Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

Ghềnh Đá Cheo Leo (Chương 4 - 5 - 6)

4

Vào buổi trưa thượng tuần tháng 11, một buổi trưa yên tĩnh, vắng vẻ. Các ngư phủ đều ở ngoài biển đánh cá. Đàn bà con gái đang cặm cụi trên ruộng muối hoặc trồng trọt trong vườn rau. Chỉ còn lại chừng mười mấy chú bé chưa được sử dụng vào việc gì. Thế là thừa lúc vắng bóng người lớn, chúng trở thành chủ nhân của bãi biển. Tất cả đều trong khoảng 7, 8 tuổi, ngoại trừ Thành là lớn nhất lên 13 tuổi, với tư cách là đứa lớn nhất và có một số kinh nghiệm về biển cả, người ta đã giao phó cho nó trông nom những đứa bé kia.

Dù tiết trời đang tiến vào mùa lạnh, nhưng ngày hôm đó tiết trời thật nóng nực, không một cành cây đong đưa trước gió. Mặt trời gay gắt như muốn nghiến ngấu thiêu đốt một vùng bãi biển.

Ngọc Hạnh tìm đến ngồi dưới bóng dừa trải rộng suốt miền bờ biển. Bé Hùng nằm khoan khoái bên mẹ.. Ngọc Hạnh cất tiếng hát nhè nhẹ như dìu con vào giấc ngủ trưa.. Chính trong lúc nàng dỗ con ngủ là lúc nàng cũng buồn ngủ. Hai mi mắt nặng trĩu khép dần cặp mắt nàng lại. Bé Hùng đã giả vờ ngủ trong lúc chính nàng đã ngủ thật sự.

Mặc khí trời nóng bức, lũ trẻ vẫn nô đùa hồn nhiên trên bãi cát. Những tiếng cười ròn rã từ chỗ đám trẻ vọng lại làm bé Hùng không tài nào ngủ được. Chờ đến lúc Ngọc Hạnh thở đều đặn, bé Hùng rón rén lách mình và lủi dần như chú mèo con.. Nó lao mình về phía đám trẻ bạn đang vui chơi. Nó say mê thích thú xin bè bạn cho nhập cuộc.

Sau một lúc đùa giỡn thoả thích, chúng rủ nhau ra bến thuyền chơi mặc những lời cấm đoán của người lớn, vùng này là nơi “cấm địa” từ lâu. Bé Hùng đang do dự vì sợ trái lời má thì lũ bạn tinh quái đã hối thúc :

- Ê Hùng đi chơi luôn mày, mau lên.

Nhìn lên bầu trời trong xanh rộng mở, tai nghe những tiếng cười nói rộn rã của lũ bạn mời gọi tham gia vào cuộc phiêu lưu, bé Hùng chới với yếu ớt trả lời :

- Không được đâu, má tao cấm đến đó rồi !

Thành Cồ khiêu khích :

- Bộ ngoan dữ. Đồ nhát như thỏ đế. Chúng tao có làm hại gì mày đâu mà mày sợ !

Các đứa khác hùa theo :

- Đi đi Hùng. Đứa nào không đi là hèn.

Trước những lời khiêu khích rủ rê đầy quyến rũ, bé Hùng đứng ngây người, hai tay đút túi quần cụt, mắt mở to nhìn đại dương mời gọi nhưng cố lấy giọng cương quyết :

- Thôi chúng mày cứ đi đi, tao hèn cũng được.

Thế là cả đám giặc con lại nhao nhao lên :

- Ê, lêu lêu thằng hèn, thằng Hùng hèn tụi bây ơi.

- Thỏ đế bay ơi !

- Đồ cù lần lửa !

- Sịt nó ra đi. Nghỉ chơi với nó đi !

- Đồ công tử bột !

Trước những lời khiêu khích, sỉ vả của bè bạn, máu trong người bé Hùng như sôi lên vì tự ái, vì trùng dương mê hoặc. Không thể kháng cự được nữa nó nhìn vội về phía mẹ đang ngủ, co giò chạy bay về bến thuyền, phóng người lên một chiếc thuyền còn cột dây trước những lời reo hò, tán thưởng, khuyến khích của lũ bạn.

Đã một lần lỡ phạm vào một lầm lỗi, người ta dễ dàng bị lôi kéo vào những lầm lỗi kế tiếp.. Tội lỗi như một guồng máy sẽ chẳng buông tha người nào đã để nó một lần lôi cuốn. Thủy triều rút xuống : mặt biển lặng lẽ, bằng phẳng. Đã hơn nửa giờ bọn nhóc làm chủ chiếc thuyền, đua nhau lắc lư, chòng chành con thuyền đứng tại chỗ. Cả bọn đã bắt đầu hết hứng thú, lãnh tụ Thành Cồ bối rối tìm trò chơi khác mới mẻ hơn để gây hào hứng cho đàn em.. Sau một lúc im lặng suy nghĩ, lãnh tụ nhà ta hiên ngang đề nghị :

- Ê, tụi bay ơi, chơi trò này hoài không khá được. Bây giờ tao bầy trò chơi khác hấp dẫn hơn chịu không ?

Cả bọn reo vang :

- Chịu, chịu chơi hết mình mà !

Hắng giọng vài cái ra oai, Thành Cồ trịnh trọng tuyên bố :

- Bây giờ tụi mình sẽ đi dạo bằng thuyền một vòng vịnh nước này, rồi sau đó sẽ “đổ bộ” xuống làng Thanh Trì phía bên kia để hái ổi và quất chua. Mê ly rùng rợn lắm tụi bay ơi ! Chịu không ?

Thế là cả bọn vỗ tay reo hò ầm ĩ :

- Hoan hô Thành Cồ chịu chơi ! Hoan hô…

Bé Hùng khoái chí, nhảy cà tưng mừng rỡ. Như say men rượu, hứng thú dâng lên, nó thoăn thoắt chạy lên mũi thuyền tháo dây cột ra và bắt đầu cất giọng ca. Cả bọn nhao nhao hát theo :

- Ngày bao hùng binh tiến lên… Đi là đi chiến đấu, đi là đi chiến thắng, đi là mang linh hồn non sông…

Bọn trẻ đã dần dần ra khơi, tưng bừng oai phong như một ngày duyệt binh, đại lễ. Có lẽ Kha Luân Bố lúc đặt chân lên Tân thế giới cũng chẳng oai hùng, hăng hái như đám trẻ này.

Nhưng con thuyền khi đã ra khơi, như con ngựa đứt dây cương, không còn dễ dàng tuân theo ý muốn của lũ nhỏ nữa, nó tuân theo giòng nước cuốn ra biển cả.

Con thuyền dần dần xa bến với người chèo lái nhỏ bé không kinh nghiệm, nó trôi về hướng đại dương mà lũ nhỏ vì ham vui không nhận ra. Chúng đang say biển cả, đang vui với lời hát câu hò, đang sống trong bầu trời tự do, không bị ràng buộc. Người hùng Thành Cồ trịnh trọng điều khiển đám bộ hạ tí hon như vị Thuyền Trưởng, trong lúc con thuyền mỗi lúc mỗi dời xa bến.

Chúng không đoán được con thuyền đã rời xa bờ bao nhiêu. Chúng cứ ngỡ con thuyền vẫn còn chòng chành trên vịnh nước, nhưng thực tế nó đang tiến dần vào vực thẳm của biển sâu đầy nguy hiểm. Mục tiêu chúng định hướng tới cũng xa dần khỏi tầm mắt.

Nhưng rồi sau cùng chúng cũng ý thức được, những tiếng cười nói ròn rã đột nhiên im bặt : con thuyền đã thuộc hẳn về lòng đại dương. Sóng gió thổi tứ phía. Sóng biển ồ ạt đánh vào mạn thuyền. Nước bắn lên tung toé. Con thuyền chòng chành như muốn lật úp xuống. Sự hãi hùng, kinh ngạc, hoảng hốt hiện rõ trên các khuôn mặt ngây dại.

Thành Cồ bắt đầu mất bình tĩnh, cuống quít lèo lái con thuyền vào bờ nhưng vô ích. Con thuyền vẫn khăng khăng lao mình càng ngày càng sâu vào lòng biển rộng bao la. Con thuyền đã thực sự thuộc trọn về sóng biển, về sức mạnh của gió. Thành Cồ đã hoàn toàn bất lực. Gió biển thổi ào ạt, thế mà mồ hôi vẫn đổ giọt trên má, trên trán nó. Bao nhiêu sinh mạng nằm gọn trong tay nó, không gì cứu vãn hoặc vớt vát được. Lũ nhóc con đã bắt đầu than khóc, hò hét tuyệt vọng. Triều sóng mênh mông đã át giọng đoàn quân viễn chinh thảm bại.

Màn chiều buông xuống. Mặt trời đang lui dần và ngụp lặn vào lớp bụi mù của sóng nước trùng dương. Không một cánh buồm, một chiếc thuyền, một con tàu thấp thoáng ngoài chân trời xa tắp. Tất cả chỉ còn là mây trời và đại dương ngút sóng. Niềm kinh hoàng dâng cao theo mực nước càng ngày càng cao. Tụi nhóc con ôm chặt lấy nhau, mặt nhợt nhạt, kêu la, khóc lóc, than van đổ lỗi cho nhau.

Sóng triều như những con thú hoang, hàng hàng lớp lớp gầm rống như muốn ăn tươi nuốt sống lũ trẻ. Những con thú hoang hung bạo đang đói mồi chầu chực, rình rập bên cạnh đám trẻ đáng thương. Con thuyền đong đưa trước gió, lúc như nhảy vọt lên cao, lúc đâm nhào sâu thẳm xuống lòng nước theo đà ngọn sóng. Chỉ có Thành Cồ và bé Hùng là còn chút máu mặt. Bé Hùng liên tưởng đến chuyện chàng Lỗ Bình Sơn trôi giạt vào hoang đảo lạc lõng. Hình ảnh đó khiến nó yên tâm chút ít. Và chẳng bao lâu, hình ảnh ấy đã trở thành sự thật.

Vào lúc mặt trời chìm hẳn xuống vực sâu của biển cả là lúc con thuyền trôi giạt tới một ghềnh đá. Cả bọn hò hét nhau, cố chèo chống vào mỏm đá. Và trong chốc lát con thuyền mỏng manh xô mạnh vào lớp đá thoai thoải. Cả bọn trẻ, lớp bắn lên các phiến đá gần đó, lớp nằm chổng kềnh, sóng soài trên nước, rồi lóp ngóp nhoai lên ghềnh đá, mặt mũi chân tay sây sát, và con thuyền vỡ tan tành thành từng mảnh ván.


5

Hỏm đá vừa lãnh nhận đoàn quân tí hon bại trận nằm dưới chân ghềnh đá đơn độc mọc cheo leo trên mặt biển rộng. Sóng thủy triều chưa bao giờ ngoạm hết đỉnh ghềnh đá, chính vì thế nơi đây từng đoàn chim đã dùng làm nơi tạm trú giữa màn đêm. Ghềnh đá này như một ngọn hải đăng thân thuộc của các nhà hàng hải. Nơi đây báo hiệu cho họ hãy canh chừng mấy khối đá ngầm mọc gần lối đi vào hải cảng Đà Nẵng.

Chắc chắn thực trạng không hứa hẹn một chân trời sáng sủa, tuy nhiên cũng đủ đem lại cho lũ trẻ một cảm tưởng được cứu vãn. Chúng không còn vui vẻ được như trước nữa. Chung quanh chúng, sóng nước đại dương vẫn thi nhau gầm thét, tức giận, nổi nóng như vừa chộp hụt những con mồi thơm phức.

Như những kẻ vừa thoát nạn tử thần, chúng gượng cười bên nhau. Nhưng rồi màn đêm dầy đặc thêm, càng gieo sâu mối kinh hoàng cho bọn trẻ. Hơn là một người cha che chở, Thành Cồ lúc này được coi như bà mẹ ấp ủ.

- Anh Thành ơi, em sợ quá…

- Em đói quá trời nè !

- Em lạnh quá xá !

- Bắt đền anh Thành đó, ai bảo rủ tụi em đi !

Thành Cồ vừa run sợ, vừa tỏ vẻ đàn anh lấn át :

- Tụi bay im đi, không đứa nào được kêu ca gì nữa. Tụi bay móc túi ra xem còn đồ gì ăn không ? Đem góp lại ăn chung với nhau đi !

Đứa còn trái ổi, đứa mẩu bánh mì, đứa chiếc bánh nếp… Tất cả theo lệnh của đàn anh Thành Cồ góp lại. Sau đó chúng phân chia đều cho nhau. Bữa ăn đạm bạc chấm dứt mau lẹ với gói kẹo nhỏ của bé Hùng.

Giữa những mảnh ván nằm rải rác trên ghềnh đá, chúng mò mẫm được một bịch nước. Thế là chúng lại chia đều nhau mỗi đứa một vài ngụm.

