong góc cửa. Vài cái khăn tay thêu, đôi vớ, một cái quần và hai cái áo bị gián nhấm lem nhem. Tôi khóc thật, chớ không còn là muốn khóc.

Tôi chợt nhớ lại, có nhiều đêm đang ngủ ngon bỗng bị đánh thức đột ngột vì tiếng động và ánh sáng do mẹ tôi gây ra trong phòng ngủ của mẹ hay ngoài phòng khách. Chị Thu trở mình, giọng ngái ngủ:

- Cái gì vậy mẹ?

- À! Tụi bay cứ ngủ đi! Mẹ rượt theo con gián.

Tưởng gì! Mẹ tôi rượt theo một con gián mà làm mất giấc ngủ ngon của lũ con!

- Nó đâu vậy mẹ?

- Không biết, chắc nó bò theo khe cửa ở buồng tắm. Mẹ rượt hết hơi…

- Mà mẹ giết nó được chưa?

- Rồi! Mẹ tụi bay mà thua một con gián sao? Thôi, để mẹ tắt đèn cho mà ngủ.

“Tách” một tiếng, ánh sáng vụt tắt biến. Căn phòng tối om. Vậy là may đó, nhiều bữa mẹ tôi không rượt kịp, con gián chui vô kẹt tủ, ngăn kéo là bà lục tung ra hết, tìm cho kỳ được mới thôi. Nếu nó còn ẩn núp đâu đó, ngoan cố không chịu bò ra đầu thú thì bà liền cầu viện đến bình thuốc muỗi, thứ hiệu của Mỹ chính cống, xịt ra nồng hăng muốn buồn nôn. Nhiều khi vì một con gián, mẹ tôi dám xịt hết nửa bình thuốc muỗi, nồng nực cả nhà, bay tuốt lên lầu, đến nỗi ba tôi cũng biết, ông hét dựng lên.

Được cái, sau những cuộc chiến đấu so le không đồng cân sức như vậy, luôn luôn mẹ tôi thắng trận. Tôi cứ nằm yên, nghe tiếng dép bà vô phòng tắm, rồi vòi nước chảy ào ào. Tôi không thèm dự vô cuộc chiến đấu vô nghĩa, tầm thường như vậy. Chị Thu đôi khi chồm dậy phụ lực với mẹ tôi, săn đuổi kẻ thù cho tới cùng. Sáng hôm sau, chúng tôi đem chuyện này ra bàn tán, trêu chọc mẹ và chị tôi rất là vui vẻ.

Nhưng giờ đây, mẹ tôi nằm một chỗ, bọn tôm tép được tha hồ tung hoành. Mùi phân gián át cả mùi băng phiến trong ngăn tủ tôi, trứng gián gắn cả trong áo tôi. Quân đểu giả! Bọn hùa gió bẻ măng! Bọn thừa nước đục thả câu!

Trời ơi! Tôi thương mẹ quá! Sạch sẽ có lợi thật chứ! Sao tôi không nhận ra điều giản dị này sơm sớm?

Trong lúc cắm cúi lau dọn và nguyền rủa kẻ thù nhỏ bé mà sức phá hoại vô song, tôi tự hứa từ nay sẽ sạch sẽ để vừa lòng mẹ, tự hứa từ nay mỗi đêm, hễ mẹ tôi chỗi dậy đi săn gián, tôi sẽ phụ lực người liền chứ không nằm ườn, chờ xong để có thể yên thân ngủ tiếp như trước nữa.

Chợt, một câu hỏi lóe sáng trong đầu tôi, sáng rực và nhọn như cái lưỡi câu bằng thép : “Nhưng ngộ mẹ nằm luôn? Mẹ không dậy nữa, mẹ chết thì sao?” Trời đang lạnh mà tôi toát mồ hôi ướt đẫm sống lưng. Câu hỏi ghê gớm quá! Đâu có thể có chuyện ghê gớm đó? Ủa, tại sao không? Trong bụi vốn có nhiều thứ vi trùng độc hai, rất nhiều… biết chừng đâu vì sự nhác nhờn của tôi, mẹ tôi đã hít phải những con sâu vô hình đó? Nói theo khoa học thì nó có hình, nhưng rất nhỏ, con mắt thường không thấy được, ngày một ngày hai, cho đến lúc, chúng quật ngã mẹ tôi… Sao không? Có nhiều người đàn ông to lớn mà còn bị vi trùng quật ngã, huống hồ mẹ tôi…

Bậy bạ! Tôi tự mắng tôi, tại mẹ ỷ mạnh, mẹ dầm mưa hoài, mẹ thức khuya hoài, mẹ dậy sớm hoài nên mẹ đau, chớ vi trùng nào mà hạ nổi mẹ? Nhưng để vững bụng, tôi chạy vào giường, đứng ngay dưới chân mẹ tôi, thăm thú xem bệnh tình mẹ ra sao. Nom mẹ tôi có vẻ tỉnh táo hơn mọi hôm, hai gò má đã hơi ửng hồng và bà đang chăm chú nghe nhạc : bản cầu sông Kwai, bản ruột của mẹ, cao xanh ạ! Thật tôi mừng ghê gớm, mừng như khi tôi thi Đệ Thất đỗ cao ngày nào vậy đó.

Thế là, tôi chả cần phải hỏi thăm sức khỏe mẹ gì cả, tôi phóng ba bước ra ngoài. Vì quá mừng, tôi quên cả ý tứ dè dặt cho nên tôi làm cánh cửa dội mạnh, mẹ tôi lên tiếng:

- Hà, con làm gì đùng đùng vậy hả? Con gái gì mà…

- Sao mẹ biết là con?

- Chớ còn ai vô đây? Mày là chúa ồn ào, mày đúng là Người Việt gốc Voi theo lời cậu mày thường nói…

Tôi chống chế:

- Dạ, con vô thăm chừng mẹ thử coi mẹ có khỏe không, và con thấy mẹ khỏe nên mừng quá.

- Hừ! Làm sao con biết là mẹ khỏe? Nói phét vừa vừa chứ…

- Sao con không biết, mẹ khỏe nên mẹ mới có thể nghe nhạc sông Kwai… có đúng không nào?


MINH QUÂN   


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 52, ra ngày 20-8-1972)

Tranh bìa của Vi Vi : Đôi mắt của các em

Về Qua Mưa Phố










  
Khi về ngang phố hoàng hôn
Trời mưa nhỏ hạt lây buồn theo em
Chắc là môi lạnh tay mềm
Nên vai áo lụa hằn thêm dáng gầy.

Khi về ngang phố nhà ai
Thấy cây bông sứ rụng ngoài sân mưa
Thì ra một thoáng tình cờ
Mà trăm năm đã lụy bờ tử sinh.

Khi về ngang phố đèn lên
Còn âm vang tiếng guốc quên đường dài
Chút hồn vừa rớt heo may
Là tim cũng gõ nhịp ngày đang tan.

                                        NGỌC THÙY GIANG


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 227, ra ngày 1-10-1974)

Con Chó Sói Ngu Quá



Hồi đó có một con chó sói, nó đang đói lắm… và nó đi kiếm món gì để ăn.

Đi mãi thì nó gặp được một con dê cái. Con chó sói dừng lại, bảo con dê:

- Dê ơi, dê, ta sẽ ăn mi!

Và con dê trả lời:

- Anh sói ơi, anh có thấy không? Tôi gầy như cây tăm vậy. Anh không thử nghĩ lại xem! Anh nên đợi tôi một chút thì hơn, để tôi chạy thiệt lẹ về nhà, mang một đứa con của tôi tới đây cho anh thì có phải là tốt hơn không?

Con sói ưng chịu, và thế là con dê cái chạy trốn mất.

Nó đợi lâu lắm, lâu lắm… Sau cùng, hết kiên nhẫn, nó lại lên đường.

Sau đó nó gặp con cừu. Con sói mừng lắm, bèn gọi:

- Đi đâu vậy cừu? Đứng lại đi. Để ta ăn thịt mi!

Và con cừu trả lời:

- Anh không thể chọn ai khác hơn tôi để dùng bữa hay sao? Anh không biết rằng tôi là vũ công giỏi nhất thế giới ư? Thật rất đáng tiếc nếu mà tôi phải chết…

Con sói ngạc nhiên hỏi:

- Chú mày biết nhảy múa thật ư?

Con cừu trả lời:

- Chứ còn gì nữa, thưa ngài sói. Tôi sẽ chứng minh ngay điều đó cho ngài coi.

Và nó bắt đầu quay tròn, vừa nhảy, vừa chạy quanh, theo những vòng tròn mỗi lúc một lớn dần, lớn mãi thêm đến nỗi sau cùng nó biến mất.