Người ta thường nói đêm qua mau, nhưng phải chăng nó chỉ mau với những ai êm ái dưới mái nhà lặng gió, với chăn chiếu đầy đủ, chứ đâu phải với những kẻ màn trời chiếu đất như đám trẻ này ? Ngày càng nóng, đêm càng lạnh. Sóng gió càng hung hãn, nỗi kinh hoàng càng dâng cao. Bọn trẻ ngồi bó gối dưới chân ghềnh đá, run rẩy, sụt sùi trong đêm tối dầy đặc. Bé Hùng thổn thức và nản lòng trước ghềnh đá chật hẹp, khô khan, khác hẳn tưởng tượng của nó về hải đảo thần tiên của Lỗ Bình Sơn. Thành Cồ ngồi trầm ngâm tìm kế hoạch. Có lẽ nó đang lớn lên thêm cả gang tay trong cái đêm muôn thuở này. Giữa những giờ phút hiểm nguy đó, nó cảm thấy cần phải gan dạ, cương quyết và nhanh trí. Nó đứng dậy đanh thép hịch quân sĩ :

- Tụi bay hãy im đi, nghe tao nói đây. Tụi bay không cảm thấy mắc cỡ khi khóc lóc và tỏ ra nhát đảm sao ? Tụi bay nhớ rằng hèn yếu như vậy, tụi con Hằng, con Mai… chúng sẽ cười vào mặt vào mũi cho mà coi. Hãy tỏ ra chúng ta là những nam nhi can trường ! Thằng Phát, mày xưng là Tarzan, vua rừng già kia mà ! Thằng Minh, mày ham bắt chước Django bắn súng chì hết chỗ nói, sao bây giờ mày khóc dữ vậy ? Còn thằng Hoà, mày chuyên bắt nạt thằng Thu gầy và con Lệ lé, sao lúc này mày tỏ ra yếu đuối thế !... Thay vì ngồi lúc nhúc vào nhau như đàn bò gặp lúc trời giông tố, tụi bay hãy nhớ rằng tụi bay là những con nhà chài lưới và một ngày kia tụi bay sẽ là những tay thủy thủ hào hùng. Nếu tụi bay muốn trở về Thanh Hải gặp lại ba má, anh em, tụi bay hãy gồng lên và phải tuân theo lời tao. Tụi bay có hứa thế không ?

Như một luồng điện mạnh chuyền giật cả bọn trẻ, chúng nhao nhao lên :

- Đồng ý. Anh cứ ra lệnh đi, tụi em sẽ thi hành.

- Đứa nào không nghe, anh bợp tai liền đi.

- Hoan hô thuyền trưởng Thành Cồ !

Hùng khí vươn lên rồi, bọn trẻ quên hẳn khóc lóc, hãi kinh. Chúng tỏ ra cứng rắn lại. Trí tưởng tượng của chúng bày vẻ ra những câu truyện kể lại những chuyến tầu phiêu lưu, thám hiểm, rồi đắm tầu và đoàn thủy thủ tìm cách thoát nạn. Thành Cồ đưa ra sáng kiến :

- Này, tụi bay. Tụi bay phong tao làm thuyền trưởng, thì giờ phút này, tao phong tụi bay là bộ tham mưu của tao. Đồng ý hết không ?

Cả bọn gật đầu tán thành. Thành Cồ nói tiếp :

- Nếu vậy, tao bàn hỏi ý kiến tụi bay. Bây giờ tụi mình cùng kiếm cách nào tốt nhất để thoát nạn. Mỗi đứa đều phải suy nghĩ và đưa ra sáng kiến. Sau đó chúng ta sẽ quyết định. Toàn lém, mày hiến kế đầu tiên xem nào ?

Bằng một giọng khàn khàn, Toàn lém phát biểu :

- Theo ý kiến em, chúng ta cần phải bắn súng đại bác tới chiếc tầu nào gần nhất để họ giật mình và đi tìm kiếm chúng ta.

- Thằng Toàn ba xạo, tụi mình làm gì có súng đại bác mà bắn ?

- Ừ nhỉ, cũng chẳng có đạn nốt !

Toàn lém gân cổ cãi lại :

- Tao bất xét, hỏi ý kiến tao, tao đề nghị, còn theo hay không có ai bắt tụi bay phải theo đâu ?

Thành Cồ chận lại và quay sang hỏi ý kiến thằng Vĩnh thẹo. Thằng Vĩnh giật mình, rồi cũng đưa ra sáng kiến :

- Em đề nghị tụi mình leo lên đỉnh ghềnh đá kêu la rầm trời rồi vẫy áo ra dấu hiệu.

- Không được, thằng Hoà sún nhào vô, thằng này ngu quá trời, trời tối thui như thế này mà mày vẫy áo thì ma xó nó nhìn thấy à ? Em đề nghị với anh Thành thế này, tụi mình viết thư, bỏ vào chai, nút kín lại, rồi thả xuống biển.

- Mày lại còn ngốc hơn nữa, thằng Minh hô nhập cuộc, mày thả chai, lỡ nó trôi sang phía bên kia bờ thì sao ? Tao có ý kiến là chúng mình đốn cây, rồi khoét ruột. Thế là tụi mình chèo chống về nhà có ngon không ?

Bé Hùng, lúc nãy đến giờ ngồi im nghe bạn bè thảo luận, nóng ruột, nó lại chê thằng Minh hô :

- Thằng này cũng ngốc luôn, ở đây làm gì có cây mà đốn. Tốt hơn tụi mình nhặt các mảnh ván ghép lại thành một cái bè, thế có xuôi không ?

Lúc này, sáng kiến đã cạn, đứa nào cũng trịnh trọng tựa cằm trên đầu gối. cả bộ tham mưu thuyền trưởng Thành Cồ đi vào bế tắc. Thành Cồ tỏ vẻ lo ngại, bối rối vì chưa tìm được giải pháp mới mẻ nào. Thành Cồ tức tối quay sang Dũng, đứa lớn thứ nhì trong đám.

- Con nhà Dũng, sao mày lì thế, đưa ý kiến lẹ lên chứ !

- Theo tao nghĩ, Dũng gật gù, chúng mình không còn cách nào cả. Đừng đi tìm mặt trời lúc nửa đêm. Chắc ăn hơn hết là chúng mình phải rời bỏ đây ngay. Về nhà cười nói vui vẻ như không xẩy ra chuyện gì, nếu không ốm đòn cả lũ bây giờ. Ngồi đây tán nhảm hoài cho cọp biển nó nuốt à ?

Nghe con nhà Dũng nói có vẻ xuôi tai, cả bọn tán thưởng :

- Hoan hô thằng Dũng. Mày chì quá. Nên theo ý kiến của nó đi !

Trước ý kiến bất ngờ này, thuyền trưởng Thành Cồ nao núng. Thần tượng như đang sụp đổ và nhường ngai cho con nhà Dũng. Bình tâm lại, nó nhấn mạnh từng chữ chậm rãi và đanh thép :

- Tao đồng ý chúng ta phải rời khỏi nơi đây ngay lập tức như thằng Dũng nói, nhưng nó quên một điều quan trọng là chưa chỉ cho chúng ta phải về nhà bằng phương tiện nào ?

Con nhà Dũng đớ ra, thế là Thành Cồ thừa thắng xông lên :

- Thằng Dũng này có lẽ muốn nhạo tụi mình. Theo tao nghĩ, ý kiến của nó đưa ra là vô duyên nhất, dư thừa nữa.

- Mày có duyên dữ, con nhà Dũng nổi sùng, từ đầu đến giờ mày đã đưa ra ý kiến nào đâu ? Chưa muộn đâu con ạ. Thử coi !

- Tao chưa nói, không phải vì tao không có sáng kiến. Tao muốn nghe tụi bay nói trước đã. Bây giờ tao ra lệnh tụi bay hãy lục lọi khắp nơi trong người xem đứa nào có quẹt.

Cả bọn kiểm soát lại các túi áo. Trong lúc đó Thành Cồ dõng dạc nói tiếp :

- Tao nghĩ rằng tất cả các ý kiến của tụi bay không đưa ra xài được. Cách “suya” nhất là thu góp tất cả các mảnh ván lại và đốt lửa lên, lên thật cao để từ xa người ta có thể nhìn thấy hoặc các con tầu nhận ra dấu hiệu kêu cứu, họ sẽ tới giúp đỡ. Còn tụi bay hãy bình tĩnh ngồi vòng quanh lửa hồng chờ người khác đến chở về và luôn tiện ngồi sưởi ấm và sấy khô quần áo.

Những câu nói hùng biện vừa rồi lấy lại uy tín cho Thành Cồ. Tất cả đều bị lôi cuốn theo. Một lần nữa tụi nhỏ ca tụng thiên tài thuyền trưởng :

- Thuyền trưởng chì nhất. Tụi em tuân theo hết mình.

Được đà Thành Cồ ra lệnh :

- Tất cả đoàn thủy thủ chuẩn bị. Trong giây lát nữa sẽ lên đường !

Đám trẻ lần lượt đứng dậy. Dưới ánh sáng yếu ớt của sao đêm, cả bọn bước theo thuyền trưởng lần mò tới chiếc thuyền tàn phế mắc cạn đưới thềm đá, lục soát, tìm tòi, hy vọng tìm được đồ gì ăn hoặc nấu nướng. Nhưng chúng chỉ tìm ra mấy miếng giẻ, một mảnh buồm rách, một cái rìu và mấy đoạn dây. Không có gì vô dụng và dư thừa trong lúc này cả. Lũ nhỏ tận tình chiếu cố. Với cái rìu trong đôi bàn tay run rẩy, chúng thay đổi nhau bổ xuống chiếc thuyền đã vỡ và thi nhau nhặt các mảnh gỗ văng ra rồi xếp đặt lại thành đống củi. Chung tay nhau làm việc, bọn trẻ quên đi hẳn cảnh khốn cùng của chúng.

Những mảnh ván vẫn bắn ra tứ tung, lũ nhỏ tranh nhau lượm nhặt trong đêm tối. có đứa trượt chân ngã hoặc vồ lấy nhau kêu la oai oái. Thế là vùng biển hoang lại vang lên những tiếng hò la nhộn nhịp.

Đống củi đã được chất cao ngang tầm đầu chúng. Thuyền trưởng ra lệnh cho bộ tham mưu ngồi vây quanh đống củi và chỉ trong chốc lát, sau khi Thành Cồ quẹt diêm đốt vào đống giẻ, mọi người nín thở, chờ đợi, hồi hộp, ánh lửa đang lan dần giữa trời về đêm.

Niềm vui và hy vọng đang dâng lên. Tiếng gỗ bắt đầu nức nở kêu lách tách theo ngọn lửa liếm dần. Lửa khói đang rủ nhau vùng dậy, cố với tới nóc đống củi và sau cùng toàn đống củi bừng bừng rực sáng chiếu soi khắp tảng đá cheo leo và sóng biển chập chùng. Bọn trẻ hân hoan reo mừng chờ giờ phút người thân hoặc các con tầu gần đó nhìn thấy ngọn lửa và tới giải cứu chúng.


6

Từng giờ từng giờ qua đi. Đống lửa tàn lụi dần một lượt với những tia hy vọng được cứu vãn. Những mảnh ván của con thuyền chỉ đủ sáng soi niềm hy vọng của lũ nhỏ trong một khoảng thời gian thần tiên vắn vỏi. Sóng gió lại thi nhau xô lấn ghềnh đá gieo vào các tâm hồn măng sữa này những sợ hãi, lo âu mới.

Tiếng thì thầm than trách bắt đầu gợn sóng. Hơn khi nào hết, lúc này đám trẻ bắt đầu nhớ ba má, nhớ khung cảnh ấm cúng gia đình. Chúng hối hận đã một lần bất tuân phục để rồi đánh mất tất cả tình thương gia đình, những trò chơi say sưa trên bãi, những bữa ăn ngon lành thịnh soạn…

Bé Hùng nhớ tới người mẹ thân yêu nhất đời. Giờ phút này phải chăng má nó đang buồn sầu, khóc lóc, đi tìm kiếm nó cuống cuồng trên bãi biển ? Nó hối hận, nó sợ hãi và đôi dòng lệ đang từ từ lăn trên đôi má. Và nó cũng bắt đầu nghe thấy những tiếng sụt sịt của thằng Minh, thằng Toàn và cả thằng Hoà sún nữa, ngồi gần bên nó.

Nhìn thấy tinh thần bộ tham mưu đang xuống dốc không thắng, thuyền trưởng bối rối, lo âu, nhưng rồi trong chốc lát lại trấn tĩnh được. Và thế là một lần nữa lãnh tụ bọn oắt hịch tướng sĩ :

- Tụi bay làm gì thế ? Chưa gì đã dúm lại với nhau cả đống vậy ? Trông không khá tí nào cả ! Than van khóc lóc lúc này không ích lợi gì ráo trọi. Cuộc đời cần phải có sóng gió mới le chứ ! Tụi bay còn nhớ thằng Tintin đã mạo hiểm phiêu lưu thế nào chưa ? Đã bao lần đắm tầu, bị bắt, bị rượt đuổi trong các chuyến phiêu lưu ở Conggo, ở Ả Rập và nhất là ở hòn đảo đen, thế mà nó đâu có ớn, có khóc lóc hèn yếu như tụi mày đâu ? Nhờ nó nhanh trí, gan dạ, bình tĩnh và cương quyết xoay sở mà rồi trong tất cả những giờ phút gian nguy, nó đã thoát nạn hết. Nó chì hết chỗ chê. Tụi bay chỉ đáng xách quần thủng đít cho thằng nhóc đó. Thôi bây giờ tao đề nghị tụi bay, mình nên tổ chức cái gì chơi cho quên buồn, chờ đến sáng mai sẽ kiếm cách về nhà. Được không ?

Bị chạm tự ái, thằng Toàn gồng lên, gạt nước mắt và ra vẻ cương quyết :

- Anh Thành nói trúng đó. Khóc lóc tỏ ra chúng ta yếu đuối lắm. Đề nghị anh Thành tổ chức chơi “tay trắng tay đen” đi !

- Hay là nhảy cừu đi !

- Không được, thằng Phát gạt đi, tụi mình nên chơi trò “nhạc trưởng” !

- Ở đó mà chơi, thằng Dũng còn căm tức Thành Cồ, không lo tìm cách về nhà ngay đêm nay đi, còn ngồi đây mà bầy với vẻ cho chốc nữa sóng biển vồ ráo trọi à ?

Thành Cồ tức lắm, nhưng nó dằn lòng :

- Thôi tốt hơn tụi mình ngồi gần lại nhau cho nó ấm, rồi kể chuyện chơi. Tụi mình đứa nào cũng có truyện kể hết. Không gì đẹp hơn, lý thú hơn là quây quần bên nhau nghe kể truyện. Lần lượt đứa nào cũng phải kể. Đứa nào kể hay nhất, ngày mai Chủ Nhật tao sẽ thưởng một cây kẹo loại chì nhất, ngon tuyệt cú mèo !

Như một luồng gió ấm áp quét sạch mây mù, tụi nhóc tán thành sáng kiến của Thành Cồ. Đứa nào đứa nấy bóp trán kiếm truyện ra kể. Đấu trường đã mở rộng cửa, tụi nhóc hăng hái bước vào như những dũng sĩ, nhất là khi chúng tưởng tượng ra cây kẹo mạch nha ngon tuyệt của Thành Cồ treo cho giải thưởng kể truyện hay nhất. Thành Cồ đi vào màn xách động :

- Toàn lém, mày bắt đầu đi chứ ! Mày kể truyện chì một cây kia mà !

Toàn lém ngồi thẳng người dậy ra vẻ ta đây, khí thế dâng lên ào ào, như chàng hiệp sĩ cưỡi ngựa đang phi nước đại vào đấu trường.

- Đâu có ớn, cái gì chứ kể truyện là nghề của em mà. Em xin kể một câu truyện về ông già Noel.

- Không được, Thành Cồ át giọng, tụi mình đang đói bụng thấy mồ, rét run cầm cập mà kể truyện ông già Noel làm sao được ! Yếu quá, phải kể truyện gì gây cấn cho ấm lòng lên chứ !

- Nhưng em cho rằng nó hay thì sao ? Toàn lém sừng sổ, ấp úng đáp lại.

- Thôi đi, dẹp chuyện ông già Noel lại, Thành Cồ tỉnh bơ trả lời. Kể truyện khác hào hứng hơn, nếu không thì nghỉ đi !

Toàn lém hờn mát :

- Em chỉ biết có thế thôi. Ai có truyện hay hơn thì cứ kể đi !

Con nhà Dũng chờ nước đục thả câu :

- Tao đã bảo dẹp đi, về nhà ngủ còn sướng hơn.

Thành Cồ cương quyết :

- Đứa nào nhớ nhà thì lo mà về đi. Thằng nào phá đám, tao uýnh thấy mồ bây giờ !

- Em xung phong. Hoà sún hắng giọng. Em xin kể truyện một ông già gân không thể ngồi dựa lưng suốt hai mươi năm trường.

Lời dạo đầu câu truyện có vẻ bất ngờ, kỳ khôi, ăn khách làm gia tăng óc tò mò của tụi nhỏ.

Sau khi ưỡn ngực lấy hơi, Hoà sún tiếp :

- Ông già này là thợ máy trên con tầu Hùng Phong đang chạy trong vùng biển lạnh Bắc Cực. Vào một buổi sáng kia, con tầu mắc kẹt giữa những tảng băng lớn không đi ra cũng không đi vô được. Nơi đây là quê hương của cá voi, và sống trên những miền giá băng này là từng đàn gấu trắng. Một ngày kia ông già gân đi lang thang, bất chợt gặp năm con gấu trắng. Ông hoảng sợ định bỏ chạy thì năm con gấu nầy gật đầu chào ông. Ông dừng lại. Năm con gấu tiến tới, quỳ, nằm xuống chân ông, đưa lưỡi ra liếm chân tay ông. Ông già gân tưởng mình đang sống trong giấc mơ thần thoại. Chúng ngoan ngoãn bước theo chân ông trở về tầu. Và chỉ khi ông bước lên tầu rồi, chúng mới trở lại. Rồi sáng hôm sau, ông cũng gặp được những con gấu trắng khác và chúng đối xử với ông như năm chú gấu hôm qua. Và từ đó từng đoàn gấu trắng hàng ngày kéo tới đây đông hơn chơi với ông. Các bạn đồng nghiệp thầm khen ông già gân có biệt tài lôi cuốn loài gấu và họ còn nói thêm rằng hình như ông có một loại nước bọt đặc biệt ông phun ra mỗi lần gặp đàn gấu. Mười ngày sau đó, băng đá tan dần. Con tầu có thể lên đường. Đoàn gấu than khóc và tiễn chân ông ra mãi tận biển xa. Ba năm sau đó, lúc ông có dịp trở lại, ông và đoàn thủy thủ gặp thấy một chú gấu đen. Ông muốn tỏ ra tài lôi cuốn loài vật của mình, ông đánh cá với đoàn thủy thủ là ông sẽ chơi giỡn với con gấu này. Ông lên bờ, tiến gần lại phía con gấu, ông phun lên mặt nó một ít nước miếng. Thay vì mừng đón ông, chú gấu đen chồm lên định vồ lấy ông. Thế là ông già gân cao bay xa chạy về tầu. Chú gấu đuổi theo. Ông già leo lên cột buồm. Chú gấu nằm lì dưới chân cột buồm, gầm thét mấy ngày liền như muốn đớp cho bằng được kẻ thù của nó. Ông già nhịn đói nhịn khát ôm cột buồm suốt mấy ngày trời. Từ đó về sau ông già không ngồi tựa lưng được nữa.

Tụi nhỏ thở dài nhẹ nhõm, khoan khoái, vỗ tay tán thưởng Hoà sún hết chỗ chê.
__________________________________________________________________


Ghềnh Đá Cheo Leo (Chương 1 - 2 - 3)

1

Vào năm 1945, giữa mùa Thu của bầu trời thanh quang, chiếc xe ngựa dừng lại trước xóm làng Thanh Hải. Một thiếu phụ trẻ đẹp bước xuống xe và dắt theo cậu bé mảnh dẻ, ngơ ngác, mệt nhọc, khoảng chừng 6 tuổi, dầu cậu đã thực sự lên 7. Người thiếu phụ thật hiền dịu, ảm buồn trong chiếc áo dài đen, mặt nhợt nhạt tựa tàu lá dừa đang ve vẩy trên mái tóc như chào đón hai người khách mới đến thăm viếng Thanh Hải. Những gói hành trang chất bên lối đi nói lên rằng hai mẹ con người thiếu phụ này không phải về nơi đây để nghỉ mát một vài ngày hay một tuần lễ, nhưng có lẽ hàng tháng, hàng năm.

Thực vậy, khi mới đặt chân tới đây, nàng đã hỏi thăm nhà người quen làm nghề chài lưới. Nàng được người bà con dành cho căn phòng rộng rãi, thoáng khí, tràn ngập nắng mai và hướng về biển rộng. Như một cô chim mái xoắn xít dệt tổ ấm nuôi con, nàng thiếu phụ mau mắn trang trí căn phòng thật xinh xắn, ấm cúng với những chiếc màn gió đầy hoa tươi thắm, với chiếc giường trải khăn trắng êm, với chiếc bàn xếp đặt sách vở gọn gàng đẹp mắt.

Cuộc sống của nàng nơi đây đã quen thuộc, thích thú, thanh thoát. Nàng đã hoà mình nhanh chóng giữa những người dân hồn nhiên đầy thân tình. Hàng ngày nàng đi dạo, hoặc dắt con đi chơi trên bãi cát và dưới những tàn cây rũ bóng mát. Hai mẹ con nàng đã dạn dĩ với nắng biển, với những làn gió mịt mù bụi nước, với muôn tiếng sóng gào thét tự ngoài xa, và với nhiều nắng biển chờn vờn da thịt ửng hồng.

Rồi những buổi chiều khi nước thủy triều rút xuống, nàng ngồi trên bãi cát nhìn đứa con bé bỏng, ốm yếu chạy theo chúng bạn ra thật xa đuổi bắt còng còng, mò tôm cá trong những vũng nước đọng, hoặc ngồi xuống múc cát ướt xây lâu đài cổ kính; có lúc nàng chạy ra xem con đùa giỡn, mỉm cười và nhắn nhủ con đừng nghịch bẩn. Cho tới lúc trời xẩm tối và gió thổi mạnh, nàng tới choàng áo cho con và dắt con về ngủ. Về tới nhà, nàng tắm rửa cho con, thay quần áo, dọn cơm, kể chuyện và khi đứa con thiếp ngủ trong lòng rồi, nàng âu yếm đặt con xuống giường, hôn nhẹ lên mái tóc.

Còn lại mình nàng đơn chiếc trong căn nhà yên tĩnh và mặc cho gió biển lùa vào thổi mạnh dồn dập, nàng ngồi trước bàn đọc sách hoặc cầm bút viết nhật ký hàng giờ, không biết mỏi mệt. Nàng thả hồn say đắm, tuôn trào những tư tưởng thầm lặng, những sợ hãi, những hy vọng, những yêu thương ngập tràn tâm hồn trên những trang giấy trắng tinh.

Nếp sống của hai mẹ con thiếu phụ Ngọc Hạnh tại làng quê Thanh Hải là thế đó. Những người dân ngư phủ ở đây chưa hiểu biết số phận của hai mẹ con nàng ra sao cả, và họ cũng chẳng mong muốn gì hơn là cần mẫn làm việc. Những người dân chất phác này họ lam lũ hơn là tò mò. Đàng khác, thực ra cũng không có gì bí ẩn và dị thường trong cuộc sống của người thiếu phụ trẻ trung này.


2

Bất cứ những ai quen biết, thân thuộc cặp vợ chồng Ngọc Hạnh trong những năm đầu tiên của cuộc sống hôn nhân, đều phải nhìn nhận đây là một tổ ấm thật hạnh phúc. Đôi vợ chồng trẻ này sinh trưởng trong những gia đình lễ giáo. Của hồi môn của họ không gì quý giá hơn là một tuổi trẻ lương thiện và một tình yêu chân thành được tạo dựng trên một niềm kính trọng lẫn nhau.

Sau khi đã trải qua những ngày lận đận xây tổ uyên ương lúc ban đầu, họ đang dần dần bước vào cuộc sống đầy đủ, thảnh thơi.. Với họ, những đức tính tốt giá trị hơn giầu sang của cải. Tuy nhiên cả hai thứ đều giúp họ tạo nên một cuộc sống tươi vui, xứng đáng.

Trước hết, người chồng được thâu nhận làm trong một hãng buôn lớn tại Huế. Và nhờ cần mẫn, hoạt động, lanh lợi, chàng đã mở được một trương mục riêng tại ngân hàng trong một thời gian ngắn. Bên cạnh chàng, cô vợ thật duyên dáng và đảm đang mọi việc nội trợ. Với mức sống đó, với giá trị đó, hai vợ chồng sống rất đằm thắm, yêu thương. Cuộc đời mỉm cười với họ. Họ sinh hạ được những đứa con kháu khỉnh : hai trai, một gái. Cả ba đều ngoan ngoãn dễ thương. Nhưng than ôi, một cơn sóng gió bất hạnh đã nổi dậy giữa cuộc sống phẳng lặng của họ.

Cho tới lúc sáu tuổi, cô chị cả vẫn lớn mạnh như một chồi cây vươn sức sống và sau đó bắt đầu nhợt nhạt, héo tàn, mệt nhoài và chỉ trong vòng mấy tháng sau cô đã kiệt sức, tắt thở. Hai năm sau cậu con trai thứ hai cũng vụt tắt như người chị cả. Lúc ấy cậu cũng được sáu tuổi và người ta, cả khoa học lẫn tình yêu thương đành chịu bó tay đứng nhìn cậu vĩnh biệt cõi đời.

Trong ba đứa con, chỉ còn lại một mình bé Hùng.. Và bây giờ người ta cảm nhận thấy niềm kinh hãi gia tăng trên nét mặt của đôi vợ chồng trẻ bất hạnh sau khi định mệnh đã tước đoạt mất hai đứa con yêu. Họ hoảng hốt mỗi lần nhận thấy những dấu hiệu đầu tiên của căn bệnh. Bé Hùng cũng tàn héo như cây hoa thiếu nước, và căn bệnh biến chuyển thật mau lẹ. Họ đã tìm kiếm tất cả các bác sĩ và thầy thuốc nổi danh khắp nơi để chạy chữa cho con và sau cùng chẳng còn bậc danh y nào để họ tìm đến nữa.