Con sói giận lắm vì lại bị lừa lần nữa, bèn tiếp tục lên đường. Thế rồi nó gặp một con ngựa. Con sói chạy tới gần và bảo:

- Ngựa ơi, ta sẽ ăn thịt ngươi ngay tức thì.

Và con ngựa trả lời:

- Đồng ý, đồng ý… nhưng trước hết, anh phải tìm hiểu xem anh có quyền ăn thịt tôi hay không đã chứ…

Con sói hỏi:

- Bằng cách nào?

Con ngựa nói:

- Anh biết đọc không?

Con sói nói:

- Biết chứ sao không.

Con ngựa nói:

- Vậy thì giản dị lắm. Anh chỉ việc đứng phía sau tôi và anh sẽ trông thấy một cái bảng, trên đó có ghi rõ là anh có được quyền ăn thịt tôi hay không…

Con sói liền đi ra phía sau đuôi con ngựa, và bị con ngựa đá cho một cú như trời giáng vào đầu, mạnh đến nỗi nó trở thành ngớ ngẩn trong suốt quãng đời còn lại của nó.


THU AN Kể    


(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 112, ra ngày 19-10-1973)

Tranh bìa của Vi Vi : Hồn nhiên

Thơ: Mắng Em - VI LÔ












Anh mắng em rồi anh lại buồn,
Lặng nhìn em khóc, chứa chan thương.
Em ơi, thôi nín, cười lên nhé!
Cho nét u sầu hết vấn vương.

Anh chẳng muốn em phải tủi hờn,
Vì em như thể cánh chim non.
Có ai lại muốn chim im hót,
Ủ rũ trên cành dáng héo hon?

Mắng ấy vì thương yêu đó thôi:
Thấy em dở học, giỏi vui chơi,
Toán làm không được, cho đành ngó,
Lo lắng em anh kém sút người.

Ngẫm lại phận mình em nghĩ sao?
Cha đà sớm khuất tự năm nào,
Mẹ lo tần tảo nuôi hai trẻ,
Mình phải làm người chịu khổ đau!

Thôi, có gì đâu nức nở hoài?
Bút đây em nhỏ hãy cầm tay,
Lắng nghe anh giảng thêm lần nữa,
Tươi tỉnh cười đi, sửa lại bài!

                                                    VI LÔ


(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 57, ra ngày 15-11-1966)

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

Chùa Côn Sơn - PHAY VAN


Những trang dưới đây do anh Đinh Thanh Nguyện gởi, lấy trong sách Quốc Sử lớp Nhì. Câu chuyện Nguyễn Trãi theo tiễn chân cha là Nguyễn Phi Khanh tới tận ải Nam quan, rồi gạt lệ quay về lo trả thù cho cha, rửa hận cho nước ngày nay ít được (có khi vì người ta ngại phương hại đến 4 tốt 16 chữ vàng) nhắc đến.
Nguyen Trai 1
Nguyen Trai 2
Nguyen Trai 3
1. Chùa Côn Sơn:
Chùa Côn Sơn nằm dưới chân núi Côn Sơn, thuộc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương. Chùa có từ thời Trần (có truyền thuyết cho rằng chùa có từ thời Đinh). Theo tài liệu, vào năm 1304 nhà sư Pháp Loa cho xây dựng một ngôi chùa nhỏ tại đây gọi là Kỳ Lân. Đến năm 1329 chùa được xây dựng lại khang trang hơn, trở thành Côn Sơn Thiên Tư Phúc Tự – nghĩa là chùa được trời ban cho phước lành – do nhà sư Huyền Quang trụ trì.
Tương truyền núi Côn Sơn là nơi hun gỗ làm than và tại đây đã từng diễn ra trận hoả công hun giặc, dẹp loạn 12 sứ quân của Đinh Bộ Lĩnh năm 968. Vì thế ngoài tên gọi Côn Sơn, núi còn có tên là Kỳ Lân hay núi Hun. Chùa “Thiên Tư Phúc Tự” trong dân gian quen gọi theo tên núi là chùa Côn Sơn hay còn gọi là Chùa Hun.
Ngoài Đức Phật, chùa cũng thờ vua Trần Nhân Tông, Thiền sư Pháp Loa và Thiền sư Huyền Quang. Hiện nay chùa Côn Sơn còn nhiều cổ vật giá trị, đó là những pho tượng Phật từ thời Lê cao tới 3 mét.
???????????????????????????????
.
Sân chùa có 4 nhà bia. Mỗi tấm bia đều nằm trên lưng một con rùa.
Đây là bia Thanh Hư Động, nơi lưu lại bút tích vua Trần Duệ Tông khi nhà vua về thăm Côn Sơn năm 1373:
1