Tuy nhiên trong khu vực hai vợ chồng trẻ này sống có một bác sĩ không danh tiếng lắm, nhưng ông hành nghề thật chăm chỉ và liêm chính. Họ đã chạy tới cầu cứu ông trong cơn nguy biến và ông đã tới. Ông rất hiền hậu, gương mặt hơi sầu buồn, cặp mắt đăm chiêu. Ông lắng tai nghe người vợ nức nở khóc trong lúc thuật lại tình trạng bệnh hoạn của đứa con nhỏ, Sau khi khám bệnh xong, ông ngồi vào bàn trầm ngâm suy nghĩ… rồi ông bắt đầu nói :

- Tôi biết ở dưới trần gian này có một vị danh y độc nhất có thể chữa khỏi được con của anh chị. Anh chị có hay biết không ?

Người vợ sửng sốt, cuống quít hỏi dồn :

- Thưa bác sĩ, ai thế ? Tên ông ta là gì ạ ?

Bác sĩ bình thản trả lời :

- Hẳn không phải là tôi rồi. Và hầu như trước hết, các căn bệnh phải tìm tòi ông chữa trị đã, nhưng rất tiếc phần đông người ta đã không đi tới thăm bệnh ông..

- Dạ, thưa bác sĩ, xin bác sĩ làm ơn cho chúng tôi biết tên và địa chỉ để chúng tôi tới tìm kiếm ông.

Người vợ sáng mắt, hy vọng, kêu cứu :

- Thưa bác sĩ, tôi sẽ lên đường tìm ông dù mãi tận chân trời xa tắp.

Bác sĩ nghiêm nét mặt như truyền lệnh cho người thiếu phụ :

- Vậy chị hãy lên đường ngay không phút giây trì hoãn. Chị đừng chờ đến ngày mai, nội ngày hôm nay chị hãy khởi hành. Vị danh y tôi muốn nói đến, không ai xa lạ cả, đó là thiên nhiên. Chị hãy ra đi trao phó con chị cho thiên nhiên. Nếu chị còn ở lại nơi đô thị này, tôi quả quyết với chị rằng trong một thời gian nữa, không xa đâu, đứa con của chị sẽ nối gót anh chị nó. Chị hãy tránh khỏi cuộc sống tù hãm ngột ngạt của thành thị đang giết chết dần mòn đứa con của chị. Chị hãy đi xa khỏi Huế và tìm về bờ biển, nơi ấy con chị sẽ tìm gặp được sức sống là không trung bao la, là khí trời thanh thoát, là mặt trời ấm áp và là những chân trời bát ngát của biển cả. Chị tập luyện cho con chị làm quen với bãi cát, dấn mình thấm nước muối của đại dương. Và một khi sức mạnh của con chị tái sinh, chị hãy để cậu chạy nhảy tự do như gà tơ giữa đồng cỏ xanh tươi. Rất may ở ven biển không thiếu trẻ con nô đùa, chị hãy để cậu trà trộn, hoà mình vào lũ trẻ ấy đùa chơi thả cửa trên bãi cát. Chị đừng che chở cậu tránh nắng tránh mưa. Hãy để mặc cậu ăn uống ngủ nghỉ tuỳ thích. Chẳng cần phải thuốc men và thầy thuốc nào cả. Thiên nhiên tài khéo hơn các viện bào chế. Chỉ mình thiên nhiên tạo nên phép lạ và kỳ diệu.

Dặn dò xong, ông đứng dậy cáo biệt ra về.

Ngọc Hạnh nhớ tới Thanh Hải, một làng chài lưới có người thân thuộc. Thế là ngay trưa hôm đó, nàng lấy vé xe lửa đi Đà Nẵng. Và cũng chiều hôm đó từ Đà Nẵng, nàng thuê xe ngựa hướng về miền cửa biển, nơi đây sự sống và thần chết sẽ giành giật nhau mạng sống của đứa con trai nàng.


3

Sự sống đã thắng trận nơi đây. Chỉ trong một vài tuần lễ, như một thân cây đang khô héo dần mòn trên mảnh đất khô cằn của thị xã và được đem đi trồng miền đất phì nhiêu, thân cây ấy bắt đầu tươi dậy và hứa hẹn mùa nở hoa xinh thắm trong những ngày tháng tới : bé Hùng đã thực sự tái sinh. Nhựa sống đang lưu thông như khởi đầu một công việc huyền diệu. Người ta nhìn thấy nhựa sống ấy chuyển vận dưới làn da mát lịm, tươi hồng. Cặp môi bớt đi mầu nhợt nhạt và đôi mắt ánh chiếu lên ánh sáng vươn dậy của tuổi thơ. Và chính Ngọc Hạnh, nàng cũng đang tái sinh. Nàng viết thư về cho chồng :

Anh thân yêu,

… Anh có thể ngờ rằng em chẳng còn là một người mẹ hạnh phúc sao ? Hình như bầu trời đang trao trả hạnh phúc cho em và trao trả luôn cả hai đứa con đã chết của chúng mình. Chúng sống lại trong bé Hùng và mỗi lần ôm ấp bé Hùng, em như cảm thấy em đang ôm cả ba đứa trong lòng em… 

Nhận được thư của vợ, người chồng vui sướng, và chỉ một vài ngày sau đó, chàng rời Huế vào Đà Nẵng thăm vợ con. Chàng ở lại Thanh Hải gần một tuần lễ và chỉ trong mấy ngày đó cũng đủ thời gian để chàng làm quen với khung cảnh của những người thân yêu nhất cuộc đời đang sống. Gia đình đoàn tụ. Chân trời hạnh phúc bừng sáng. Chàng theo chân hai mẹ con bước trên khắp vùng bãi biển. Chàng chăm chú mỉm cười nhìn hai người đang vui sống.

Mới trong vòng vài tháng, bé Hùng đã tìm lại và gặp gỡ sức sống tràn trề : thiên nhiên đã hoàn thành tác phẩm sự sống. Vào đầu tháng mười, Ngọc Hạnh đã viết thư về Huế :

… Nó không còn là đứa trẻ nữa, nó là thằng giặc. Đâu đâu người ta cũng trông thấy nó, cũng nghe tiếng nó reo hò. Nó là hiện thân của niềm vui, của ồn ào, của chuyển động trong làng. Bây giờ nó không đi nữa, cũng chẳng chạy nữa, nhưng nó bay. Nó không ăn nữa, nhưng nó nghiến ngấu. Người ta nhận thấy trong thân hình nó, cả đến mái tóc nó đang chứa đựng một sức sống sôi bỏng, vùng dậy. Anh hãy mau mau gửi quần áo thêm cho nó, rách tươm hết cả rồi. Anh có tin thế không ? Chỉ còn có vùng trời biển cả là thành công lắng dịu nó, cản ngăn nó. Thực sự biển cả đã ru nó vào cơn mê quay cuồng. Khi biển cả rút xuống, mặt nó buồn nản. Lúc nước dâng lên, nó vỗ tay reo hò. Nó yêu thích biển cả như nó đã hiểu được chính biển cả đã cứu vãn mạng sống nó. Cho tới lúc này chẳng còn gì hấp dẫn nó cả. Anh có biết được nó mộng ước gì không ? Đất liền không còn cung ứng đủ sức sống cho nó nữa. Phiêu du trên biển cả, chính là tham vọng của nó đấy, anh ạ. Anh có biết không, sáng nay nó báo tin cho em là bác Trọng đồng ý cho nó đi theo xuống thuyền ra biển đánh cá ! Em không ưng thuận. Em chỉ bằng lòng cho nó đặt chân xuống thuyền lúc đã cập bến và buộc dây.

Vào phút giây viết thư cho anh này, nó đang ngủ. Rất tiếc anh không có ở đây để nhìn ngắm nó đẹp dường nào. Má nó ửng hồng như trái đào tơ mịn, thật tươi thắm, thật an bình. Và anh có thể tưởng tượng rằng, lúc thức dậy, nó chính là một sức sống bão tố nổi dậy. 
________________________________________________________________________________ 

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

Lũ Vịt Con - LÊ THỊ THÁI BÌNH

Thể theo lời đề nghị của lũ con nít, mợ đi mua về một chục vịt con.

Chán chưa, vịt gì mà đen trùi trũi như chuột chù. Nom đến là khiếp. Nó bé vừa vặn bằng nắm tay nhỏ tí, chạy cun cút kêu kiu kít loạn cả lên. Nom cũng xinh, nhất là đôi mắt long lanh như hai hạt cườm bự. Nghĩa là em chả biết ví nó với cái gì bây giờ, so với hạt cườm thì nó quá lớn, mà so với hạt ngô thì nó quá nhỏ. Tóm lại coi hệt như đôi mắt chuột! Cái mỏ ngắn tí xíu, có con mỏ đen thui, có con nâu nhờ nhờ, có con điểm tí ti vàng. Bộ lông cũng thế, lũ vịt này đen chả ra đen nâu chả ra nâu mà vàng cũng chả ra vàng.

Mợ giải thích:

- Vịt đen khỏe hơn vịt trắng con ạ.

- Nhưng mà nom chán quá mợ ơi!

- Chán cái gì? Lũ vịt trắng nằm quay đơ cả đám, mợ thấy con nào khỏe thì mợ chọn chả cứ trắng với đen. Đấy các con chả xem chúng có chạy ngoeo ngoéo thế kia!

Thực ra chúng nó chả hề chạy ngoeo ngoéo chút nào. Cả lũ xúm vào nhau nằm ép sát lại một đống, con nọ chúi đầu dẫm vào lưng con kia, cứ hệt như một lũ ngốc. Tuy thế nhìn kỹ một hồi thấy nó cũng ngồ ngộ. Nhỏ Phượng nghịch tinh tóm ngay lấy một chú giơ lên. Chàng ta hoảng hốt đập loạn đôi cánh bé tí tẹo chòi đạp đôi chân xinh xắn, còn mỏ thì không ngớt kêu lên thảm thiết. Nhỏ Tí gật gù:

- Không chừng nó đang chửi chị Phượng cậy lớn bắt nạt trẻ con!

Nhỏ Phượng cười tít cả mắt không thèm trả lời, lẹ tay chộp thêm một chú nữa:

- Con xí hai chú này.

Tí dãy nảy:

- Không biết, chị Phượng ăn gian. Em bé nhất nhà phải cho em chọn trước.

- Còn lâu. Tí cậy nhỏ ăn hiếp lớn vậy mà dám bảo chị cậy lớn ăn hiếp nhỏ.

Mợ giàn hòa:

- Thôi, Tí chọn hai con này. Con này nhỏ mà khôn thấy chưa? Vịt khôn con mắt đen xì, vịt dại con mắt nửa chì nửa thau mà lại.

Nhỏ Tí ngẫm nghĩ một hồi, bèn gật. Thế là hai chú “vịt khôn” nghĩa là đen thùi lùi từ đầu đến đuôi, từ đuôi đến đầu, đã thuộc về nhỏ Tí.

Cu Hòa nãy giờ ấm ức. Hắn là con trai út, út giai vẫn thua út gái, với lại chả lẽ anh mà lại giành với em thì còn ra cái thống chế gì. Nhất là trong trường hợp hai cô em nổi tiếng hay nhè và lại đanh đá một cây. Hắn lầm lì ẵm luôn hai chú vịt “nửa khôn nửa dại”, vừa đen vừa vàng lẫn lộn. Hắn giải thích:

- Vịt em Hòa đơ cu lơ, cao bồi số dách.

Quả thật, vịt tên Hòa không phải tay vừa. Bây giờ em mới khám phá ra rằng hình như có một con bự nhất đám. Ái chà, thế ra hai cô em gái dốt thật! Em mà được chọn trước ấy à, còn lâu.

Vỏn vẹn, còn lại có bốn con. Tên Tài buồn thiu trố đôi mắt ra nhìn bốn chú vịt “không rét mà run” đứng chúi vào nhau với một vẻ buồn thảm đến tội nghiệp. Hắn bao giờ cũng chậm lời nhất nhà, bởi lẽ khi cáu quá thì giọng nói của hắn bỗng dưng tắc tị, mà nếu có cố gắng phát ngôn được thì cũng thành nói lắp. Anh Chất thương tình mách nước:

- Em Tài chọn chú vịt mắm tôm đi. Độc nhất vô nhị mờ!

Quả thật, trong đàn lạc lõng một chú vịt nâu, màu lông xỉn như màu mắm ruốc. Nghe đến mắm tôm, cu Tài sáng cả đôi mắt, vì đó là món hẩu xực của hắn. Bún mắm tôm đậu rán, cà pháo chấm mắm tôm, ái chà hấp dẫn. Thế là tên Tài chính thức trở nên “khổ chủ” của chú vịt mắm tôm. Dĩ nhiên mắm tôm có thêm một chú bạn loang lổ hai màu.

Còn trơ lại hai con. Em và anh Chất nhìn nhau cùng thở dài đánh sượt một cái. Làm anh chị chán nhất đời, những khi bố mẹ chia quà. Còn sướng nhất đời khi được “bắt chân chữ ngũ” sai chuyền lũ em. Bố vừa bảo: “Chất lấy cho bố cái búa đây” là y như trong nhà nghe thêm một câu phụ đề:

- Em Tài lấy cho bố cái búa.

Dĩ nhiên tên Tài hùng hục thi hành mệnh lệnh. Sai tên Hòa thì tốt hơn nên làm lấy, cu Tài kinh nghiệm lắm mà, đụng vào ông em út thì một trăm lần đều thiệt.

Cuối cùng vì phải thực hành cái câu châm ngôn: Kẻ cầm đầu bao giờ cũng phải vui sau cái vui của thiên hạ, thế cho nên em và anh Chất đành chia nhau hai chú vịt bé bỏng nhất đàn.

Khi bố đi làm về thì mảnh sân trước đã được quây thành một ô vuông mỗi chiều hai thước. Hàng rào cắm bằng những cành ngũ sắc vặt trụi lá, lũ vịt ồn ào bên trong. Thấy bố ngẩn mặt ra nhìn lũ vịt đen thui, mợ tủm tỉm cười bỏ vào trong nhà, giục chị Ba dọn cơm. Trong bữa cơm, bố đề nghị:

- Lát chiều Chất chịu khó đào đất thấp xuống, để đặt cái máng heo ăn vào cho vịt nó tắm nghe!

Anh Chất liếc nhìn cu Tài, dạ một tiếng rõ to. Bố hóm hỉnh thêm:

- Cho vịt nó tắm nhiều nhiều, có khi nó sạch nó bớt đen không chừng!

Cả lũ con nít rộ lên cười mợ lườm bố quay đi.

Thế là ngay buổi chiều, sau khi tên Tài – chứ không phải anh Chất! – vất vả đào đất một hồi cái pít xin của lũ vịt hoàn thành. Đây là một cái máng để heo ăn, dài khoảng một thước đóng bằng gỗ thật dầy thật nặng – cái máng được “hạ thổ” rồi, mợ bèn bắt vòi ny lông cho nước chảy tràn vào. Thả thêm ít cánh bèo tấm vớt ở hồ Mê linh, thế là đâu vào đấy. Tiếc rằng “hồ tắm” hơi cao so với thân hình lùn chũn của lũ vịt. Mà gì chứ cái đó giải quyết dễ ợt, bắc thêm mảnh gỗ làm thang là xong ngay.

Có điều lũ vịt ngu quá là ngu. Lẽ ra người ta phải gọi “ngu như vịt” mới đúng, pít-xin ngon lành thế mà chẳng đứa nào dám khánh thành. Nhỏ Tí dùng đủ mọi cách dồn tụi nó đến sát cầu thang tụi nó vừa chạy vòng vòng vừa ngoác mỏ ra kêu ầm ĩ, chắc là gọi “má ơi!”. Đứa nào vô phúc lạng quạng leo lên được lưng chừng, đến khi thấy các bạn chạy biến đi là lại cuống cuồng bổ nhào xuống giơ hai vó lên trời mà đạp. Cho kỳ đến khi nào nâng được cái thân hình múp míp lên mà chạy theo các bạn mới thôi.

Cu Tài trợn mắt nhìn lũ vịt có vẻ cáu sườn. Chê hả! Này chê này! Thế là nó âu yếm tóm lấy thằng mắm tôm quẳng vào hồ bơi đánh tỏm! Tiếp theo là bạn thằng mắm tôm. Rồi mấy thằng đơ cu lơ và lũ nhọ nồi. Lỏm bỏm lỏm bỏm! Kíu kíu! Lũ vịt gọi nhau ỏm tỏi, nhao nhao rủ nhau lóp ngóp bò lên thành máng. Bịch! Bịch! Chao ôi là xót ruột, chúng nó đua nhau lăn cù xuống đất con thì sấp con thì ngửa, không còn kịp lấy thế chi cả. Rồi cả lũ kéo nhau chạy giạt ướt loi ngoi thật đúng là một lũ “chuột lột”.

Cha mẹ ơi, đời thuở nhà ai mà vịt lại chê nước bao giờ?

Từ mợ giở xuống cho đến nhỏ Tí ai cũng lăn ra cười. Cu Tài hậm hực nhìn lũ vịt như muốn ăn tươi nuốt sống cái bọn cứng đầu. Mợ nhịn cười vừa thở, vừa nói:

- Cái thằng! Mày làm thế thì chúng nó chết khiếp đi rồi còn tắm với táp gì nữa! Vịt chứ có phải trâu lăn đâu!

Lại một dịp cười nổi lên, vì Trâu lăn vốn là hỗn danh của cu tài. Mặc cho hắn đỏ mặt tía tai vì cáu, mợ ung dung đến bên vuông sân nhỏ quơ tay nhẹ nhàng bắt từng chú vịt thả xuống nước. Trước tiên là hai thằng đơ cu lơ rồi đến mấy thằng “Tí khôn”.Khi anh chàng cao bồi vừa đặt chân lên thành máng định leo ra thì mợ lại nhẹ nhàng gạt xuống. Kíu à… Kíu à… Anh chàng vùng vẫy loạn xa, văng nước tứ tung. Chả ai bảo ai thế là mỗi người nhào đến lo chăn vịt của mình.

Quả đúng là trời sinh! Vịt thả xuống nước chả sợ chìm cho nên chỉ trong chốc lát cả mười chú giỡn nước ra chiều khoái chí. Chân đạp như chân nhái, cánh rũ rũ, mỏ chúi lên chúi xuống như mười têngiặc biển con. Một lát ý chừng sợ chúng mệt, mợ bảo tụi em để yên cho cả lũ kéo nhau lên, con thì leo thang, con thì rớt xuống đất, rốt cuộc chúng họp lại cả bọn nằm xòe cánh phơi nắng với cái vẻ thật bằng lòng.

Tối đến, bố lấy thùng các tông ra hốt lũ vịt đem cất vào trong nhà. Để ngoài sân thì có mà chết cóng, với lại chắc không thoát khỏi miệng chuột cống, cứ sáng ra khi có nắng ấm mới lại cho cả lũ vào chuồng. Chúng em đang nghỉ hè tha hồ mà được ở nhà chăn vịt.

Chị Ba thật tử tế, hôm nào đi chợ cũng ôm về một mớ sà lách soong. Em và cu Tài nhào đến đứa thớt đứa dao cặm cạch thái. Thái xong, đứa cắp rổ rau đứa ôm thùng vịt khệ nệ ra sân trước. Nắng mới lên màu vàng chan hòa trên những lá thông lấp lánh. Ấm tệ!

“Hồ bơi” đầy nước. Em trịnh trọng bốc một nắm rau thả vào máng. Sau đó, chùi tay vào quần cho sạch em chạy ù vào nhà mang ra khúc bánh mì vừa ăn vừa chăn vịt. Lũ vịt đã được cu Tài thả vào sân theo thói quen phưỡn ngực đập cánh một lát ý chừng tập thể thao. Tuy nhiên hình như tập ngược hay sao ấy mà càng ngày bụng bọn hắn càng bự ra. Một tuần rồi còn gì? Cái đuôi đã thấy dài thêm một chút lúc lắc mỗi khi chúng bước lạch bạch. Thỉnh thoảng lại có con lăn cù ra có lẽ vì đôi chân bé tí không kham nổi cái mình tròn dài úc núc.

Một con, hai con, rồi cả đàn lặc lè leo thang, tỏm tỏm cả lũ nhào vào hồ bơi như ăn cướp, khào khào kíu kíu… những cái mỏ xinh xắn đớp rau lia lịa. Chúng làm sao mà đến là tài, lia mỏ chỉ một nhoáng thôi là những cánh rau xanh đã biến mất chẳng còn tung tích.

Cu Tài khoái chí cho thêm một vốc rau nữa. Rồi bất ngờ nó ngoác mồm ra mà cất cao giọng hát vịt đực trứ danh:

Một đàn vịt bơi dưới ao hồ… thằng bờm xờm vác que đuổi đánh a ha ha nó kêu quác quạc quác quạc…

Cánh cửa sổ trên gác đột ngột mở toang. Cô em út thò mái đầu bù xù ra hỏi giọng ngái ngủ:

- A anh Tài cho vịt ăn hở? Có cho vịt em không?

- Còn lâu. Tí phải xuống coi vịt Tí chứ, anh chỉ chăn vịt anh thôi à.

Cặp mắt nai tơ của nhỏ Tí mở to nhưng khi thấy cả đàn vịt đang sởn sơ đùa giỡn thì cô nàng có vẻ yên tâm. Lục đục một lát Tí và Phượng kéo nhau ra sân trước hấp háy đôi mắt nhìn lũ vịt.

Em quay lại:

- Khiếp! Con gái con đứa gì mà 9, 10 giờ rồi không thèm đánh răng rửa mặt?

Cu Tài tiếp lời:

- Vịt nó còn ở sạch hơn Tí với Phượng!

- Hứ! Sức mấy!

- Sức mấy hả? Xem kìa, không phải nó đánh răng súc miệng từ nãy giờ là gì?

- Vịt nó làm gì có răng?

- Không có răng thì sao mà ăn tôm ăn cá? Hóc xương bỏ xừ! Có điều răng nó không giống răng tụi mình. Răng nó là… là… răng vịt!

- Răng vịt là răng làm sao?

- Sao cũng được, có điều không sún như răng Tí thì thôi!

Ái chà! Hôm nay cóc mở miệng. Cu Trâu lăn đấu khẩu với lũ em gái mà thắng thì quả là một sự lạ chưa từng thấy! Phượng và Tí cãi không lại đành hậm hực kéo nhau đứng dậy vào nhà rửa mặt. Em gọi với theo:

- Nhớ lát mang ra bát cơm nguội nghe. Cho vịt ăn cơm nó mau lớn!

Có một điều em quên mất là cơm bỏ xuống nước thì chìm chứ không nổi như rau. Nhìn những hạt cơm trắng phau ẩn hiện lập lờ dưới làn nước thoạt tiên lũ vịt ngớ ngẩn kêu “kháo kháo” ầm ĩ. Rồi đột nhiên thằng cao bồi chúi đầu xuống, chổng cái đuôi ngúc ngoắc lên trời, đôi chân bé bỏng quẫy lia lịa. Có lẽ mỏ vẫn còn hơi ngắn chưa chạm đáy hắn tức mình nghếch mỏ lên để thở rồi a lê hấp chúi luôn cả đầu lẫn mình xuống cạp luôn vào mấy hạt cơm. Trong chớp mắt nó lại nổi phềnh lên chép mỏ lép nhép có vẻ khoái chí. Mấy chú nhọ nồi thấy vậy cũng vội vàng bắt chước.Pít xin loạn xạ cả lên nom toàn những đít vịt! Chúng em reo ồn lên như chợ vỡ, mồm cu Tài oang oang cổ võ:

- À, mắm tôm. Giỏi, giỏi, đạp nó qua một bên coi nào!

Chả là chú vịt của tên Phượng làng chàng làm sao mà chúi luôn đầu vào chân thằng mắm tôm. Tên Phượng không vừa hét lạc cả giọng:

- Ê loang lổ, mày cho hắn một cú dội ngửa xem nào!

Trong lúc ấy ở đầu máng chú vịt “cù lần” của em đứng ngơ ngác nhìn thiên hạ đại loạn. Khi cơm dưới đáy hồ đã hết, lũ vịt giãn ra, lội lỉnh nghỉnh kiu kíu rầm rĩ. Thằng cù lần chả hiểu ngẫm nghĩ những gì đột nhiên hắn dướn cao cái thân hình bé bỏng, ngước mỏ lên trời, đôi cánh tí hon vỗ phành phạch (dĩ nhiên tiếng phành phạch là do em tưởng tượng ra…) rồi, hùng dũng lao mình rạch nước mà lặn đi như tên bắn. Y hệt một lực sĩ Thế vận hội đua đến đầu máng bên kia nó trồi dậy lấy đà rồi quay ngoắc lại mà lội về chỗ cũ.

- Hay! Hay! Bravo thằng cù lần!

Sáu cái miệng cùng hả ra mà cười mà hét. Không biết tự lúc nào chúng em đã tề tựu đủ mặt, không những thế, tiếng hò reo của chúng em đã lôi kéo được cả mợ nữa. Nhìn những khuôn mặt đỏ gay của chúng em mợ lắc đầu mắt long lanh sáng:

- Vịt với lại chả gà! Thật y như một lũ giặc con.

LÊ THỊ THÁI BÌNH 

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 207, ra ngày 15-8-1973)
Nụ hồng cho con - Tranh của ViVi

Mưa Ngâu - TÔN NỮ THU DUNG

1

- Đồ quỉ, cút đi, đi đi…

Tôi gấp quyển vạn vật, chắc lưỡi: Con bé Ngâu lại lên cơn rồi. Nhẹ nhàng, tôi đi qua phòng nó. Ngọn đèn ngủ nhỏ xíu in chiếc bóng nó trên tường. Thấy tôi, nó níu chặt:

- Tâm Duy, Tâm Duy… Ngâu sợ quá.

Tôi đẩy nó ngồi xuống nệm, dịu dàng:

- Có gì đáng sợ đâu, Ngâu?