.
Giếng Ngọc nằm ở lưng chừng núi, phía sau ngôi chùa. Du khách có thể thấy những tờ giấy bạc mệnh giá nhỏ ghim đầy lư hương:
2
.
Múc nước giếng rửa mặt cầu may:
3
.
Tiền được thả đầy mặt giếng:
4
.
2. Đền thờ Nguyễn Trãi:
Gần thượng nguồn suối Côn Sơn là đền thờ Trần Nguyên Đán – ông ngoại của Nguyễn Trãi. Ở lưng chừng núi là đền thờ Trần Nguyên Hãn và dưới cùng là nơi thờ Nguyễn Trãi (1380 – 1442).
Sau những năm tham gia triều chính, Nguyễn Trãi lui về Côn Sơn – cũng là quê ngoại của ông – và sống cuộc đời ẩn dật. Bài Côn Sơn Ca được ông sáng tác trong giai đoạn này:
Côn Sơn có khe,
Tiếng nước chảy rì rầm.
Ta lấy làm đàn cầm.
Côn Sơn có đá,
Mưa xối rêu xanh đậm,
Ta lấy làm chiếu thảm.
Trên núi có thông,
Muôn dặm rờn rơn biếc một vùng,
Ta tha hồ ngơi nghỉ ở trong.
Trong rừng có trúc,
Nghìn mẫu in biếc lục,
Ta tha hồ ca ngâm bên gốc.
Ngươi sao còn chửa về đi!
Nửa đời bụi bặm hoài lăn lóc,
Muôn chung, chín đỉnh có làm gì?
Nước lã, cơm rau miễn tri túc,
Ngươi chẳng thấy Ðổng Trác ngọc vàng chất đầy nhà?
Nguyên Tải hồ tiêu tám trăm hộc?
Lại chẳng thấy Bá Di với Thúc Tề?
Thú Dương chết đói không ăn thóc?
Hiền ngu dù chẳng giống nhau đâu,
Cũng đều muốn thoả lòng sở dục.
Người đời trong trăm năm,
Rốt cuộc như thảo mộc.
Vui buồn lo sướng đổi thay nhau,
Một tươi một héo vẫn tương tục.
Cồn hoang lầu đẹp cũng ngẫu nhiên,
Chết rồi ai vinh với ai nhục?
Nhân gian nếu còn bọn Sào Do,
Khuyên hãy nghe ta ca một khúc.
(Bản dịch của nhóm Đào Duy Anh)
.
Đường lên núi Côn Sơn, nơi có “Bàn Cờ Tiên” trên đỉnh:
11
.
12
.
Đền thờ Nguyễn Trãi được khởi công xây dựng lại vào tháng 12 năm 2000, trên khu đất rộng gần mười ngàn mét vuông tại chân núi Ngũ Nhạc, thuộc khu vực Thanh Hư Động. Phía bên phải là dòng suối Côn Sơn.
5
.
6
.
7
.
8
.
Chuyện kể rằng khi Nguyễn Trãi từ biệt cha là Nguyễn Phi Khanh ở ải Nam Quan (nay đã rơi vào tay Trung Cộng), lúc trở về đi ngang qua cửa biển Bạch Đằng – nơi ghi dấu hai cuộc đại thắng quân Tàu bằng cọc nhọn chôn đáy sông – ông cảm tác bài Quan Hải, ngụ ý nói về việc Hồ Quý Ly chống giặc Tàu giỏi nhưng không được lòng dân nên cuối cùng phải thất bại. Bản dịch của Hưởng Triều như sau:
Đóng cửa bể
Lớp lớp cọc ngăn giữa sóng nhồi,
Thêm ngầm dây sắt- uổng công thôi.
Lật thuyền, thấm thía: dân như nước,
Cậy hiểm mong manh: mệnh ở trời.
Họa phúc có nguồn, đâu bỗng chốc?
Anh hùng để hận, dễ gì nguôi?
Xưa, nay, trời đất vô cùng ý,
Nơi sóng xanh cây khói tuyệt trời…
.
9
.
10
.
Một vài quan chức cao cấp đã mon men đến đây trồng cây, để lại bảng ghi nhớ nhằm đánh bóng tên tuổi cá nhân. Không biết họ có thấy nhục nhã khi đọc bài thơ trên?