- Nó đó, nó đến rủ Ngâu đi. Nhưng trời tối đen và lạnh quá. Ngâu sợ… Tâm Duy đuổi nó đi.

Tôi pha 1 muỗng Vitalegran dỗ con bé uống:

- Ừ, để Duy đuổi nó. Ngâu uống thuốc rồi ngủ đi nghe.

Con bé không chịu uống, cứ níu chặt vai tôi, run rẩy:

- Tâm Duy… nghe không, nghe không, nó gọi Ngâu ơi đó. Tâm Duy, đừng để Ngâu một mình.

Tôi gỡ tay con bé ra, an ủi:

- Làm gì có ai gọi đâu nào? Ngâu uống thuốc rồi nhắm mắt ngủ đi. Đó chỉ là tiếng gió và tiếng sóng, hôm nay biển động cơ mà.

Bàn tay Ngâu đưa ra nắm ly thuốc, nhưng còn chưa chịu uống, con bé đặt ly thuốc xuống bàn.

- Tâm Duy không sợ nó sao?

- Việc gì Duy phải sợ?

Đôi mắt con bé mở tròn, ngơ ngác:

- Sao hay vậy?

Tôi đáp bừa:

- Tại Tâm Duy ngoan, nó không dám đến.

- Ngâu cũng ngoan mà. Dì Madelaine vẫn cứ khen Ngâu.

- Nhưng đêm nay Ngâu không ngoan. Ngâu chẳng nghe lời Tâm Duy chi cả.

Con bé kề ly thuốc trên môi, còn cố nói:

- Ngâu uống thuốc rồi ngủ nó sẽ không tới gọi nữa phải không Duy?

Tôi gật đầu, buông màn cho con bé và sửa soạn về phòng. Con bé ngồi bật dậy, hỏi tôi:

- Duy đang học bài, phải không?

- Ừ, Duy đang học và sang đây. Thôi Ngâu ngủ để Tâm Duy về học tiếp.

Con bé hoảng hốt:

- Không, Duy đừng đi.

Tôi dỗ nó:

- Để Duy về học bài. Không có gì đáng sợ nữa đâu. Ngâu ngủ một giấc là quên hết đi ấy mà.

- Không, Ngâu sợ lắm. Duy ở đây với Ngâu đi.

- Duy không thuộc bài ngày mai ông thầy đánh thì sao?

Giọng con bé cương quyết:

- Duy nói hôm nọ rằng học lớp 12 ông thầy không đánh nữa cơ mà.

- Nhưng ổng bắt ra đứng cột cờ quê lắm.

- Thì thôi, Duy về học đi. Để nó đến bắt Ngâu đi cũng được.

Giọng dỗi hờn của con bé làm tôi chùng lòng:

- Ngủ đi Công Chúa. Duy sẽ ở lại, không bỏ đi đâu.

Con bé nhắm mắt và cười mãn nguyện…

Khuôn mặt ấy như chưa hề biết đến buồn đau. Những cơn khủng hoảng nhẹ nhàng, có khi trầm trọng đến rất thường tình nhưng các soeur không nỡ đưa nó qua viện thần kinh. Ở đó, nó sẽ tiếp xúc với những bệnh nhân mất trí và nó sẽ ra sao? Có thuyên giảm phần nào không hay càng thêm trầm kha, bất trị? Ông bác sĩ V. của tu viện thường nhắc nhủ dì Madelaine:

- Cô ấy chưa nặng nhưng chắc gì sẽ không nặng? Để cô ấy ở đây sẽ gây bận rộn, dì còn phải lo trăm chuyện khác.

Nhưng dì cương quyết:

- Nó chẳng làm rộn tôi gì cả! Vả lại ở đây nó được Tâm Duy giúp đỡ.

Bác sĩ V. nhăn mặt:

- Tâm Duy? Cô ấy là bác sĩ thần kinh sao?

- Không, Tâm Duy chỉ là bạn nó. Hơn nữa tuần nào cũng đưa nó qua viện tâm trí. Tôi nghĩ thế cũng đủ rồi.

Bác sĩ V. nhún vai:

- Có người điên nào cần bạn hơn cần bác sĩ không, soeur giám đốc?

Dì Madelaine thản nhiên:

- Ông dùng chữ hơi quá đấy, ông bác sĩ. Chúng tôi không muốn con bé tội nghiệp ấy bị đày ải bên viện thần kinh.

Bác sĩ V. bỏ đi tìm tôi, cố gắng thuyết phục để tôi khuyên dì Madelaine đưa con bé qua bên ấy.

- Cô Tâm Duy, năm nay thi mà cô không sợ mất thì giờ bởi cô Ngâu sao?

- Dạ có mất thì giờ gì đâu, bác sĩ?

- Cô phải khuyên dì Madelaine đưa cô ấy qua bệnh viện. Cô ấy cần nhiều bác sĩ theo dõi bệnh tình. Ở đây sao tiện.

- Tôi không dám có ý kiến. Toàn quyền là do dì Madelaine. Ông thuyết phục dì ấy tốt hơn.

Vị bác sĩ có vẻ giận, bỏ về. Ông lẩm bẩm: bộ điên hết cả rồi sao.

Tôi nhìn qua Ngâu đang ngủ say dưới tác dụng của hai muỗng thuốc an thần. Ngâu dễ thương lắm Ngâu ạ. Cả viện này không ai muốn đưa Ngâu qua bên ấy… những phòng nhốt chung tất cả bệnh nhân sao mà ghê rợn. Ai đành đem Ngâu qua gởi? Nếu ông bác sĩ có lung lạc được dì Madelaine thì Tâm Duy sẽ tranh đấu, sẽ giữ Ngâu lại dầu rằng có mất công đến đâu, dầu rằng nữa đêm phải thức dậy dỗ Ngâu uống thuốc, dầu rằng phải bỏ quên bài vở để qua canh giấc ngủ cho Ngâu.

Cô bé đã ngủ say, rất say. Tôi khẽ kéo tấm chăn lên tận cổ nó và tắt bớt ngọn đèn lớn. Rón rén ra khỏi phòng, tôi nhẹ nhàng khóa cửa. Dì Madelaine đã dặn tôi phải khóa cửa phòng đêm đêm, sợ Ngâu lên cơn sẽ gây ra nhiều đáng tiếc. Hành lang hun hút lạnh. Cả lầu hai, dãy A này chỉ còn tôi và Ngâu ở. Những người khác đã về nhà nghỉ lễ. Đáng lẽ tôi cũng về từ hôm kia. Nhưng lúc đang soạn valise thì mẹ nhất gọi lên:

- Đây thử thách cuối cùng của con trước khi xứng đáng mặc bộ áo dòng. Con phải ở lại trong lúc những người khác về nhà nghỉ lễ con có can đảm nhận không?

Tôi cũng nhỏ nhẹ thưa:

- Thật là bất ngờ nhưng con sẽ cố gắng.

Và tôi ở lại.

Tôi tựa người vào lan can nhìn bãi cát chạy dài ra đến nước ; sóng hung dữ bổ vào ghềnh. Trời đang mưa rắc hột. Mảnh trăng lưỡi liềm nhỏ treo ngang ngọn cây, ướt át rẩy run. Mưa mà cũng có trăng sao? Tôi hỏi nhỏ để không nghe tiếng ai đáp lại. chỉ có mình tôi – quạnh hiu…


2

Đêm bắt đầu với một cơn bão nhỏ. Tôi đóng kín tất cả những cửa sổ của phòng mình và phòng Ngâu rồi ngồi vào bàn học. Những bài toán khó càng lúc càng làm tôi lao đao. Gần ngày thi rồi, tôi vẫn lo âu nhắc nhở mình như thế. Đêm khuya, trước khi an giấc tôi vẫn thường cầu xin ơn trên cho mình sáng suốt chu toàn nhiệm vụ: nhiệm vụ của một học sinh và nhiệm vụ của một cô nhỏ tập tu. Bổn phận dường như quá nặng nề đối với một con nhỏ quen thói được cưng chìu trong một gia đình sung túc như tôi. Nhưng bằng mọi cách tôi phải cố gắng, phải cố gắng… những tiếng ấy vang luôn trong đầu óc. Tôi cắn răng, ngậm miệng để không ai nhìn thấy những bực dọc, những bất mãn ngấm ngầm tự đáy thâm tâm. Dưới mắt dì Madelaine tôi là con nhỏ dễ thương, ngoan ngoãn, hiền lành và được dì thương yêu hơn cả, vì tôi biết giữ gìn, che giấu… như vậy tôi đâu phải là một cô bé ngay thẳng – đức tính rất quý báu cần thiết cho cuộc sống tu trì.

Bão hình như đã dịu, tôi vào giường sau khi đã đọc xong một chuỗi kinh. Sóng vẫn còn lớn lắm, tôi nghe từng tiếng đập giận dữ vào bờ cát. Và tôi ngủ quên…

Nửa đêm, cơn bão lại đến, phũ phàng hung dữ. Điện đã bị cúp. Những tiếng sóng, tiếng gió làm tôi run sợ. Hình như có tiếng kêu bên phòng Ngâu. Con bé la hét chắc đã lâu nhưng tôi không nghe được. Tôi cuống cuồng bước khỏi giường mò mẫm tìm chiếc áo ấm và qua phòng nó. Hành lang hun hút gió, tối đen và ngập nước. Tôi men theo những cánh cửa phòng đi tới. Hình như nó đang đập rầm rầm vào một cánh cửa sổ nào đó. Tôi mở khóa và gọi nó:

- Ngâu đứng đâu đó Ngâu? Tâm Duy đây.

Mãi mãi Ngâu vẫn là một cô bé yếu đuối và đầy kinh hoàng trong những cơn khủng hoảng. Giọng nó lạc đi và tay lạnh ngắt nắm chặt tay tôi, run rẩy:

- Tối quá Duy ơi! Sao tối đen vậy?

- Điện cúp đó Ngâu, lên giường nằm đi, đứng đây làm gì?

- Ngâu không thích. Ngâu muốn xuống dưới kia…

Tôi gắt khẽ:

- Bộ điên sao? Bão mà đi đâu?

Chợt tôi im miệng, nó không điên là gì đây? Giọng Ngâu vẫn còn run:

- Nhưng nó gọi, chúng nó gọi…

- Gọi cái gì? Bộ Ngâu không sợ chúng nó nữa sao?

- Không, bây giờ nó là bạn. Không xuống nó không đến với Ngâu nữa, Duy ơi.

Tôi dìu nó đến giường:

- Chỉ có mình Tâm Duy là bạn Ngâu thôi. Ngủ đi Ngâu và đọc một Kinh Kính Mừng Ngâu nhé.

Tôi bắt đầu cho nó: Kính mừng Maria đầy ơn phước… tiếng đọc kinh đều đều như ru tôi giấc ngủ. Rồi nó im và tôi thiếp đi.


3

Buổi sáng, dì Madelaine thức dậy: không biết hôm qua bão lớn trên đó tụi nó ra sao. Dì quày quả bước lên lầu hai. Cửa phòng Tâm Duy mở toang nhưng không có con bé trong phòng, dì nghĩ chắc nó xuống cho cá ăn trước khi đi học. Dì tiến đến lan can nhìn xuống vườn hoa. Nhưng dì bàng hoàng dụi mắt. Đêm qua sóng đã cuốn phăng đi hàng rào kẽm gai mong manh, vườn hoa xơ xác tiêu điều quá. Và trời ơi! Ngâu đó, Ngâu với mái tóc dài và chiếc áo len đỏ tươi đang nằm mấp mé trên bậc thềm đi xuống bãi. Chung quanh, sóng khẽ vỗ về…

TÔN NỮ THU DUNG
(Nhà Trắng) 

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 226, ra ngày 1-9-1974)

Cũng Là Mùa Thu - Thơ TRẦN THỊ NGUYỆT MAI


Khi lá ngoài đường rụng đầy ngõ phố
và bầu trời như thấp xuống – nhiều mây –
mùa thu nào me âu yếm nắm tay
dẫn con gái nón nghiêng che đi học

Gió heo may len lén hôn lên tóc
em thẹn thùng nép dưới vạt áo dài
cô bé mang chiếc cặp nhỏ trên vai
và chợt nghĩ mình bây giờ đã lớn!

Con đường đi vương đầy sương buổi sớm
những bé như em chúng cũng đến trường
cơ hồ như một niềm vui ngát hương
đang ngự ở trong tim em bé bỏng

Ồ trường kia nơi em đang mong ngóng
tí nữa đây me sẽ dẫn em vào
chọn cho con ngồi ngay ở bàn đầu
“me muốn con đầu lớp luôn đó nhé!”

Rồi trống trường điểm lên ba tiếng nhẹ
cô giáo bước vào với áo hồng tươi
trên môi cô trang điểm những nụ cười
cô bé thấy thương cô làm sao lạ …

                        oOo

Và bây giờ khi mùa thu rụng lá
vẫn đến trường lòng vương chút bâng khuâng
cố ngăn đi giòng nước mắt bao lần
em vào lớp, ngôi vị chừ thay đổi

Vẫn bảng đen, vẫn phấn còn hương mới
nhưng bàn thầy – chỗ ngồi của em đây
mi mắt sao bỗng dưng lại cay cay
khi nhìn xuống bàn học trò xưa đó

Những em bé trước mặt là tập vở
còn thơm mùi giấy trắng thuở ban đầu
nắn nót từng hàng và viết từng câu
bài học mới cô giáo vừa giảng dạy

Những gương mặt ban đầu còn ái ngại
len lén nhìn xem cô giáo dữ hiền
(hành động xưa được lập lại y nguyên)
em bỗng nhớ ngày vàng son thơ ấu …

                                                              TRẦN THỊ NGUYỆT MAI

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 208, phát hành ngày 1-9-1973)

Đoàn du khách kỳ dị - THU AN

Hồi đó ở xa lắm, tuốt mãi phía sau các dãy núi cơ, có một quả trứng. Một quả trứng nhỏ xíu, trắng bóc, gần như trong suốt.

Quả trứng buồn lắm, nó muốn đi thăm các nơi khác.

Thế là nó lên đường, không thèm nghĩ tới gì nữa hết, nó lăn ra đây, nó lăn ra kia, nó đi trên các nẻo đường.

Nó lăn ra mãi như thế, cho đến lúc nó gặp một con vịt. Con vịt hỏi:

- Anh lăn đi đâu vậy hở anh bạn nhỏ?

Quả trứng trả lời:

- Tôi muốn đi ngắm cảnh vật.

Con vịt nói:

- Tôi cũng vậy.

Thế là chúng đi với nhau.

Quả trứng lăn, con vịt đi lạch bạch. Chúng đi như thế một lúc thì gặp một con gà trống.

Con gà hỏi:

- Các anh đi đâu vậy?

Con vịt trả lời:

- Chúng tôi muốn đi ngoạn cảnh.

Con gà nói:

- Tôi cũng vậy.

Và cả ba lại thẳng tiến, quả trứng lăn, con vịt bước lạch bạch và con gà đi nghênh ngang.

Cả ba đi một lúc thì gặp một con tôm hùm. Con tôm hùm hỏi chúng:

- Các anh đi đâu vậy?

Con gà trống trả lời:

- Chúng tôi muốn đi thăm thú các nơi.

Con tôm hùm nói:

- Tôi cũng vậy.

Quả trứng, con vịt và con gà trống đề nghị:

- Vậy thì cùng đi với chúng tôi đi.

Thế là chúng lại lên đường thẳng về phía trước mặt, quả trứng lăn, con vịt lạch bạch bước, con gà đi vênh váo và con tôm hùm đi giật lùi.

Bỗng nhiên trước mặt chúng hiện ra một cái dùi.

Quả trứng và con tôm ngạc nhiên hỏi:

- Cái gì thế này?

Một giọng nhỏ nhưng chói tai trả lời:

- Tôi là cái dùi của ông thợ giày.

Con vịt hỏi:

- Thế mày làm gì một mình ngoài đường vậy?

Cái dùi trả lời:

- Tôi muốn đi ngắm phong cảnh.

Quả trứng, con vịt, con gà trống và con tôm hùm nói:

- Cũng như bọn ta, tới cùng đi với bọn ta đi!

Thế là cả năm lại lên đường. Quả trứng lăn, con vịt lạch bạch, con gà vênh váo, con tôm đi giật lùi và cái dùi nhảy lộn nhào : pích cái mũi nhọn chấm xuống đất, pắc cái đầu tay cầm chấm xuống đất, pích cái mũi nhọn, pắc cái đầu tay cầm.

Một con bò ngừng nhai lại khi trông thấy cả bọn đi qua. Nó hỏi:

- Các anh đi đâu mà vui vẻ thế?

Chúng trả lời:

- Chúng tôi muốn đi ngắm cảnh.

Con bò nói:

- Tôi sẽ đi với các anh.

Và nó theo sau bọn kia.

Một con ngựa, ở đằng kia đi lại, gặp bọn chúng, bèn hỏi:

- Các anh đi đâu mà vui vẻ thế?

Con bò trả lời:

- Chúng tôi muốn đi ngoạn cảnh.

Con ngựa nói:

- Tôi đi với các anh.

Và nó đi bên cạnh con bò.

Tất cả cứ thế đi mãi, thẳng đằng trước mặt… quả trứng lăn đi, con vịt bước lạch bạch, con gà đi vênh váo, con tôm hùm giật lùi, cái dùi nhảy lộn nhào, con bò và con ngựa đi theo phía sau.

Đêm đã xuống.

Trước mặt chúng hiện ra một căn nhà. Đó là nhà của ba con chó sói, đã đi săn vắng.

Con ngựa đề nghị:

- Ta vào chăng?

Bọn kia trả lời:

- Ta đi vào.

Và mỗi con tìm thấy một góc tiện nghi cho riêng mình : quả trứng nằm ấm áp trong đống tro tàn, con vịt và con gà đậu trên bệ lò sưởi, con tôm hùm nằm dưới đáy một cái thùng gỗ đựng đầy nước, cái dùi cắm vào cái giẻ lau tay, con ngựa nằm giữa căn phòng và con bò nằm ngoài sân. Mệt nhọc vì đi nhiều nên chúng ngủ ngay và chẳng bao lâu là yên lặng hoàn toàn.

Nhưng ba con sói, chủ nhà, đang trên đường về.

Con già nhất, hít hít mấy cái đánh hơi, nói:

- Hừm, tôi cảm thấy có gì khác thường trong nhà ta…

Con thứ hai hỏi:

- Ai vô trước coi thử xem sao?

Con trẻ nhất, nhưng không biết sợ là gì, nói:

- Để tôi đi cho.

Và nó can đảm bước vào trước nhất. Nó đi thẳng đến cái lò sưởi để tìm quẹt, vì tối om không thấy gì hết.

Nhưng con gà và con vịt bắt đầu kêu cục tác, kêu cạc cạc và tệ hơn nữa, dùng mỏ mổ con sói.

Con sói hoảng sợ vì tiếng ồn ào đó bèn đi tìm tàn lửa trong cái lò sưởi, nhưng quả trứng nhảy ngay lên mặt nó, bôi đầy tro vào mặt con sói.

Mù cả mắt vì tro than, con sói chạy vội về thùng nước để rửa mặt, nhưng con tôm hùm liền kẹp lấy mũi nó.

Nó vội quơ lấy cái khăn lau tay, thì cái dùi đâm ngay vào chân trước của nó.

Hoảng vía, con sói đi giật lùi ra phía giữa phòng, nhưng con ngựa đá cho nó một cái văng ra giữa sân, lại rớt xuống ngay vào cặp sừng của con bò, con bò liền hất nó lên không trung.

Thế là con sói rống lên:

- Có quỉ ở trong nhà! Cái lò sưởi kêu ầm lên, tàn than nhảy vào mặt người ta, nước trong thùng biết kẹp, khăn lau tay biết đâm, sàn nhà biết đá và cái chĩa hất tung người lên không trung! Trốn đi mau các bạn ơi, trốn đi mau!

Và các con sói chạy trốn vào rừng.

Trong căn nhà yên tĩnh trở lại, cả bọn lại đi ngủ, và sáng hôm sau, chúng lại dậy sớm lên đường đi nữa.

Chúng đi ngắm cảnh núi sông.

THU AN kể 

(Trích tuần báo Thiếu Nhi số 104, ra ngày 24-8-1973)
Tranh bìa của Vi Vi : Lá Thu 

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

[LIVE] Mừng Tuổi Mẹ - Phương Mỹ Chi The Vocie Kids

[Full] Giọng Hát Việt Nhí Tập 10 - Vòng Liveshow 2 - Phương Mỹ Chi - Lòn...

Áo Mới Cà Mau - Phương Mỹ Chi The Voice Kids

Phương Mỹ Chi Liên khúc Sa mưa giông, Nhớ mẹ lý mồ côi Phương Mỹ Chi

[Full] Phương Mỹ Chi - Đêm Gành Hào Nghe Điệu Hoài Lang - The Voice Kids...

[Full] Phương Mỹ Chi ft Hiền Thục - LK Giấc Mơ Ngày Xưa - Ru Lại Câu Hò ...

TUỔI HOA số 148 ra ngày 01-03-1971

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Trăm Nhớ Nghìn Thương - LÊ THỊ THÁI BÌNH

I – CÔ THỤC

Hôm nay khai giảng, mình vào lớp Lục A. Tất cả học trò đều đứng lên chào. Có khuôn mặt đã bắt đầu vương nét tinh nghịch trẻ ranh, có khuôn mặt còn nguyên vẻ bỡ ngỡ nhát sợ. Mình cho chúng nó ngồi xuống.

Bắt đầu cho chép chương trình Quốc văn, xong là vụ khai lý lịch. Nói khai lý lịch cho oai, thực ra bắt chúng nó làm mấy cái việc điền tên điền tuổi vào các phiếu thông tin thế thôi. Xong, thời giờ còn dài, cô trò tha hồ mà hàn huyên tâm sự.

Chúng nó có vẻ lạ lùng vì chưa quen với việc tự đứng lên giới thiệu. Bàn đầu tiên năm đứa, có một đứa còn nhỏ xíu xiu.

- Thưa cô, em tên là Thái thị Yến. Dạ em sinh năm 1947. Dạ em ở với ba mẹ. Dạ em ở đường Hai Bà Trưng.

Vừa nói, mặt con bé vừa đỏ như gấc chín. À, hóa ra nó nhỏ con chứ sinh năm 47 thì đâu có bé bỏng gì. Bàn đầu dãy bên kia có một con bé khá ngộ nghĩnh: Tròn vo như hạt mít, mái tóc bù xù được cặp gọn ra sau mà khúc đuôi vẫn phồng lên như đuôi sóc, cặp mắt to, lông mi dài mà thưa, miệng nhỏ, có vẻ láu lỉnh ghê. Con nhỏ đứng lên nhanh nhẹn.

- Thưa cô, em tên là Lê Hương Mai, sinh năm 1947. Em ở với ba má ở đường Phan Đình Phùng.

Nói xong câu giới thiệu trơn tru, con bé ngồi xuống, khóe miệng tươi cười như thích chí. Hỏi thêm gần nửa lớp thì trống đánh thùng thùng báo hiệu ra về. Lũ học trò xôn xao đứng dậy, hướng những đôi mắt sáng ngời về phía mình. Tạ ơn Chúa, năm nay con đã được hướng dẫn một lớp khá dễ thương, con xin hiến dâng Chúa niên học mới này.

II – LÊ THỊ THÁI BÌNH

Em theo các bạn di chuyển lên lầu. Ngang qua hành lang văn phòng em dừng lại sửng sốt: có hai ba cô giáo đang từ từ tiến đến. Trong số, có một cô sao mà thấy dễ thương chi lạ! Cô mặc chiếc áo len màu xanh lá cây, chiếc áo dài vàng, mái tóc vừa đến gáy phồng ôm lấy khuôn mặt bầu bầu phúc hậu. Đôi mắt cô sao mà to, sao mà đen, sao mà dịu dàng đến thế. Chưa gì em đã thấy thương quá là thương.

Em bâng khuâng đi vào lớp. Tất cả mọi sự đều lạ lùng, từ bàn ghế cho đến những người từ nay em phải gọi là bạn hữu. Thôi nhé, giã từ Nha Trang quanh năm nắng ấm. Giã từ mái trường thân yêu với những nhỏ bạn nghịch như điên. Giã từ con đường ngày hai buổi đi về dưới tàng lá keo xanh mát… Biết có bao giờ em được về thăm lại nơi ấy?

Đang mơ màng nghĩ ngợi bỗng “loạt xoạt”, cả lớp đứng bật dậy chào giáo sư hướng dẫn. Em cũng uể oải đứng lên theo. Trời đất thiên địa quỷ thần ơi, em có mơ ngủ không đây… cô giáo dễ thương của em vừa bước vào lớp học. Mấy đứa bên cạnh xì xào: “cô Thục, cô Thục…” rồi cười tươi như hoa. Lòng em cũng êm dịu nhắc lại tên cô, cái tên nghe cũng hiền hòa như người vậy.

Cô lên tiếng… giọng hơi trầm, hơi khàn đục nhưng mà nghe ấm lạ thường:

- Chào các em. Các em ngồi xuống.

Em thấy vẻ hài lòng hiện rõ trên nét mặt tụi nhỏ, hình như đứa nào cũng thích được cô hướng dẫn. Mà cô như cũng yêu thích học trò, đưa cặp mắt tươi vui nhìn kỹ từng đứa. Trong lòng em chen vào một nỗi ghen tức vu vơ. Em hồi hộp dõi theo từng cử động nhỏ nhặt của cô, thấy cô làm gì cũng dễ mến quá chừng.

- Nào, bây giờ còn lại ít phút, cô trò mình làm quen nhau nhé! Các em tự giới thiệu “tiểu sử” cho cô nghe xem nào!

Cả lớp cười ồ. Đứa này đẩy đứa kia, cuối cùng cô cho nói theo thứ tự chỗ ngồi. Đến cái con nhỏ có mái tóc bù xù, mắt cô hơi thoáng vẻ tươi cười thích thú. Lòng em chợt nhói đau. Cái con nhỏ chi mà mái tóc như ổ quạ, ăn nói láu táu chả ra gì. Để đến phiên em, em sẽ…


Nhưng mất công hồi hộp! Mất công nhẩm đọc thuộc lòng từng lời giới thiệu… vì trống đã đánh rồi. Thùng… thùng… nước mắt em như muốn trào ra theo tiếng trống. Biết thế này thì khi nãy em đã tranh ngồi phía bên kia, miễn sao cho ánh mắt cô lướt qua là nhìn thấy em liền. Chỉ tại em nhát quá mà thôi.

Thế là giờ đây em chính thức trở thành nữ sinh trường Bùi thị Xuân. Ngôi trường khá đẹp, hai dãy nhà học song song ôm lấy căn nhà chơi nằm chính giữa, trông tựa như hình chữ H vậy. Có một điều ngộ là trường cái gì cũng đó, mái ngói đỏ, tường vôi đỏ và sân đất cũng màu đỏ nữa. Màu đỏ này ở Đàlạt nhìn đâu cũng thấy, ngay cái áo dài trắng mới may của em giờ cũng đã lấm tấm những vết bụi màu đỏ gạch.

Trường thì đẹp mà em thật buồn. Em thấy lẻ loi quá đi. Giờ ra chơi tụi nó xúm xít với nhau, chỉ có mình em thu chặt hai tay vào vạt áo lang thang ở sân cỏ sau trường. Gió lạnh, cũng lạnh như cõi lòng em.

Mải mơ mộng, em quên béng mất bài giảng văn chưa soạn. Vào lớp, trong khi các bạn lục đục lấy sách vở, em ngẩn ngơ cuống quýt. Chết chưa, bài học quốc văn đầu tiên, em chưa gì đã tỏ ra lười biếng. rồi cô Thục sẽ nghĩ sao đây? Một ý nghĩ thoáng qua đầu, em vội lấy quyển vở mới ra hí hoáy chép chép ghi ghi. Cô vào lớp lúc nào em cũng chả hay, cho đến khi nhỏ bạn bên cạnh khẽ đá vào chân em, em mới chợt thấy các bạn đã đứng lên chào cô đều tăm tắp. Cô cho tất cả ngồi xuống, em lại vội vàng chúi mũi vào quyển vở.

Em mới viết hết phần giải nghĩa thì cô đã đến kề bên:

- Bình, em đưa tôi xem bài soạn.

- Thưa cô… em đỏ mặt, tìm cớ nói quanh – Thưa cô, em để quên vở ở nhà.

- Thế em đang làm gì đây?

- Thưa cô, em gắng nhớ lại bài soạn, em chép vào vở khác ạ.

- Em về lấy vở soạn bài đến đây tôi xem!

- Thưa cô, nhà em xa lắm ạ.

- Nếu em quên soạn bài thì cứ nói thật. Tôi không thích học trò nói dối.

Sao cô lại biết là em nói dối? Em chớp nhanh mắt nghẹn ngào:

- Thưa cô, em… em nói thật ạ. Để mai em mang vở soạn bài đi cho cô xem.

- Thôi, không cần.

Cô đi sang bàn khác, khuôn mặt lạnh lùng. Em muốn òa lên khóc. Cô ơi, em chả muốn nói dối cô đâu, tại em sợ cô chê em, tại em thương cô quá đấy thôi. Bây giờ làm sao em còn dám thú ra cái tội nói dối nữa, cô sẽ coi em ra cái gì?

Lòng em chĩu nặng nỗi đớn đau. Đến giờ chơi em chỉ biết gục đầu trên bàn mà âm thầm khóc. Các bạn đều rủ nhau ra hết, khi ngửng mặt lên em bắt gặp đôi mắt mở to thương hại của con nhỏ “ổ quạ”. Em tức tối nhìn nó, nó vội vàng quay đi. Tao ghét cái mặt mày lắm nhỏ ạ, cô thương mày, cô ghét tao mà!

Bài luận đầu năm tiếp theo, cô cho đề: “Tả loài hoa mà em thích nhất”. Em cắn bút, tâm hồn rối loạn… lâu lâu lại liếc nhìn cô… thấy em nhìn lên, cô lạnh lùng đảo mắt sang phía khác. Lòng em nức nở: “cô ơi!”

III – LÊ HƯƠNG MAI

Năm nay lớp có thêm một con nhỏ chuyển trường từ Nha Trang đến. Con nhỏ chả có cái gì là dễ thương cả. Mái tóc xơ xác vàng hoe, dài ngang lưng, nước da thì đen cháy. Gầy nhom. Chỉ được đôi mắt, đôi mắt đen thật buồn.

Chả hiểu sao tự dưng em khoái con nhỏ, mà con nhỏ hình như lại ghét em ấy chứ. Tại bữa cô Thục la, con nhỏ khóc. Em tội nghiệp nhỏ quá, vì nhỏ không có bạn. Ở xa đến mà coi bộ lại kên kên nên chả ai ưa, đứa nào cũng xầm xì nói xấu. Nhỏ cũng nghinh cả em luôn nữa chứ, vậy mà em không giận nhỏ mới kỳ.

Em nhớ tháng trước phát ra bài luận văn tả bông hoa, con nhỏ được cô “chiếu cố” hơi kỹ. Cô đọc cả lớp nghe một câu văn bất ổn, nhỏ đứng lên mặt cúi gầm. Tự dưng lòng em xót xa, em thương nhỏ quá, sao tụi trong lớp lại có thể ác thế nhỉ, tụi nó cười khoái chí trong khi cô nhấn mạnh lỗi hành văn của nhỏ Thái Bình. Hứ, chắc đâu tụi nó đã hay ho gì?

Vậy mà tuần qua lớp xảy ra một biến cố trọng đại. Giờ phát bài luận thi lục cá nguyệt “Tả một người bạn tốt”, cô vào lớp với vẻ mặt nghiệm trọng khác thường:

- Các em, bài luận thi kỳ này có một sự bất ngờ. Cô rất ngạc nhiên khám phá ra một văn tài ẩn giấu trong lớp. Đó là em Lê thị Thái Bình.

Em quay xuống. Nhỏ Thái Bình ngẩng nhìn cô, trong đôi mắt đen tỏa ra một ánh vui mừng rạng rỡ ; nhưng nụ cười trên môi chưa kịp nở trọn, đã vội tắt đi vì câu hỏi của cô:

- Bài luận này em tự làm hay đã lấy ý ở đâu?

- Thưa cô em tự làm lấy ạ.

Chuyện này em đã biết rồi. Đầu đuôi tại nhỏ Ái cả. Bữa hôm sang cô chơi, cô cho xem bài luận nhất lớp, nhỏ Ái dám nói là giống một bài trong quyển Việt luận. Phần em, đọc xong em chỉ thấy là hay, văn trôi chảy mà ý tự nhiên thành thật. Dù nhỏ có lấy ý trong sách đi nữa em vẫn phục như thường, có điều tụi bạn ghen ghét thì sức mấy mà chịu khen.

Đang suy nghĩ thì em sực tỉnh, nghe lời cô nói tiếp:

- Nếu bài này em tự làm lấy thì tôi khen em là kẻ có tài.

Nhỏ Bình ngơ ngác nhìn cô, “dạ” nhỏ rồi ngồi xuống. Cô đọc bài luận, cả lớp xuýt xoa khen nhưng lại nhìn tác giả với đôi mắt đầy ác ý. Em tội nghiệp nhỏ quá, thế nào cũng phải đến làm quen mới được.

IV – LÊ THỊ THÁI BÌNH

Bây giờ thì em đã biết rồi. Em biết tại làm sao mà trước những cố gắng của em, cô vẫn cứ thờ ơ. Các bạn sao mà ác thế, nhưng nghĩ lại em biết rõ lý do. Chỉ vì em ở xa đến đây, không dưng đoạt ngay ngôi vị nhất quốc văn trong lớp, bảo sao mọi người không nghi ngờ ghét bỏ? Không, em sẽ không nản lòng đâu. Với lại, cũng vì em làm mất sự tín nhiệm nơi cô ngay trong giây phút tiếp xúc đầu tiên, nếu không chắc cô sẽ dành cho em đôi chút khoan hồng thương xót.

Dù sao em vẫn mừng vì đã thêm được một người bạn, ngộ một điều lại là đứa em ghét cay ghét đắng. Còn nhớ bữa nọ, trong giờ chơi em đang thơ thẩn một mình dưới gốc cây thông ở sân thể dục, nhỏ chạy đến cười cười:

- Bồ ơi, bồ lại đây tôi nói bồ nghe cái này.

Em còn đang ngạc nhiên, thì đôi mắt to của nhỏ đã chớp chớp:

- Bồ buồn lắm phải không?

Em lắc đầu, tự dưng thấy có một cục gì nghẹn ngang nơi cổ họng – nhỏ Mai – em biết thừa tên nó từ lâu – vội vàng nắm lấy tay em, kéo em ngồi xuống bên nó.

- Bồ làm luận hay thật!

- Nhưng… nhưng cô không tin tôi!

- Tại bồ còn lạ, với lại… với lại…

Nhỏ ngập ngừng, đôi mắt nhìn em đầy ý nghĩa. Em thì không hiểu tại sao mà nhỏ ngừng ngang đó. Em thủng thẳng tiếp lời, giọng đầy cay đắng:

- Mấy người trong lớp nói tôi… chép ở trong sách ra.

- Ủa, bồ cũng biết rồi à?

Im lặng một lát, nhỏ dịu giọng:

- Mà không có sao đâu. Kỳ sau bồ gắng lên, nếu bồ nhất thêm phen nữa thì thế nào tụi nó cũng nể. Mà… mà đừng có xưng tôi nghe kỳ lắm.

- Xưng gì bây giờ?

- Mày tao đại đi cho vui nhé. Tao là Hương Mai, mày là Thái Bình há. Mày thương cô Thục không?

Em đỏ mặt, kỳ quá, thương thì để trong bụng chứ ai lại bô bô om xòm cái miệng thế này. Nhỏ Mai vẫn hồn nhiên nói tiếp:

- Tao cũng thương cô Thục. Tụi mình kết làm chị em, nhất định trung thành với cô Thục nghe mày?

Lòng em chợt vui lên. Khuôn mặt trắng trẻo của Hương Mai coi dễ thương quá, tự nhiên em thò ngón tay trỏ ra ngoéo vào ngón tay nó vừa đưa ra.

Em có một người bạn, thật vui ; nhưng cuộc thử thách gay go chỉ mới bắt đầu. Trong giờ ghi điểm thi, cô Thục lặng lẽ đến bên cầm quyển học bạ của em coi chăm chú. Em tin chắc cô dò xem cột quốc văn. Em run lên vì một cảm giác buồn vui lẫn lộn… cô nghĩ sao nhỉ, hai kỳ điểm thi lục cá nguyệt năm ngoái em đều đứng nhất. Cô có tin em không? Cô có bớt ghét em không?

Em phải chờ thật lâu mới đến tuần làm bài luận kế tiếp. Em cắn bút đọc đề bài cô ghi trên bảng: “Hãy tả cảnh một buổi chiều ở thôn quê!”

Trong phút chốc, em tưởng như cái đầu nhỏ bé của em sắp nổ tung. Mặt em chắc là đỏ lắm, và tay em rịn ướt mồ hôi. Em tự nhủ: “Gắng lên, gắng lên. Một lần này nữa thôi, cô sẽ chịu tin mình!” Từ trên bàn giáo sư, cô lặng lẽ dõi mắt nhìn xuống lớp. Em lại cúi đầu xuống, tờ giấy làm bài ngay ngắn để trước mặt.

Mười lăm phút trôi qua, em vẫn nhắm mắt ngồi bất động. Khi mở mắt ra, em thấy cô đã đứng bên cạnh từ lúc nào. Như bị thúc đẩy bởi một sức mạnh phi thường em đặt bút viết lên trang giấy những hàng chữ đầu tiên:

“Phương tây… mặt trời lặn…

Thằng cu Tý nghiêng mình trên lưng trâu, lặng lẽ đưa mắt nhìn suốt cánh đồng rộng rãi… “ và cứ thế, những đám mây, ánh mặt trời, tiếng người gọi nhau, xen với những rung động nhẹ nhàng của lòng người trước cảnh ngày hấp hối, dần dần hiện rõ dưới ngòi bút của em. Chưa bao giờ em thấy mình say sưa với hứng cảm như thế, em như quên mất cô đứng cạnh, không hề dời đi một bước.

Khi em buông bút xuống, thở phào, thì bài luận dài hơn bốn trang giấy đã xong. Không một vết tẩy xóa, không một chữ viết nháp. Em như người vừa tỉnh ngủ, nhìn lại “tác phẩm” một cách hài lòng. Chưa bao giờ em thấy mình viết hay đến thế. Ngước nhìn lên, em bắt gặp ánh mắt ngạc nhiên êm đềm của cô. Chỉ trong giây phút mà sao lâu tựa cả giờ. Trước khi cô quay đi lên bàn giáo sư, em còn nhìn thấy khóe miệng cô như ẩn một nụ cười âu yếm.

Lòng em rộn lên niềm hạnh phúc vô biên.

LÊ THỊ THÁI BÌNH

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 206, ra ngày 1-8-1973)